1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế

13 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Nền Kinh Tế Độc Lập Tự Chủ Với Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 55,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bước vào thời đại phát triển toàn cầu hóa hiện nay, mọi quốc gia trên thế giới đều có sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, có quan hệ giao lưu với nhau vì vậy nước nào đóng cửa với thế giới là đi ngược lại xu thế của thời đại và khó tránh khỏi bị rơi vào lạc hậu, trái lại mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế mặc dù sẽ có những khó khăn, thách thức song đây là yêu cầu tất yếu để hướng tới sự phát triển của mỗi nước đất, mỗi quốc gia trên thế giới. Đứng trước yêu cầu ngày càng cấp bách đó, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra đường lối để xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế. Trong bối cảnh hiện nay, đặt vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là chính sách hoàn toàn đúng đắn và chính xác. Hai mặt đó có mối quan hệ biện chứng với nhau, bổ sung cho nhau nhằm phát triển nền kinh tế nước ta ngày càng vững mạnh theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến em viết bài tiểu luận này với mong muốn mọi người có một cách nhìn sâu sắc hơn, cặn kẽ hơn, toàn diện hơn về những nguy cơ thách thức cũng như thời cơ khi chúng ta tham gia vào quá trình hội nhập kết hợp với xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, và ảnh hưởng qua lại giữa việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế. Trong khuôn khổ hạn hẹp của một bài tiểu luận, em không thể trình bày tất cả các vấn đề liên quan đến việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế mà chỉ có thể đi sâu vào nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa chúng đồng thời vận dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến nhằm đưa ra những giải pháp, những kiến nghị góp phần hoàn thiện đường lối kinh tế độc lập tự chủ kết hợp với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.

Trang 1

Nhận làm bài thuê lý luận chính trị, khoa học xã hội & nhân văn giá rẻ sinh viên

Liên hệ Zalo: 0389632001

MỤC LỤC

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

Phần 2: NỘI DUNG 1

2.1 Một số vấn đề lý luận chung về mối liên hệ phổ biến 1

2.1.1 Tổng quan về phép duy vật biện chứng 1

2.1.2 Lý luận về nguyên lí mối liên hệ phổ biến của phép duy vật biện chứng 2

2.2 Thực tiễn quá trình hoàn thiện đường lối kinh tế độc lập tự chủ kết hợp với hội nhập kinh tế quốc tế vận dụng nguyên lí về mối liên hệ phổ biến ở Việt Nam hiện nay 5

2.2.1 Quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ vận dụng nguyên lí về mối liên hệ phổ biến 5

2.2.2 Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế vận dụng nguyên lí mối liên hệ phổ biến 7

2.3 Biện pháp hoàn thiện đường lối kinh tế độc lập tực chủ kết hợp với hội nhập kinh tế quốc tế vận dụng nguyên lý mối liên hệ phổ biến ở Việt Nam hiện nay 8

2.3.1 Biện pháp xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ 8

2.3.2 Biện pháp thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế 10

Phần 3: KẾT LUẬN 11

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 2

Phần 1: MỞ ĐẦU

Bước vào thời đại phát triển toàn cầu hóa hiện nay, mọi quốc gia trên thế giới đều có sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, có quan hệ giao lưu với nhau vì vậy nước nào đóng cửa với thế giới là đi ngược lại xu thế của thời đại và khó tránh khỏi bị rơi vào lạc hậu, trái lại mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế mặc dù sẽ có những khó khăn, thách thức song đây là yêu cầu tất yếu để hướng tới sự phát triển của mỗi nước đất, mỗi quốc gia trên thế giới

Đứng trước yêu cầu ngày càng cấp bách đó, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra đường lối để xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế Trong bối cảnh hiện nay, đặt vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là chính sách hoàn toàn đúng đắn và chính xác Hai mặt đó có mối quan hệ biện chứng với nhau, bổ sung cho nhau nhằm phát triển nền kinh tế nước

ta ngày càng vững mạnh theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trên cơ sở phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến em viết bài tiểu luận này với mong muốn mọi người có một cách nhìn sâu sắc hơn, cặn kẽ hơn, toàn diện hơn về những nguy cơ thách thức cũng như thời cơ khi chúng ta tham gia vào quá trình hội nhập kết hợp với xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, và ảnh hưởng qua lại giữa việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế

