Với quá nhiều kiến thức được cô đọng trong những trang sách ấy, điều mà phần nào cũng dễ dàng làm nản lòng các độc giả, tuy nhiên với một nền tảng kiến thức sâu rộng trải dài từ lịch sử
Trang 12
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài: Hiện tượng tha hoá của con người, vấn đề giải phóng con người và sự vận dụng của sinh viên Mai
Thảo Phương
Hà Nội, ngày 2 tháng 4 năm 2022
Trang 23
MỤC LỤC
• LỜI NÓI ĐẦU ………4
• MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài……….7
2 Mục đích nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu đề tài……… 7
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ………8
4 Cấu trúc luận văn ……… 8
• NỘI DUNG Chương 1: Tổng quan……… 9
1 Giới thiệu chung……… 9
2 Thực trạng và đánh giá thực trạng……… 9
Chương 2: Tác động……….15
1 Dựa trên cơ sở lý thuyết……… 15
2 Ảnh hưởng thực tiễn……… 16
Chương 3: Đề xuất giải pháp……… 19
1 Yêu cầu về thái độ lao động trong thời đại mới……… 19
2 Một số phương hướng chung……… 19
3 Một số giải pháp cụ thể……… 21
Chương 4: Kết luận……… 23
• PHỤ LỤC Tài liệu tham khảo……… 24
Trang 34
LỜI NÓI ĐẦU
Bất cứ khi nào bạn có hứng thú tìm hiểu về lịch sử loài người, tôi rất vui lòng giới thiệu cho bạn cuốn “ Sapiens” của Yuval Harari bởi vì nếu “Sapiens” chỉ đơn thuần là một quyển sách đơn thuần hơn năm trăm trang về từng bước chuyển mình của con người qua 70.000 năm lịch sử thì sẽ là một bất ngờ lớn khi Bill Gates cũng như rất nhiều nhân vật có tiếng tăm khác khuyến khích chúng ta rằng mỗi người nên
có một quyển và sau khi đọc xong, ta nên ngồi lại với những người khác và bàn luận
về nó Với quá nhiều kiến thức được cô đọng trong những trang sách ấy, điều mà
phần nào cũng dễ dàng làm nản lòng các độc giả, tuy nhiên với một nền tảng kiến thức sâu rộng trải dài từ lịch sử thế giới, Trung cổ đến nhân học, triết học, tôn giáo
và cả sự liên quan đến sinh học đã phần nào giúp chúng ta, loài người tinh khôn, người hiện đại, “Sapiens” có thể biện luận và chứng minh cho những quan điểm riêng của mình về những cảnh tượng chung của thế giới: từ nạn phân biệt chủng tộc, đấu tranh cho nữ quyền cho đến bản chất của việc lần mò tìm kiếm hạnh phúc, mà tđi đầu là cuộc cách mạng nhận thức của nhân loại Ngay từ chương 1, tác giả đã đề cập đến một cuộc Cách mạng nhận thức, “nhận thức”, nghe thật cao cả, nhưng thật
ra, từ những ngày đầu sơ khai, con người đã, đang và sẽ luôn có những bước tiến vĩ đại trong nhận thức: Chuyển mình từ loài đi bằng bốn chân khom khom cái lưng, bộ não của chúng ta to lên, mạng lưới noron phát triển phức tạp, loài người lúc bấy giờ
đã tự lần mò phát hiện cách chế tác ra lửa, cùng nhau xây dựng nên một nền văn hoá biết “ăn chín uống sôi”, sưởi ấm khi giá rét hay tụ tập sống bầy đàn và phân hệ, tạo nên những những nền văn minh rất đỗi riêng biệt trên thế giới Với một nền tảng kiến thức tương đối, khả năng thích nghi, loài người lúc bấy giờ quyết định phiêu bạt giang hồ, rời bỏ Châu Phi đặt chân đến Châu Âu, Châu Á và đặc biệt là Đông Nam Á Trải qua biết bao nhiêu những thăng trầm lịch sử, cuộc sống con người ngày một tiến bộ hơn, văn minh hơn, đó chính là thành quả của sự cố gắng phấn đấu, vươn lên không ngừng của loài người
Là một cá thể bé nhỏ sống giữa xã hội hiện đại và rộng lớn này, tôi thật không có lời nào để có thể thể hiện hết được lòng biết ơn của mình đối với các thế
