1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Học phần Tiếng việt cơ sở Đề tài Phân loại lỗi câu trong một số văn bản truyền thông

25 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 485,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂNKHOA NGOẠI NGỮ KINH TẾ ------TIỂU LUẬN Học phần: Tiếng việt cơ sở Đề tài: Phân loại lỗi câu trong một số văn bản truyền thông Họ và tên: Nguyễn Ngọc

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA NGOẠI NGỮ KINH TẾ

- -TIỂU LUẬN

Học phần: Tiếng việt cơ sở

Đề tài: Phân loại lỗi câu trong một số văn bản truyền thông

Họ và tên:

Nguyễn Ngọc Minh ChâuĐinh Thị Ngọc HuếDương Thu HàTrần Nguyệt HằngTrần Thị Cẩm Hà

Trang 2

MỤC LỤC

I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

III CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3

IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4

1.1 Đối tượng nghiên cứu 4

1.2 Phạm vi nghiên cứu 4

V CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

1 Cách tiếp cận 5

2 Phương pháp nghiên cứu 5

2.1 Phương pháp liệt kê 5

2.2 Phương pháp phân loại 5

2.3 Phương pháp phân tích 5

VI NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6

1.Khái quát về văn bản truyền thông và câu trong tiếng Việt 6

1.1 Khái quát về văn bản truyền thông 6

1.1.1 Định nghĩa về văn bản truyền thông 6

1.1.2 Tính chất của văn bản truyền thông 6

1.1.3 Các hình thức văn bản truyền thông hiện nay 6

1.2 Khái quát về câu trong tiếng Việt 7

1.2.1 Định nghĩa câu trong tiếng Việt 7

1.2.2 Phân loại câu 8

1.2.3 Cấu tạo 8

2 Phân loại các lỗi câu trong các văn bản truyền thông 9

2.1 Lỗi sai về hình thức 9

2.1.1 Lỗi thiếu thành phần nòng cốt 9

2.1.2 Lỗi sai về trật tự sắp xếp các thành phần 11

Trang 3

2.2 Lỗi sai về nội dung 13

2.2.1 Câu sai logic tư duy 13

2.2.2 Câu mơ hồ 14

2.2.3 Câu sai về quan hệ ngữ nghĩa giữa các bộ phận: 15

3 Hậu quả của việc dùng sai lỗi câu trong văn bản truyền thông 20

4 Biện pháp: 21

Trang 4

I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Ngày nay, việc xã hội phát triển không ngừng đã khiến cho nhu cầuđời sống con người ngày càng được nâng cao Khoa học kĩ thuật phát triển

đã thúc đẩy việc giao tiếp, kết nối và trao đổi thông tin của con người Đó

là lý do truyền thông được ra đời Truyền thông là quá trình trao đổi thôngtin, tương tác thông tin giữa hai hoặc nhiều người với nhau nhằm tăngcường sự hiểu biết, tác động tới tâm lý, tình cảm và nhận thức của ngườiđọc, người nghe

Một trong các hình thức thể hiện của truyền thông là thông qua cácvăn bản Văn bản truyền thông có tác dụng cung cấp thông tin, định hướng

dư luận, truyền tải nội dung, thông điệp đến người đọc Ngoài ra, văn bảntruyền thông còn đóng vai trò quan trọng trong việc định hình ngôn ngữđến độc giả

Tuy nhiên, trong thời đại bùng nổ công nghệ và thông tin như hiệnnay, sự xuất hiện của ngày càng nhiều các văn bản truyền thông, cùng với

đó là những lỗi sai trong việc dùng câu trong các văn bản đã tạo ra nhiềuảnh hưởng nghiêm trọng Những lỗi sai trong câu có thể dẫn đến hiểu lầmcho người đọc, và tạo ra những hậu quả đáng tiếc Chính vì thế, đề tài hômnay chúng tôi mang đến nhằm chỉ ra và phân tích các lỗi sai phổ biến trongmột số văn bản truyền thông hiện hành Từ đó nhằm góp phần truyền đạtnhững thông tin chính xác về cách dùng câu từ tiếng Việt sao cho đúng vàgiữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

1

Trang 5

II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu tìm hiểu xác định rõ các các lỗi câu thường gặp trongtiếng việt và khái niệm về văn bản truyền thông Từ đó phân loại các lỗicâu trong văn bản truyền thông

Nghiên cứu, tìm hiểu các lỗi câu trong văn bản truyền thông theocác phương diện khác nhau để người dùng có thể nhận thức được lỗi sai vàsửa chữa tránh lặp lại lỗi sai không đáng có Từ đó nâng cao khả năng sửdụng tiếng việt trong các văn bản truyền thông