Trong khuôn khổ hạn hẹp của một bài tiểu luận, em không thể trình bày tất cả các vấn đề liên quan đến việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế mà chỉ có thể đi sâu vào nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa chúng đồng thời vận dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến nhằm đưa ra những giải pháp, những kiến nghị góp phần hoàn thiện đường lối kinh tế độc lập tự chủ kết hợp với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

Do sự hạn chế về kiến thức, trong quá trình thực hiện bài luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, kính mong quý thầy cô góp ý, giúp đỡ để bài làm của

em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

Phần 2: NỘI DUNG 2.1 Một số vấn đề lý luận chung về mối liên hệ phổ biến

2.1.1 Tổng quan về phép duy vật biện chứng

2 1.1.1 Khái niệm về phép duy vật biện chứng

Phép biện chứng duy vật được xem là “linh hồn sống”, là “cái quyết định” của chủ nghĩa Mác, bởi khi nghiên cứu các quy luật phát triển phổ biến của hiện thực khách quan và của nhận thức khoa học, phép biện chứng duy vật thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất của hoạt động nhận thức và thực tiễn Chức năng này thể hiện ở chỗ, con người dựa vào các nguyên lý, được cụ thể hóa bằng các cặp phạm trù và quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, để đề ra các nguyên tắc tương

ứng, định hướng hoạt động lý luận và thực tiễn của mình.

C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I Lênin không đưa ra một định nghĩa thống nhất nào

về phép biện chứng duy vật, mà trong các tác phẩm của các ông có nhiều định nghĩa khác nhau về phép biện chứng duy vật Trong tác phẩm Chống Đuyrinh, khi bàn về các quy luật, Ph.Ăngghen định nghĩa “phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học

về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy” Lênin định nghĩa “Phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết

về tính tương đối của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật chất luôn phát triển không ngừng”; khi bàn về cắc yếu tố của phép biện chứng, ông đưa ra định nghĩa, “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân cùa phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và một sự phát triển thêm”

2.1.1.2 Vai trò của phép duy vật biện chứng

Phép biện chứng duy vật đã kế thừa và phát triển phép biện chứng từ tự phát đến tự giác, tạo ra chức năng phương pháp luận chung nhất, giúp định hướng việc đề

ra các nguyên tắc tương ứng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn và là một hình thức tư duy hiệu quả quan trọng nhất đối với khoa học, bởi chỉ có nó mới có thể đem lại phương pháp giải thích những quá trình phát triển diễn ra trong thế giới, giải thích những mối quan hệ chung, những bước quá độ từ lĩnh vực nghiên cứu này sang lĩnh vực khác Thực tiễn cho thấy, hiện nay chúng ta đang vận dụng phép biện chứng vào công cuộc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế của thế giới

Đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng duy vật là trạng thái tồn tại có tính quy luật phổ biển nhất của sự vật, hiện tượng trong thế giới, vấn đề này thể hiện trong các câu hỏi: sự vật, hiện tượng quanh ta và cả bản thân ta tồn tại trong trạng thái liên

hệ qua lại, quy định, chuyển hóa lẫn nhau và luôn vận động, phát triển hay trong trạng thái tách rời, cô lập nhau và đứng im, không vận động, phát triển?… Để trả lời câu hỏi trên, phép biện chứng duy vật đã đưa ra nội dung gồm hai nguyên lý, sáu cặp phạm trù

và ba quy luật cơ bản

Trang 4

2.1.1.3 Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật

Thứ nhất là hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật:

- Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến; khẳng định rằng trong tự nhiên, xã hội và trong tư duy, không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại một cách riêng lẻ, cô lập tuyệt đối, mà trái lại chúng tồn tại trong sự liên hệ, ràng buộc, phụ thuộc, tác động, chuyển hóa lẫn nhau

- Nguyên lý về sự phát triển: khẳng định rằng mọi lĩnh vực trong thế giới đều nằm trong quá trình phát triển không ngừng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp,

từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện Mọi sự vật, hiện tượng luôn vận động, biến đổi không ngừng và về phương diện bản chất của mọi sự vận động, biến đổi của thế giới

có xu hướng phát triển Phát triển được coi là khuynh hướng chung, là khuynh hướng chủ đạo của thế giới

Thứ hai là ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật: có ý nghĩa phương pháp luận chỉ đạo mọi hoạt động của con người để thực hiện quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử cụ thể về phương diện vạch ra nguồn gốc, động lực, cách thứcvà xu hướng phát triển tiến lên của các sự vật, hiện tượng trong thế giới Bao gồm các quy luật sau:

- Quy luật đấu tranh thống nhất giữa các mặt đối lập

- Quy luật chuyển hóa từ những biến đổi về lượng dẫn tới những biến đổi về chất và ngược lại

- Quy luật phủ định của phủ định

Bên cạch ba quy luật cơ bản, nội dung của phép biện chứng duy vật còn bao gồm sáu cặp phạm trù cơ bản dưới đây:

- Cái riêng và cái chung

- Tất nhiên và ngẫu nhiên

- Nguyên nhân và kết quả

- Bản chất và hiện tượng

- Khả năng và hiện thực

- Nội dung và hình thức

Tóm lại, mỗi nguyên lý, phạm trù, quy luật của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng Vì vậy, chúng phải được vận dụng tổng hợp trong nhận thức khoa học thực tiễn cách mạng

2.1.2 Lý luận về nguyên lí mối liên hệ phổ biến của phép duy vật biện chứng 2.1.2.1 Khái niệm về mối liên hệ phổ biến

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về mối liên hệ phổ biến, trong đó phải kể đến các quan điểm sau:

Trang 5

Quan điểm siêu hình cho rằng: Các sự vật, sự việc, hiện tượng tồn tại tách rời

cô lập nhau, cái này bên cạnh cái kia, giữa chúng không có sự phụ thuộc liên hệ lẫn nhau Nếu có liên hệ thì chỉ là sự hời hợt bề ngoài Quan điểm trên xuất phát từ thế kỷ

17, 18, khi khoa học phát triển đã tách khỏi triết học, khi càng tách rời thì càng đạt nhiều thành tịu bấy nhiêu, và từ thói quen ấy đem vào triết học đã nhìn sự vật trong trạng thái tĩnh tại, tách rời cô lập Tuy nhiên quan điểm trên không được thừa nhận

Đối với quan điểm duy tâm về sự liên hệ thì cho rằng cơ sở của sự liên hệ tác động qua lại giữa các sự vật hiện tượng là ở lực lượng siêu tự nhiên hay là ở ý thức cảm giác con người Các sự vật hiện tượng liên hệ với nhau là không phải do bản thân

nó mà do ý niệm tuyệt đối Ý niệm tuyệt đối vận động thông qua các phạm trù, đến đỉnh cao thì tha hóa thành thế giới vật chất, thành các sự vật hiện tượng Như vậy, mối liên hệ của các sự vật hiện tượng bắt nguồn từ ý niệm tuyệt đối

Theo quan điểm duy vật biện chứng và là quan điểm được thừa nhận về cách giải thích về mối liên hệ phổ biến, khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ sự quy định, sự tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới Thế giới này là một chỉnh thể thống nhất các sự vật hiện tượng trên thế giới này liên hệ tác động, chuyển hóa nhau

Mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ, khẳng định rằng mối liên hệ là cái vốn có của tất thảy mọi sự vật hiện tượng trong thế giới, không loại trừ sự vật, hiện tượng nào, lĩnh vực nào Bên cạnh đó thì những mối liên hệ tồn tại

ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới

2.1.2.2 Nguyên lý mối liên hệ phổ biến

Triết học duy vật biện chứng khẳng định rằng liên hệ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng và giữa các sự vật, hiện tượng với nhau Liên hệ là một phạm trù triết học bao gồm tất cả các mối liên hệ trong tự nhiên, xã hội và trong tư duy Liên hệ dùng để chỉ sự tác động qua lại lẫn nhau Một sự vật hiện tượng bao gồm tất cả các mặt, các bộ phận vừa khác nhau, vừa độc lập với nhau lại vừa thống nhất với nhau, ràng buộc nhau để cùng nhau tạo nên một chỉnh thể sự vật, hiện tượng nhất định

Chẳng hạn trong thế giới động vật thì động vật hấp thụ khí O2 và nhả ra khí CO2, trong khi đó quá trình quang hợp của thực vật lại hấp thụ khí CO2 và nhả ra khí O2, hoặc trong buôn bán hàng hóa thương mại dịch vụ thì giữa cung và cầu có mối liên hệ với nhau Cụ thể giữa cung và cầu trên thị trường luôn luôn diễn ra quá trình tác động qua lại Cung và cầu quy định lẫn nhau; cung và cầu tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, chuyển hoá lẫn nhau, từ đó tạo nên quá trình vận động, phát triển không ngừng của cả cung và cầu Đó chính là những nội dung cơ bản khi phân tích về mối quan hệ biện chứng giữa cung và cầu