hệ đi trước đã khổ công xây dựng nên một thế giới như ngày nay Hay như trong cuốn “ Many lives, many times - Muôn kiếp nhân sinh” của Nguyên Phong có một câu thế này: “Tương lai của mỗi con người, mỗi tổ chức, mỗi quốc gia và cả hành tinh này sẽ ra sao trong giai đoạn sắp tới là tùy thuộc vào cách ứng xử, nhìn nhận và nhận thức của từng cá nhân, từng tổ chức, từng quốc gia Nếu muốn có một sự thay đổi toàn diện và tích cực, chúng ta cần khởi đầu bằng việc nhận thức, chuyển đổi tâm thức, lan tỏa yêu thương và chia sẻ sự hiểu biết từ mỗi người chúng ta trước.” Cuộc cách mạng nhận thức đã khiến giống loài chúng ta vượt trội hơn tất thảy những loài còn lại trên hành tinh này, vậy liệu có đáng lên án khi con người hay chính xác hơn là chúng ta đang dần trở nên tha hoá sau hàng ngàn năm gây dựng và phát triển
xã hội văn minh và hiện đại của tổ tiên chúng ta? Điều đó đã phần nào thôi thúc tôi chọn đề tài này để nghiên cứu qua cách nhìn của Triết học, đặc biệt là Triết học Mac-Lenin Nhìn chung do vẫn còn khá ít kinh nghiệm trong việc nghiên cứu một
Trang 45
chủ đề lớn như thế này, tôi mong độc giả không quá khắt khe trong câu chữ, nếu có bất kỳ câu hỏi hay bình luận gì, xin vui lòng liên hệ với tôi sớm nhất có thể
Trân trọng, Mai Thảo Phương
Trang 5kỳ trước rất nhiều Nhưng có bao giờ bạn tự hỏi rằng, có phải con người luôn luôn tiến lên phía trước, hay đó chỉ là bề nổi của một tảng băng chìm, rằng con người thực sự đang dần bị tha hoá trước sức mạnh của khoa học công nghệ và trí thông minh nhân tạo? Trăn trở trong lòng vì suy nghĩ về câu hỏi này chính là lý
do mà tôi chọn đề tài cho tiểu luận này, để khám phá về bản chất cuộc cách mạng nhận thức của loài người, về sự tha hoá và vấn đề giải phóng con người theo quan
niệm của Triết học Mac-Lenin
2 Mục đích nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu đề tài
Về mục đích nghiên cứu: Thế giới vẫn luôn tồn tại và vận động biến chuyển không ngừng từ thuở sơ khai đến tận ngày nay, có lẽ chưa bao giờ khoa học công nghệ lại có thể phát triển mạnh mẽ đến như vậy Con người chính là một nhân tố quan trọng nhất trong thế giới luôn luôn vận động ấy Được trang bị đầy đủ về mặt thể lực, nhận thức, đạo đức ngay từ những ngày bé, con người hầu như luôn luôn tồn tại trong môi trường đời sống đẩy đủ cả về mặt vật chất lẫn tinh thần, đây chính là tiền đề cho sự phát triển không ngừng nghỉ của nhân loại Tuy nhiên, khác với những gì chúng ta mong đợi, không phải bất kỳ cá nhân nào có đầy đủ những yếu tố đó cũng sẽ phát triển theo hướng tích cực và có những đóng góp có ý nghĩa cho xã hội Để tìm hiểu rõ về nghịch lý này, vì sao xã hội càng tiến bộ mà không phải tất cả con người trong xã hội ấy đều tiến bộ? Những vấn
đề này ảnh hưởng lớn đến khuynh hướng phát triển của xã hội, chính vì vậy cần
có cái nhìn sâu sắc hơn về hiện tượng này
Về đối tượng nghiên cứu: Con người, sự tha hoá và sự giải phóng ở con người
Về phạm vi nghiên cứu đề tài:
- Phạm vi không gian: Trong xã hội ngày nay, đặc biệt là ở Việt Nam
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện trong 1 tháng, từ ngày 1 tháng 3 năm 2022 đến 31 tháng 3 năm 2022
- Phạm vi nội dung: Trong nghiên cứu này, tôi quan tâm chủ yếu tới sự tha hoá và giải phóng của con người trong môi trường xã hội phát triển ngày nay hơn là con người trong môi trường lịch sử nói chung
Trang 68