Trong xã hội phát triển ngày nay, mọi người thường có xu hướng sửdụng ngôn ngữ một cách phóng khoáng và không chỉn chu, đặc biệt là trêncác phương tiện thông tin đại chúng Và hơn hết trẻ em hiện nay tiếp xúcvới các báo mạng rất sớm nên việc sử dụng câu từ sai trên các trang báo sẽảnh hưởng không tốt đến sự hình thành và phát triển ngôn ngữ của trẻ nhỏ.Tất cả những điều này vô tình sẽ làm mất dần sự trong sáng của Tiếng việt.Vậy nên chúng tôi tập trung nghiên cứu, phân loại rõ các loại lỗi câu trongcác văn bản truyền thông và tìm ra các giải pháp khắc phục những lỗi sai

đó

Trang 6

III CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

thông?

dung?

3

Trang 7

IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.1 Đối tượng nghiên cứu

Những lỗi sử dụng câu trong các văn bản truyền thông

1.2 Phạm vi nghiên cứu

Lỗi sai thường gặp trong phạm vi các trang báo mạng (Báo Phụ nữ,Báo Thanh niên, Báo Sinh viên, Báo Tuổi trẻ), nội dung đăng tải trên cáckênh truyền thông (Vietnamnet) ở Việt Nam

Trang 8

V CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Cách tiếp cận

Đi từ lý thuyết đến khảo sát nghiên cứu

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Phương pháp liệt kê

2.2 Phương pháp phân loại

2.3 Phương pháp phân tích

5

Trang 9

VI NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1.Khái quát về văn bản truyền thông và câu trong tiếng Việt

1.1 Khái quát về văn bản truyền thông

1.1.1 Định nghĩa về văn bản truyền thông

Văn bản truyền thông là phương tiện để ghi nhận, lưu trữ và truyềnđặt thông tin bằng ngôn ngữ viết được đăng tải trên các tạp chí, báo, cáctrang mạng xã hội

1.1.2 Tính chất của văn bản truyền thông

1.1.2.1 Tính chính xác

Văn bản truyền thông có tính chính xác cao, chỉ cần một lỗi sai nhỏnhất cũng có thể khiến người đọc khó hiểu hoặc hiểu sai thông tin, có thểgây ra những hậu quả xã hội nghiêm trọng

1.1.3 Các hình thức văn bản truyền thông hiện nay

1.1.3.1 Hình thức in ấn (Báo, Tạp chí)

Ra đời từ thế kỷ XVI, báo chí là phương tiện truyền thông đại chúng

vô cùng phổ biến, đặc biệt là trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay Cóthể nói đây là phương tiện thông tin nhanh nhất, hiệu quả nhất và có nhiều

Trang 10

độc giả nhất Ở nhiều quốc gia trên thế giới, người ta gọi báo chí là cơ quanquyền lực thứ tư - chỉ đứng sau “tam quyền” ( lập pháp, hành pháp và tưpháp) của bộ máy chính quyền Đây là kiểu quyền lực tạo ra từ công luận

xã hội, tôn vinh vai trò, sức mạnh của báo chí Báo chí tác động mạnh mẽđến mọi mặt đời sống của con người, đóng vai trò quan trọng trong tạođộng lực cho sự phát triển của xã hội Phương tiện truyền thông này truyềntải lượng thông tin lớn hàng ngày, người đọc có thể tiếp nhận thông tin, bắtchước, làm theo các trào lưu trên báo Chính vì vậy việc sử dụng ngôn từtrên báo chí cần được chú trọng chính xác, chuẩn mực

“Không thể cẩu thả trong việc sử dụng ngôn ngữ ở các ngành truyền

thông được Ngôn ngữ ở đây phải truyền tải được tin tức, ý kiến và tư tưởng tới nhân dân càng hữu hiệu càng tốt Cũng không thể hạ giá văn phạm Trình độ văn phạm của báo chí ít ra cũng phải cao bằng trình độ của độc giả có học thức, nếu không báo chí mất ngay sự kính trọng của quần chúng Sự chuẩn xác của ngôn ngữ làm sắc bén thêm ý nghĩa của các

sự kiện Vì thế sự kiện và sự chuẩn xác phải đi đôi với nhau” - Giáo sư John Hohenberg (Đại học báo chí Columbia) khẳng định.

Trang 11

1.2 Khái quát về câu trong tiếng Việt

1.2.1 Định nghĩa câu trong tiếng Việt

Câu là một tập hợp từ, ngữ kết hợp với nhau theo những quan

hệ cú pháp xác định, được tạo ra trong quá trình tư duy, giao tiếp, có giá trị thông báo, gắn liền với mục đích giao tiếp nhất định.