2.1.2.3 Đặc trưng nguyên lý mối liên hệ phổ biến

Trong phép duy vật biện chứng, nguyên lí về mối liên hệ phổ biến có những đặc trưng sau đây:

Trang 6

Thứ nhất, mối liên hệ phổ biến có tính phổ biến Các bộ phận, yếu tố và các khâu khác nhau bên trong tất cả các sự vật có mối liên hệ lẫn nhau Bên cạnh đó mọi thứ đều có mối liên hệ với mọi thứ khác xung quanh Không chỉ vậy tính phổ biến của mối liên hệ phổ biến thể hiện toàn bộ thế giới là một thể thống nhất có mối liên hệ lẫn nhau

Thứ hai, mối liên hệ phổ biến có tính khách quan Tính khách quan thể hiện sự

cố hữu của bản thân sự vật, không thể thay đổi bởi ý chí con người

Thứ ba, mối liên hệ phổ biến có tính đa dạng Từ các khía cạnh khác nhau, mối liên hệ phổ biến có thể được chia thành mối liên hệ phổ biến trực tiếp và mối liên hệ phổ biến gián tiếp, mối liên hệ phổ biến bản chất và mối liên hệ phổ biến hiện tượng, mối liên hệ phổ biến chủ yếu và mối liên hệ phổ biến thứ yếu, mối liên hệ phổ biến tất nhiên và mối liên hệ phổ biến ngẫu nhiên, mối liên hệ phổ biến bên trong và mối liên

hệ phổ biến bên ngoài Quan hệ nhân quả, mối liên hệ giữa tổng thể và bộ phận Những mối liên hệ phổ biến khác nhau có tác dụng khác nhau đến sự tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng

Thứ tư, mối liên hệ phổ biến có tính cụ thể và tính điều kiện thể hiện ở mối liên

hệ phổ biến là mối liên hệ giữa các sự vật cụ thể Mối liên hệ phổ biến của mọi vật đều phải dựa vào những điều kiện nhất định Tính chất và phương thức của các mối liên hệ phổ biến sẽ thay đổi theo sự thay đổi của điều kiện

2.1.2.4 Ý nghĩa phương pháp luận

Từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, trong nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn cần phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật, hiện tượng và trong

sự tác động qua lại giữa sự vật, hiện tượng đó với các sự vật, hiện tượng khác Chỉ trên

cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật, hiện tượng và xử lý có hiệu quả các vấn

đề của đời sống thực tiễn Như vậy, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, siêu hình trong nhận thức và thực tiễn

V.I.Lênin cho rằng: "Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và "quan hệ gián tiếp" của sự vật đó”

Từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, khi thực hiện quan điểm toàn diện thì đồng thời cũng cần phải kết hợp với quan điểm lịch sử - cụ thể

Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu trong việc nhận thức và xử lý các tình huống trong hoạt động thực tiễn cần phải xét đến những tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tình huống phải giải quyết khác nhau trong thực tiễn Phải xác định rõ vị trí, vai trò khác nhau của mỗi mối liên hệ cụ thể trong những tình huống cụ thể để từ đó có được những giải pháp đúng đắn và có hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn Như vậy, trong nhận thức, thực tiễn không những cần phải tránh và khắc phục quan điểm phiến diện, siêu hình mà còn phải tránh và khắc phục quan điểm chiết trung, ngụy biện

Trang 7

2.2 Thực tiễn quá trình hoàn thiện đường lối kinh tế độc lập tự chủ kết hợp với hội nhập kinh tế quốc tế vận dụng nguyên lí về mối liên hệ phổ biến ở Việt Nam hiện nay

2.2.1 Quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ vận dụng nguyên lí về mối liên hệ phổ biến

2.2.1.1 Thành tựu trong quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ

Trước hết, nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế không bị lệ thuộc, phụ thuộc vào nước khác, người khác hoặc vào một tổ chức kinh tế nào đó về đường lối, chính sách phát triển, không bị bất cứ quốc gia nào dùng những điều kiện kinh tế, tài chính, thương mại, viện trợ để áp đặt, khống chế, làm tổn hại chủ quyền quốc gia và lợi ích cơ bản của dân tộc