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trong cuốn “ Mười hai học thuyết về bản tính con người” của Leslie Stevenson & David L Haberman & Peter Matthews Wright, tác giải đã đề cập tới việc liên kết lý thuyết với thực hành, tránh việc bỏ bê một lĩnh vực đến mức có thể biến những suy biện thuần tuý hàm lâm trừu tượng cũng như những kỹ năng hành động thành máy móc thực dụng, chính vì được quan niệm này dẫn lối, bản nghiên cứu về đề tài này được kỳ vọng có thể trở thành một cái nhìn về bản tính con người của riêng tôi và của chung các độc giả, nó có thể trở thành một “đơn thuốc” hoặc một “chẩn đoán” về một lối đi sai lầm, đưa con người trở lại với lý tưởng sống đúng đắn hay “ con người chúng ta phải sống ra sao” Tôi hy vọng, đề tài nghiên cứu này có thể mang đến cho mỗi cá nhân về ý nghĩa và mục đích sống đúng đắn, về điều chúng ta phải làm và gắng sức làm, điều ta được hy vọng thực hiện hoặc có thể trở thành; mang đến cho xã hội một viễn cảnh một ngày mai tươi sáng hơn, một sự thay đổi tích cực
4 Cấu trúc luận văn
Trong bản nghiên cứu về đề tài này, tôi chủ yếu trình bày trong bốn phần chính:
- Phần 1 là giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu, về bối cảnh siêu hình mà vấn đề đang tồn tại và về vị trí của con người trong bối cảnh đó
- Phần 2 bao gồm những lý thuyết, những nghiên cứu, cơ sở khoa học được nhìn qua góc nhìn Triết học kết hợp với những đánh giá về hiện trạng con người, xã hội con người và thân phận con người
- Phần 3 là những “chẩn đoán” và “đơn thuốc” cho những “nhược điểm” tiêu biểu trong hữu thể con người về những điều có thể kiến con người sống sai lệch, về bản chất của sự tha hoá và sự giải phóng con người trong xã hội
- Phần 4 khép lại nghiên cứu bằng những kết luận về đề tài khoa học nghiên cứu
Trang 79
NỘI DUNG
Chương 1: TỔNG QUAN
1 Giới thiệu chung
a) Khái niệm “tha hoá”:
Trong từ điển Tiếng Việt, không khó để có thể tra được nghĩa của từ “tha hoá” “ Tha hoá” có nghĩa là “trở nên khác đi, biến thành cái khác hoặc là mất phẩm chất” Theo quan niệm Triết học, “tha hoá” là một hiện tượng xã hội, xuất phát từ chính bản thân mỗi con người tiến đến cộng đồng, xã hội loài người; có thể được thấy rõ nhất khi được biểu hiện qua việc lao động bị tha hoá, cuối cùng dẫn đến một kết cục là con người mất dần tính loài, đánh mất chính mình, không thể tự chủ, dễ dàng bị chi phối, sẵn sàng bị nô dịch bởi chính con người và xã hội con người Nói tóm lại, “tha hoá” chính là một quá trình biến đối mang chiều hướng tiêu cực, khác đi so với bản chất ban đầu, khiến con người trở thành một phiên bản xấu hơn, không phù hợp với các chuẩn mực xã hội Ta có thể dễ dàng nhận thấy vấn đề con người ngày một bị”tha hoá” trước sức mạnh công nghệ mà
họ tạo ra không phải là một vấn đề mới được quan tâm, “con người bị tha hoá” đã
là một chủ đề được nhắc đến rất nhiều qua các tác phẩm văn học nước ta như văn học Nam Cao, Vũ Trọng Phụng hay Nguyễn Công Hoan, chính vì vậy, vấn đề này cũng không phải là một phạm trù nằm ngoài sự quan tâm của Triết học, hơn nữa, còn được đề cập nhiều trong lịch sử Triết học
b) Khái niệm “giải phóng”:
Về khái niệm “giải phóng”, có thể nói “giải phóng” là một khái niệm cơ bản khi chúng ta tìm hiểu về chủ nghĩa Marx lâu năm ở phương Tây, “giải phóng” trong từ điển Tiếng Việt là một động từ mang nghĩa là “làm cho tự do”,
“làm cho thoát khỏi tình trạng nô dịch hay chiếm đóng”; còn theo cách nhìn của các nhà Triết học, các triết gia quan niệm rằng “giải phóng” về mặt tư tưởng là nguồn động viên, là mục tiêu đầy sức thuyết phục để con người vươn tới một cuộc sống với, tốt đẹp hơn trước đây Tuy nhiên, trong những năm gần đây, đã có
sự hiểu biết không đầy đủ, hoặc sai lệch, thậm chí nghịch lý đối với khái niệm này
2 Thực trạng và đánh giá thực trạng