(Ngữ văn 9 tập 2 – Bài 3)

“Câu là đơn vị của ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bênngoài) tự lập và có ngữ điệu kết thúc, mang một tư tưởng tương đối trọnvẹn có kèm thái độ của người nói hoặc chỉ biểu thị thái độ của người nói,giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm với tư cách làđơn vị thông báo nhỏ nhất.”

(Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến - Cơ sở ngôn

ngữ học và tiếng việt - NXB Giáo dục 2005)

“Câu là đơn vị lớn nhất của mặt cấu trúc trong tổ chức ngữ pháp củamột ngôn ngữ, được làm thành từ một khúc đoạn ngôn ngữ tập trung chungquanh một vị tố, được dùng để biểu đạt một sự thể (hay một sự việc)

(Diệp Quang Ban - Ngữ pháp tiếng Việt - NXB Giáo dục 2005)

1.2.2 Phân loại câu

Trang 12

1.2.3.2 Thành phần phụ: Trạng ngữ, định ngữ, bổ ngữ

Trạng ngữ dùng để bổ sung nghĩa cho câu, chỉ thời gian, địa điểm,mục đích, phương tiện Trạng ngữ thường đứng đầu câu và ngăn cách vớichủ ngữ, vị ngữ bằng dấu phẩy

Định ngữ dùng để bổ sung ý nghĩa cho danh từ Định ngữ đứng trướcchỉ số lượng, khối lượng, định ngữ đứng sau chỉ đặc điểm, sử hữu

Bổ ngữ là thành phần phụ của câu, bổ sung ý nghĩa cho động từ, tính

từ trong câu Bổ ngữ phụ cho động từthêm các ý nghĩa về đối tượng, thờigian, nơi chốn, cách thức, Bổ ngữ phụ cho tính từ thêm các ý nghĩa vềđối tượng, mức độ, của tính chất Các bổ ngữ có thể đứng trước hoặcđứng sau động từ, tính từ

2 Phân loại các lỗi câu trong các văn bản truyền thông

2.1 Lỗi sai về hình thức

2.1.1 Lỗi thiếu thành phần nòng cốt

Các thành phần nòng cốt câu là những thành phần bắt buộc phải cómặt trong câu để đảm bảo cho câu độc lập về nội dung và hoàn chỉnh vềhình thức Một câu hoàn chỉnh về hình thức có nghĩa là nó đủ các thành tốcần thiết theo nguyên tắc ngữ pháp

2.1.1.1 Câu thiếu thành phần chủ ngữ

Là câu chỉ có thành phần vị ngữ hoặc có vị ngữ và các thành phần phụ của câu.

Ví dụ 1:

9

Trang 13

Theo nghệ sĩ Quyền Linh, Phước Sang, các nghệ sĩ Hồng Nga, NgọcGiàu, Hoài Linh, Tấn Beo, Việt Cường…là những người năng nổ nhấttrong các hoạt động từ thiện.

(Hành trình nhân ái mùa Vu Lan, trang 3, số 101, 2010)

Trong câu này, người đọc sẽ không hiểu ai là người năng nổ nhất bởithành phần “Theo nghệ sĩ Quyền Linh, Phước Sang, các nghệ sĩ Hồng Nga,Ngọc Giàu, Hoài Linh, Tấn Beo, Việt Cường…” là thành phần trạng ngữ.Người viết đã nhầm lẫn thành phần trạng ngữ là chủ ngữ khiến câu mơ hồ,không rõ nghĩa Cách sửa lại như sau: Nghệ sĩ Quyền Linh, Phước Sang,Hồng Nga, Ngọc Giàu, Hoài Linh, Tấn Beo, Việt Cường…là những ngườinăng nổ nhất trong các hoạt động từ thiện

Ví dụ 2:

Lo bánh sẽ bị ế

(Báo Sinh viên số 40 (3/20-10/10/2007) trang 9)

Trong câu này, người đọc sẽ không hiểu ai là người lo bánh bị ế bởingười viết đã viết thiếu mất chủ ngữ của câu Cách sửa là thêm chủ ngữcho câu, ví dụ: Nương lo bánh sẽ bị ế

Ví dụ 3:

Đá làm sao cho cứng với đơn vị anh hùng

(Báo Thể thao văn hóa số 140 (2007) trang 12)

Trong câu này, người đọc sẽ không hiểu ai là người đá bởi người viết

đã viết thiếu mất chủ ngữ của câu Cách sửa là thêm chủ ngữ cho câu, vídụ: Đội bóng đá làm sao cho cứng với đơn vị anh hùng

2.1.1.2 Câu thiếu thành phần vị ngữ

Là câu chỉ có thành phần chủ ngữ hoặc có chủ ngữ và các thành phần phụ của câu

Ví dụ 1:

Cuối cùng là giáo dục, nhiều em trong độ tuổi không được đếntrường

Trang 14

(Báo Sinh viên số 51 trang 2)

Trong câu này, người đọc sẽ không biết được trẻ em trong độ tuổinào không được đến trường, vì người viết đã viết thiếu một phần của chủngữ Cách sửa lại là “Cuối cùng là giáo dục, nhiều em trong độ tuổi đi họckhông được đến trường.”