Bảo đảm độc lập tự chủ về kinh tế cũng có nghĩa là bảo đảm vững chắc định hướng xã hội chủ nghĩa và giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc trong công cuộc phát triển kinh tế, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Không phải chờ đến khi có trình độ phát triển cao mới đặt vấn đề giữ vững độc lập tự chủ, mà ngay

từ đầu, ngay bây giờ đã phải bảo đảm yêu cầu cơ bản về độc lập tự chủ, trước hết là về đường lối chính trị, các nguyên tắc cơ bản về phát triển kinh tế Đương nhiên, xây dựng kinh tế độc lập tự chủ là một quá trình lâu dài, đi từ thấp đến cao, ngày càng hoàn chỉnh, ngày càng bền vững

Qua quá trình vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, phép duy vật biện chứng trong

đó có nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn trong quá trình xây dựng đất nước:

Trước hết, mức tăng trưởng kinh tế cao, GDP tăng trung bình hàng năm liên tục tăng qua các năm, cụ thể sự phát triển ở các ngành như sau:

Nông nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng khá và toàn diện trên nhiều lĩnh vực Giá trị sản lượng toàn ngành tăng bình quân hàng năm 5,6% Trong đó nông nghiệp tăng 5,4%, thuỷ sản tăng 9,1%, lâm nghiệp tăng 2,1% trong số liệu năm 2020 Nổi bật nhất

là sản lượng lương thực tăng bình quân mỗi năm 1,1 triệu tấn Sản lượng lương thực năm 2020 đạt 54 triệu tấn, đa mức lương thực bình quân đầu người từ 494,9 kg năm

2015 lên trên 636 kg năm 2020 Việt Nam từ nước nhập khẩu lương thực hàng năm, trở thành nước xuất khẩu gạo thứ hai thế giới

Sản lượng của một số cây công nghiệp đã tăng khá cao, sản lượng thuỷ sản tăng bình quân cao cùng với sự phát triển của công nghiệp chế biến có tốc độ tăng trưởng khá và đã chiếm tới 70,6% giá trị toàn ngành công nghiệp năm 2020

Hoạt động xuất khẩu cũng có mức tăng trưởng nổi bật Tổng kim ngạch xuất khẩu 10 năm qua đã tăng bình quân hàng năm 18,2%, tăng gấp 5,3 lần so với năm

2015 Tốc độ tăng trưởng giá trị nhập khẩu bình quân hàng năm 10 năm qua là 17,5%

Trong nông nghiệp, cơ cấu cây trồng và vật nuôi được dịch chuyển theo hướng tăng tỷ trọng một số cây công nghiệp và ăn quả có tiềm năng xuất khẩu và sức cạnh

Trang 8

tranh quốc tế như cà phê, điều, chè, tiêu, rau quả, cao su , tốc độ phát triển chăn nuôi tăng nhanh hơn trồng trọt

Trong công nghiệp, các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao đã được xây đựng, nhiều ngành công nghiệp mới đã được hình thành như ô tô, xe máy, điện tử,…

Các ngành dịch vụ phát triển, đặc biệt là ngành bưu chính viễn thông, du lịch, thương mại,… đã nâng được tỷ trọng lên trên 40% GDP

Cơ cấu vùng kinh tế đã thay đổi theo hướng tập trung phát triển ba vùng trọng điểm: Hồ Chí Minh - Vũng Tàu, Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, Đà Nẵng - Quảng Ngãi, đồng thời đã dành sự quan tâm cần thiết tới những miền núi, vùng xa, vùng sâu, những xã nghèo

Cơ cấu vốn đầu tư phát triển đã chuyển từ ưu tiên phát triển công nghiệp nặng sang ưu tiên nhiều hơn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển kết cấu hạ tầng, các ngành xuất khẩu, các lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội

Các vấn đề xã hội bức xúc cũng đã có những chuyển biến tích cực Mức sống của dân cư cả thành thị và nông thôn nhìn chung đã được cải thiện một bước rõ rệt thể hiện trên các mặt: GDP theo đầu người: trong 10 năm qua đã tăng 1,8 lần, thu nhập bình quân mỗi người 1 tháng đã tăng 3,2 lần Số học sinh đi học các cấp học khác nhau

từ tiểu học đến đại học đã tăng khoảng 2,3 - 4,3 lần trong 10 năm qua; chỉ số phát triển con người được nâng lên