a) Thực trạng vấn đề “tha hoá”:
Bằng những cái nhìn khái quát về vấn đề vừa được trình bày ở trên, chúng
ta đã phần nào nhìn nhận được rằng chúng bấy lâu nay vẫn luôn tồn tại trong xã hội mà chúng ta đang sống Khái niệm về sự “tha hoá” có thể được tìm thấy bắt nguồn từ trong những đại diện của Triết học Pháp và Đức thời cận đại như Rút-
Trang 810
xô, Gớt hay Sin-lơ Trong Triết học Rút-xô (1712-1778), tha hoá là sự chuyển hoá những mối quan hệ xã hội, những hiện tượng xã hội thành cái đối nghịch với bản chất tự nhiên vốn có Trong thời gian Rút-xô nghiên cứu về vấn đề này, ông khẳng định bản chất con người là tự do, tuy thế, trong các xã hội từ trước đến giờ luôn luôn tồn tại sự bất công, chính vì vậy căn nguyên nguồn gốc của vấn đề này
là bản chất của sự phát triển xã hội và các hình thái xã hội C Mác cho rằng:
“Tha hoá là một hiện thực có thật, một hiện trạng thực tế trong xã hội và có cơ sở kinh tế của nó Chúng tôi đã xuất phát từ một sự kiện kinh tế - sự tha hoá của công nhân và của sản phẩm của công nhân Chúng tôi đã nêu lên khái niệm của cái thực tế này: lao động đã bị tha hoá Chúng tôi đã phân tích khái niệm đó Như thế đã là phân tích một sự kiện của kinh tế” Bên cạnh đó, theo quan điểm Triết học Mác-Lenin, thực chất của sự “tha hoá” là “quá trình con người đã trở thành không phải chính mình” Tha hóa với tồn tại với tư cách là “quan hệ kép” trong các mối quan hệ xã hội: Một mặt, đó là quan hệ của người lao động với chính lao động của mình và mặt khác, là quan hệ của hành vi lao động với sản phẩm lao động mà họ tạo ra Tư tưởng coi “tha hoá” là một loại quan hệ xã hội đã được Lenin đánh giá rất cao, cho rằng đây là một quan niệm hết sức đặc sắc và độc đáo, ông lý giải rằng: “Vì nó vạch rõ C.Mác đã tiến gần đến thế nào đến tư tưởng
cơ bản của toàn bộ “hệ thống” của ông, “sit venia verbo”, – tức là tư tưởng về những quan hệ sản xuất xã hội”
Chính vì bản chất “tha hoá” xuất hiện ở trong chính con người và xã hội loài người, tham khảo một số tư liệu liên quan, tôi có thể chỉ ra một số biểu hiện của “sự tha hoá” như sau:
- Lợi dụng giá trị lạm phát của đồng tiền để xác định các giá trị khác trong đời sống xã hội Có thể nói rằng đây là một “hiểm hoạ kinh tế thị trường” Khi mà con người ta có thể dùng tiền để mua bán mọi thứ thì phẩm giá cn người sẽ dễ dàng bị chà đạp một cách nghiêm trọng Tiền có nguy cơ trở thành lượng thống trị làm tha hoá con người, khi ma lực của đồng tiền càng lớn thì khả năng nó có thể phá hoại những mối quan hệ tinh thần, đạo đức giữa người với người ngày càng lớn “Sự lấn át của đồng tiền có sức vùi dập, bóp chết cả những gì thuộc về tinh thần và giá trị tinh thần”
- Sự giàu lên một cách nhanh chóng của một nhóm người này so với các nhóm người khác cũng có tác động mạnh đến môi trường đa nhân cách và văn hoá Hành vi kiếm tiền quá dễ dàng của một số người có thể dẫn đến việc thước
đo giá trị đạo đức bị đảo lộn từ trong mỗi gia đình đến ngoài xã hội Chúng chính
là nhân tố góp phần dẫn đến tình trạng tha hoá đạo đức ở một bộ phận người trong cộng đồng
- Hiện tượng tôn thờ giá trị của lợi ích vật chất là trên hết, điển hình như nhiều lĩnh vực xã hội trọng yếu càng ngày càng bị thương mại hoá như giáo dục,
y tế,… Việc thương mại được đẩy mạnh sẽ khiến chi phí cho cơ hội học tập, cơ hội được chăm sóc sức khoẻ của người nghèo càng ngày càng tăng cao Xã hội sẽ
Trang 9- Chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích cộng đồng