2.1.1.3 Câu thiếu cả chủ ngữ và vị ngữ

Câu thiếu cả chủ ngữ lẫn vị ngữ do người viết thêm thành phần cócùng chức vụ ngữ pháp hoặc kéo dài trạng ngữ rồi nhầm tưởng đó là kếtcấu chủ vị

Ví dụ: Buổi sáng, mỗi lần đi qua hồ Tây

Câu văn trên chỉ có hai trạng ngữ chỉ thời gian chưa có nòng cốt câuhay thể hiện bất cứ nội dung nào

sáng, mỗi lần đi qua hồ Tây, tôi thường trông thấy rất nhiều người đứng tậpthể dục.”

2.1.1.4 Câu ghép thiếu vế câu

Câu ghép là loại câu gồm hai vế trở lên, mỗi vế tương đương mộtcâu đơn, nối trực tiếp với nhau hoặc nối với nhau bằng các hư từ, nhằmtrình bày những sự việc, tình cảm, cảm xúc hay ý kiến có liên quan mậtthiết với nhau Bình thường, việc bỏ sót một vế câu ghép rất dễ nhận ra nếu

đó là những câu ghép có các vế nối với nhau bằng các hư từ đặc biệt là cáccặp kết từ (tuy, nhưng, nếu thì, vì nên, )

Ví dụ: Sinh viên mỹ thuật nên thời gian biểu cũng khá thất thường,trong khi nhà ăn lại chỉ mở vào một già nhất định

(Báo sinh viên, số 44 (3/11-10/11/2004) trang 14)

Chỗ sai: Thiếu một vế câu ghép, có vế chỉ kết quả “nên” nhưngkhông có vế chỉ nguyên nhân

Cách chữa: Vì họ là sinh viên mỹ thuật nên thời gian biểu cũng kháthất thường, trong khi nhà ăn chỉ mở vào một giờ nhất định

11

Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)

Trang 15

Ví dụ 1:

Hôm qua, ngày 10/6, Quốc hội bắt đầu phiên chất vấn các thành viênChính phủ Một trong những vấn đề được các đại biểu thu hút sự quan tâmcủa nhiều đại biểu cũng như cử tri cả nước là công tác điều tiết, quản lý giá

cả đối với một số mặt hàng thời gian qua, trong đó nổi cộm là việc quản lýgiá thuốc và cơ chế điều hành giá xăng, dầu

(Từ diễn đàn Quốc hội…, trang 3, số 70, 2010)

Xét ví dụ 1, chúng ta thấy câu diễn đạt trùng lặp cụm từ “các đạibiểu”, “nhiều đại biểu” Bên cạnh đó, cách sắp xếp trật tự của các bổ ngữtrong câu không hợp lý Chúng tôi sửa lại như sau: Hôm qua, ngày 10/6,Quốc hội bắt đầu phiên chất vấn các thành viên Chính phủ Một trongnhững vấn đề thu hút được sự quan tâm của nhiều đại biểu cũng như cử tri

cả nước là công tác điều tiết, quản lý giá cả đối với một số mặt hàng thờigian qua, trong đó nổi cộm là việc quản lý giá thuốc và cơ chế điều hànhgiá xăng, dầu

Ví dụ 2:

Hoàn đã tăng hơn 4 lần Dường như những ai có nhu cầu mua nhà ở để cảmnhận được nỗi đau khổ của việc đồng Nhân dân tệ mất giá

Trang 16

(Khi đồng Nhân dân tệ lại “tăng ngoài, giảm trong”, trang 4, số 73,

2010)

Tác giả viết sai trật tự từ “nhà ở để” khiến người đọc khó nắm bắtnội dung Chúng tôi sửa lại: Điều đó có nghĩa là trong vòng 6 năm, giá trị

cầu mua nhà để ở cảm nhận được nỗi đau khổ của việc đồng Nhân dân tệmất giá

Ví dụ 3:

Nhiều nơi, cán bộ nói, thậm chí đã hứa nhiều lần, nhưng thực tế họlại không làm, có không hành động gì Đó cũng chính là lý do, kết quả thựchiện mục tiêu BĐG (bình đẳng giới) ở các địa phương thời gian qua khôngđồng đều

(“Phải tiến bộ thì mới bình đẳng”, trang 3, số 78, 2010)

Ví dụ này, trật tự từ trong câu không hợp lý, gây nhiều cách hiểukhác nhau, chúng tôi sửa lại như sau: Nhiều nơi, cán bộ nói, thậm chí đãhứa nhiều lần, nhưng thực tế họ lại không làm, không có hành động gì Đócũng chính là lý do, kết quả thực hiện mục tiêu BĐG (bình đẳng giới) ở cácđịa phương thời gian qua không đồng đều

Ví dụ 4:

Trước kia, năm nào cũng vậy, chuẩn bị mùa khai giảng ở vùng ĐồngTháp Mười cũng là bắt đầu mùa nước nổi, giao thông đi lại khó khăn

(Mùa tựu trường ở vùng Đồng Tháp Mười, trang 6, số 99, 2010)

Cũng tương tự những ví dụ trên, tác giả viết sai trật tự từ làm cách

diễn đạt trở nên vụng về, lủng củng Chúng tôi sửa lại như sau: Trước kia,

năm nào cũng vậy, chuẩn bị mùa khai giảng ở vùng Đồng Tháp Mười cũng

là lúc bắt đầu mùa nước nổi, giao thông đi lại khó khăn

13

Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)

Trang 17

2.2 Lỗi sai về nội dung

2.2.1 Câu sai logic tư duy

Câu sai logic tư duy là câu phản ánh không đúng thực tế khách quan,hoặc thể hiện sai quan hệ ngữ giữa các bộ phận cấu thành câu

Ví dụ 1:

Ngay sau khi bị tố cáo, cơ quan điều tra đã vào cuộc và có đủ chứng

cứ khởi tố Đạo về tội hiếp dâm

(Báo Thanh niên số 282 (9/11/2006) trang 2)

Cách chữa: Ngay sau khi nhận được đơn tố cáo, cơ quan điều tra đãvào cuộc và có đủ chứng cứ khởi tố Đạo về tội hiếp dâm

Ví dụ 2:

Lai Xá có ba người con, ở ba thời điểm khác nhau đều ngẫu nhiên

mà có liên quan đến Hồ Chủ Tịch

(Báo Thanh niên, số 298 (25/10/2006) trang 14)

Cách chữa: Trong số những người con của Lai Xá, có ba người mà ở

ba thời điểm khác nhau đều ngẫu nhiên có liên quan đến Hồ Chủ tịch

Trong tiếng Việt, hiện tượng mơ hồ xảy ra khá phổ biến vì tiếng Việt

là ngôn ngữ đơn lập, không biến đổi hình thái, việc hiểu nghĩa của câu còn

Trang 18

phụ thuộc vào sự ngắt đoạn của người tiếp nhận Bên cạnh đó còn có cácnguyên nhân ngoài ngôn ngữ như kĩ năng của người viết, sơ suất trong quátrình tư duy không kịp với xử lý vấn đề.

Ví dụ 1:

Ô tô sang giá hời đáng mua nhất sau 1/7

(Báo Vietnamnet.vn mục Kinh doanh (27/6/2016))

Cụm từ “ô tô sang giá hời” có thể được hiểu theo hai nghĩa khácnhau:

Sửa lại: Ô tô sang, giá hời đáng mua nhất sau 1/7

Ví dụ 2:

Người chồng cực giỏi hơn 21 tuổi của MC Thời sự 19h

(Báo Vietnamnet.vn mục Giải trí (28/6/2016))

Cụm từ “người chồng cực giỏi hơn 21 tuổi” có thể được hiểu theo 2nghĩa khác nhau:

Sửa lại: Người chồng cực giỏi hơn mình 21 tuổi của MC Thời sự19h

2.2.3 Câu sai về quan hệ ngữ nghĩa giữa các bộ phận:

2.2.3.1 Câu phản ánh sai hiện thực khách quan

Ví dụ 1:

Không trường điểm nào có sĩ số HS như “mơ ước” (chỉ 25 – 30HS/lớp) Chị Mai, PHHS lớp 1 ở Đà Nẵng cho biết, trường điểm nơi conchị đang theo học có sĩ số tới 55 HS Với số HS đông như vậy, không biếtcác cô giáo có đủ sức để…chăm các con không?

(“Khúc” vì trường điểm, tr6, số 73, 2010)

15

Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)

Ngày đăng: 27/05/2022, 21:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w