Trong tình hình hiện nay, dịch bệnh Covid diễn biến phức tạp, gây nhiều tổn hại đến nền kinh tế đất nước Tuy nhiên, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt, đứng đắn và sự vận dụng sáng suốt chủ nghĩa duy vật biện chứng vào thực tiễn đất nước Việt Nam của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế nước ta đang được giữ ở mức ổn định và dự kiến trong năm 2022 này, dịch bệnh sẽ được dập tắt để chúng ta trở lại cuộc sống bình thường

2.2.1.2 Khó khăn, thử thách trong quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, đất nước vẫn còn đó những khó khăn, hạn chế trong việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ Cơ bản nền kinh tế Việt Nam hiện nay lạc hậu về khoa học kỹ thuật nhiều năm so với các nước công nghiệp phát triển Sản xuất, xuất khẩu của ta chủ yếu gồm các nông, khoáng sản thô và các mặt hàng công nghiệp thứ cấp, khi sản xuất phải nhập khẩu máy và vật tư phụ tùng, nông nghiệp lệ thuộc vào phân bón, xăng dầu, thuốc sâu,…; công nghiệp lệ thuộc vào máy vật tư, linh kiện rời Các nông khoáng sản thô như gạo, cao su, cà phê, hàng thuỷ sản, than đá - dầu thô, và các mặt hàng thứ cấp khác: hàng may mặc và giầy dép là những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu Việt Nam vấp phải sự cạnh tranh rất mạnh của các nước kém mở mang khác, các hạn định quota nhập khẩu của nước ngoài, giá cả bấp bênh và

có khuynh hướng giảm, thị trường hạn chế Trong nhiều năm, gạo, cà phê, cao su, hàng may mặc của Việt Nam không xuất khẩu được hết trên thị trường thế giới, khiến cho giá sụt và làm giảm thu nhập của công nhân, nông dân trong các ngành liên quan Trong khi đó, nhập khẩu lại hướng về máy, các vật tư, linh kiện rời giá đắt và các hàng tiêu dùng cao cấp giá rất đắt

Trang 9

Hội nhập quốc tế giúp Việt Nam tranh thủ kỹ thuật, khoa học, vốn quốc tế Tuy nhiên các công ty nước ngoài chỉ đầu tư ở Việt Nam nếu họ có lợi Như vậy, chúng ta

ở trong thế yếu, chỉ có khả năng hạn chế họ bớt lợi mà thôi, nhưng nếu đầu tư mà chỉ thu được lợi ít, họ sẽ ngưng hay giới hạn lượng đầu tư Kinh nghiệm cho thấy, trong thập niên 90, những thiết bị được đầu tư ở Việt Nam, thường là những thiết bị cũ, thị phần các doanh nghiệp Việt Nam giảm nhanh trong khi thị phần các công ty có vốn nước ngoài tăng nhanh, nhiều công ty phía Việt Nam có phần hùn khoảng 30% nhờ phần đóng góp mặt bằng, nhà đất đã chuyển thành công ty có vốn nước ngoài 100% do nhiều lý do, trong số có lý do phía nước ngoài đề nghị tăng vốn nhưng bên Việt Nam không có khả năng đáp ứng

Những khó khăn, thách thức trên có khả năng đưa đến tình hình mất độc lập tự chủ kinh tế, tài chính, tiền tệ, gây ra tình cảnh lệ thuộc vào nước ngoài Đảng ta đã xác định là độc lập tự chủ kinh tế là nền tảng cơ bản bảo đảm sự bền vững của độc lập tự chủ về chính trị, do đó cần phải có biện pháp xây dựng nền kinh tế tự chủ và chủ động trong việc hội nhập vào kinh tế quốc tế

2.2.2 Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế vận dụng nguyên lí mối liên hệ phổ biến 2.2.2.1 Thành tựu hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta

Quá trình hội nhập với nền kinh tế quốc tế, mở rộng kinh tế đối ngoại thời gian qua đã mang lại cho chúng ta những kết quả quan trọng:

Chúng ta đã làm thất bại chính sách bao vây cấm vận, cô lập nước ta của các thế lực thù địch, tạo dựng được môi trường quốc tế, khu vực thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế nước ta trên chính trường và thương trường thế giới Không những chúng ta đã khắc phục được tình trạng khủng hoảng thị trường do Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới tan rã gây nên, mà còn mở rộng được thị trường xuất nhập khẩu