Vì quá mải mê vào giá trị của đồng tiền hay giá trị ảo của bản thân trước cái nhìn của cộng đồng mạng, không ít người đã bỏ qua giá trị văn hoá, đạo đức, nhân cách mà bất chấp làm những việc đáng lên án chỉ để đổi lấy giá trị vật chất phù
du, sự nổi tiếng hoặc sự quan tâm của cộng đồng mạng xã hội, điển hình như các hiện tượng mạng Phúc XO, Khá Bảnh,… đều có thể trở thành ví dụ về hiện tượng
“tha hoá” của con người khi những chuẩn mực đạo đức, lối sống của họ đã bị chi phối bởi những điều tiêu cực và trở nên lệch chuẩn
b) Thực trạng vấn đề “giải phóng con người”:
Về vấn đề “giải phóng con người”, với bản chất vốn có của sự phát triển cách mạng khoa học xã hội, học thuyết Mác về sự tự giải phóng của con người, của nhân loại không chỉ mang tính lịch sử mà còn mang ý giá trị của thời đại Giải phóng con người khỏi mọi sự khổ đau, đem lại cho con người một cuộc sống
tự do, hạnh phúc là ước mơ ngàn đời của nhân loại và cũng là mối quan tâm lớn nhất của các nhà tư tưởng ở mọi thời đại C Mác không chỉ cũng thuộc các nhà tư tưởng đó mà còn vượt lên trên họ, trở thành những nhà tư tưởng vĩ đại nhất mọi thời đại, người sáng lập học thuyết về sự tự giải phóng của chính bản thân mỗi người Năm 1844, trong Bản thảo kinh tế - triết học, ông đã phát hiện ra tính hai mặt của lao động và sở hữu tư nhân, từ đó ông khẳng định rằng chinhs sự tha hoá
Trang 10C Mác đã đi đến một kết luận quan trọng đầu tiên trong học thuyết về sự giải phóng con người của mình là: “Sở hữu tư nhân, nhất là sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa với tư cách kết quả của quá trình lao động bị tha hoá và trở thành nguyên nhân suy đến cùng, nguyên nhân chủ yếu và cơ bản nhất gây ra những tai hoạ khủng khiếp cho con người, làm tha hoá con người và do vậy, để giải phóng con người, cần phải xoá bỏ thứ sở hữu tư nhân đó.” Hiện nay, thế giới đã có nhiều đổi thay so với thời kỳ C.Mác, Ph.Ăngghen và cả thời kỳ V.I.Lênin, đặc biệt là hai sự kiện lớn nhất khiến người ta hoài nghi về tính đúng đắn của học thuyết giải phóng con người của C.Mác, đó là sự thích nghi của chủ nghĩa tư bản và sự sụp
đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu
Có phải chăng chủ nghĩa tư bản hiện đại đã thay đổi bản chất của nó, đã dần trở nên nhân đạo, nhân văn hơn? Câu trả lời tất nhiên là không! Ở trung tâm của chủ nghĩa tư bản hiện đại, ngày nay, như ở Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản, do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là do lợi ích có được từ những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại và trước sức ép từ những thành tựu giải phóng con người của chủ nghĩa xã hội, đã tiến hành hàng loạt sự điều chỉnh bao gồm chế độ sở hữu, đảm bảo công ăn việc làm và đời sống cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động So với thời kỳ của C.Mác, ở đây, đời sống vật chất, văn hoá của giai cấp công nhân đã được đảm bảo hơn, số người lao động trí óc ngày càng tăng, số người lao động chân tay giảm, khủng hoảng lớn như ở những năm 30 của thế kỷ XX ít xảy ra, nhà nước tư sản ngày càng có vai trò quan trọng trong điều tiết nền kinh tế…
Mặc dù vậy, vẫn có khá nhiều khía cạnh chúng ta phải xét đến, tiêu biểu là:
- Thứ nhất, những thay đổi và điều chỉnh trong chủ nghĩa tư bản thực chất vẫn không thay đổi bản chất của chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, có chăng đó chỉ là những biện pháp che đậy đi cái xấu xa, che đậy đi những mâu thuẫn giữa tư bản và lực lượng làm thuê, giữa giai cấp tư sản và toàn thể nhân dân lao động Do vậy, khát vọng nắm được ngày càng nhiều giá trị thặng dư của giai cấp tư sản luôn đồng nghĩa với việc giai cấp công nhân nói riêng, người làm thuê nói chung ngày càng bị bóc lột nặng nề hơn, dễ dàng bị tha hoá hơn Đây vẫn luôn luôn là quy luật tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản hiện đại Theo Ian Hunt – giám đốc Trung tâm Triết học ứng dụng của đại học tổng hợp Flinders Nam
Trang 1113
Australia đã từng phát biểu rằng: “Những luận điểm của C Mác về bản chất bóc lột của mối quan hệ giữa nhà tư bản sử dụng lao động và người lao động vẫn đúng cho đến ngày nay.” Và đáng buồn làm sao, “tỷ suất bóc lột giá trị thặng dư
đã không ngừng tăng lên, đạt mức không lồ là 500%”
- Thứ hai, những tiến bộ đáng kinh ngạc của khoa học và công nghệ hiện đại không thể giúp con người nói chung hay giai cấp công nhân nói riêng bớt đau khổ và thoát khỏi sự tha hoá Có một sự thật rằng những thành tưu to lớn của khoa học và công nghệ hiện đại chỉ phần nào giúp công nhân ở các nước tư bản phát triển có đủ điều kiện đầu tư cho những dây chuyền máy móc sản xuất hiện đại làm việc nhẹ nhàng hơn Sự phát triển như vũ bão của của công nghệ mới cũng đồng nghĩa với việc đào thải hình thức lao động tay chân và những người lao động gắn liền với hình thức lao động ấy Có lẽ do vậy mà hiện tượng thất nghiệp ở các nước đang phát triển vẫn là một vấn đề đáng lo ngại nhất là trong đại dịch, chiến tranh hay khủng khoảng kinh tế Mặt khác, trong xã hội tư bản, bản thân sự phát triển và thống trị của khoa học thời đại mới, những sản phẩm công nghệ cũng được xem là một loại hàng hoá, một công cụ để phục vụ lợi ích của tầng lớp thượng lưu Không khó để chứng minh rằng chúng sẽ sớm được sử dụng với mục đích phi nhân đạo, chống lại và giết hại con người, vũ khí hạt nhân,
vũ khí sinh học hay các dạng ma tuý tổng hợp,…là các ví dụ điển hình
- Thứ ba, thế giới không thể tránh khỏi vòng lặp khủng hoảng, và càng ngày
độ nghiêm trọng càng nâng cao, các cuộc chiến giữa người và người trong xã hội
tư bản càng ngày càng trở nên tàn khốc, tốc độ “tha hoá” ngày càng được đẩy cao, Chỉ tính riêng từ những năm 50 của thế kỷ XX đến nay đã có tới 5 cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới: 1957-1958; 1965-1967; 1973-1974; 1979-1982; 1990-1991, đó là còn chưa kể những cuộc khủng hoảng về năng lượng 1970, tài chính 1997… Những người phải chịu nhiều thiệt hại nhất từ những cuộc khủng khoảng này không ai khác chính là giai cấp công nhân lao động: họ sẽ thất nghiệp, bần cùng hoá, có lẽ sẽ không chết đói như thời trước đây nhưng cuộc sống sẽ lay lắt, tha hoá nhân cách, sống dưới sự bố thí của xã hội dưới cái tên vô cùng mĩ miều – “trợ cấp thất nghiệp”
người, là nhân tố cơ bản nhất khiến con người bất chấp hậu quả gây nên ô nhiễm môi trường sống hoặc giam hãm hàng triệu người phải sống trong cảnh nghèo đói, khốn cùng Không thể phủ nhận sức mê hoặc của đồng tiền, siêu lợi nhuận kếch xù từ việc buôn bán vũ khí, thứ chỉ đứng sau buôn bán chất gây nghiện, các tập đoàn quân sự đã sẵn sàng bỏ qua hoà bình thế giới, chủ chương ủng hộ chiến tranh để kích thích nhu cầu sử dụng vũ khí nhằm vơ vét lợi nhuận Lấy ví dụ như các cuộc chiến tranh gắn với lợi ích các tập đoàn tư bản mang hình thức sắc tộc, tông giáo ở Nam tư và Cônggo, chỉ tính riêng 4 cuộc chiến tranh do Mỹ và liên quân tiến hành trong vòng 12 năm, từ 1991 đến 2003, chiến tranh vùng Vịnh (1991), chiến tranh Côsôvô (1999), chiến tranh Afghanistan (2002), chiến tranh