Bên cạnh đó, thu hút được một nguồn lớn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), bổ sung cho nguồn vốn trong nước, kết hợp nội lực với ngoại lực, tạo được những thành tựu kinh tế to lớn, quan trọng Chúng ta tranh thủ được nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) ngày càng lớn, đồng thời giảm đáng kể nợ nước ngoài

Chúng ta tiếp thu khoa học và công nghệ, kỹ năng quản lý, góp phần đào tạo một đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh năng động, sáng tạo Quá trình hội nhập vào nền kinh tế quốc tế đã tạo cơ hội để Việt Nam tiếp cận với những thành quả của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới Nhiều công nghệ và dây chuyền sản xuất hiện đại được sử dụng đã tạo nên bước phát triển mới trong các ngành sản xuất Đồng thời, thông qua các dự án liên doanh hợp tác với nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam tiếp nhận được nhiều kinh nghiệm quản lý tiên tiến

Từng bước đưa hoạt động của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế vào môi trường cạnh tranh, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng kinh tế đối ngoại, nhiều doanh nghiệp đã nỗ lực đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý, nâng cao năng suất và chất lượng, không ngừng vươn lên trong cạnh tranh để tồn tại và phát triển; khả năng

Trang 10

cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp đã được nâng lên; đã có hàng trăm doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn ISO-9000 Một tư duy mới, một nếp làm ăn mới, lấy hiệu quả sản xuất

và kinh doanh làm thước đo, một đội ngũ các nhà doanh nghiệp mới năng động, sáng tạo có kiến thức quản lý đang hình thành nhờ có sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin

2.2.2.2 Khó khăn, thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Tuy nhiên, qua quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta cũng bộc lộ nhiều hạn chế, khó khăn:

Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế đã được khẳng định trong nhiều nghị quyết của Đảng và văn kiện của Nhà nước và trên thực tế đã được thực hiện từng bước, nhưng nhận thức về nội dung, bước đi, lộ trình hội nhập còn giản đơn; các ngành, các cấp và khá đông cán bộ chưa nhận thức đầy đủ những thách thức và cơ hội để từ đó có

kế hoạch chủ động vươn lên vượt qua thách thức, nắm bắt thời cơ để phát triển; không

ít chủ trương, cơ chế, chính sách chậm được đổi mới cho phù hợp với yêu cầu hội nhập

Công tác hội nhập kinh tế quốc tế mới được triển khai chủ yếu ở các cơ quan Trung ương và một số thành phố lớn, sự tham gia của các ngành, các cấp, của các doanh nghiệp còn yếu và chưa đồng bộ Vì vậy, chưa tạo được sức mạnh tổng hợp cần thiết bảo đảm cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đạt hiệu quả cao

Môi trường kinh doanh ở nước ta tuy đã được cải thiện đáng kể song chưa thật thông thoáng: hệ thống luật pháp còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa đủ rõ ràng và nhất quán; kết cấu hạ tầng phát triển chậm; trong bộ máy hành chính còn nhiều biểu hiện của bệnh quan liêu và tệ tham nhũng, trình độ nghiệp vụ yếu kém, nguồn nhân lực chưa được đào tạo đến nơi đến chốn

2.3 Biện pháp hoàn thiện đường lối kinh tế độc lập tực chủ kết hợp với hội nhập kinh tế quốc tế vận dụng nguyên lý mối liên hệ phổ biến ở Việt Nam hiện nay 2.3.1 Biện pháp xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ

2.3.1.1 Mục tiêu

Nhằm phấn đấu xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong phát triển kinh tế thị trường và chủ động mở cửa hội nhập có hiệu quả với nền kinh tế thế giới; tích cực tham gia vào sự giao lưu, hợp tác, phân công lao động qốc tế, trên cơ sở phát huy tốt nhất nội lực, lợi thế so sánh của quốc gia để cạnh tranh có hiệu quả trên thương trường quốc tế

2.3.1.2 Biện pháp thực hiện

Thứ nhất, phát triển đường lối, chính sách độc lập tự chủ về phát triển kinh tế

xã hội theo định hướng Xã hội chủ nghĩa Kinh nghiệm phát triển của thế giới rất phong phú, có giá trị tham khảo đối với nước ta, song không thể áp dụng máy móc, rập khuôn, giáo điều mà cần tính tới điều kiện, hoàn cảnh cụ thể và lợi ích của đất nước Hơn nữa, nếu thiếu độc lập tự chủ về đường lối hoặc để phụ thuộc vào sự áp đặt đường

Ngày đăng: 27/05/2022, 22:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w