trong nước và quốc tế; ii Phát triển khung nghiên cứu cho luận án; iii Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện TNXH tại các DN công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, trong đó bao gồm ki
Trang 11
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Vũ Thị Phương Lan
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu luận án 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3
4 Phương pháp nghiên cứu của luận án 3
5 Tính mới của luận án 4
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 4
7 Cơ cấu của luận án 5
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP 6
1.1 Các nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 6
1.1.1 Tình hình nghiên cứu quốc tế 6
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 9
1.2 Các nghiên cứu về thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với người lao động 13
1.2.1 Tình hình nghiên cứu quốc tế 13
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 14
1.3 Các nghiên cứu về thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với môi trường 15
1.3.1 Tình hình nghiên cứu quốc tế 15
1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 17
1.4 Các nghiên cứu về thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với phát triển bền vững 19
1.4.1 Tình hình nghiên cứu quốc tế 19
1.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 26
1.5 Khoảng trống và hướng nghiên cứu của luận án 27
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 28
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP VÀ KHUNG NGHIÊN CỨU 29
2.1 Cơ sở lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 29
2.1.1 Nguồn gốc, khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 29
2.1.2 Nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 34
2.1.3 Vai trò của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp với phát triển bền vững 37
2.1.4 Các lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 40
Trang 52.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp 48
2.2 Các tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 51
2.2.1 Các tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội với người lao động 51
2.2.2 Các tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội với môi trường 55
2.3 Khung nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu định lượng nhằm kiểm định mối quan hệ tác động giữa thực hiện trách nhiệm xã hội với hiệu quả tài chính của doanh nghiệp 57
2.3.1 Khung nghiên cứu 57
2.3.2.Thiết kế nghiên cứu định lượng nhằm kiểm định mối quan hệ tác động giữa thực hiện trách nhiệm xã hội với hiệu quả tài chính của doanh nghiệp 60
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 76
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 77
3.1 Khái quát về tỉnh Phú Thọ và các doanh nghiệp công nghiệp 77
3.1.1 Khái quát về tỉnh Phú Thọ 77
3.1.2 Khái quát về doanh nghiệp công nghiệp 78
3.2 Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 80
3.2.1 Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với người lao động 80
3.2.2 Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với môi trường 93
3.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 98
3.3 Kết quả nghiên cứu định lượng nhằm kiểm định mối quan hệ tác động giữa thực hiện trách nhiệm xã hội với hiệu quả tài chính của doanh nghiệp 100
3.3.1 Thống kê mô tả mẫu khảo sát 100
3.3.2 Kiểm định độ tin cậy của thang đo 102
3.3.3 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 104
3.3.4 Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 105
3.4 Kết quả thực hiện trách nhiệm xã hội vào doanh nghiệp 115
3.4.1 Kết quả thực hiện trách nhiệm xã hội với phát triển kinh tế của doanh nghiệp 116
3.4.2 Kết quả thực hiện trách nhiệm xã hội với phát triển xã hội 119
3.4.3 Kết quả thực hiện trách nhiệm xã hội với các vấn đề môi trường 119
3.5 Những thành công, hạn chế và nguyên nhân trong thực hiện trách nhiệm xã hội 120
3.5.1 Những thành công 120
3.5.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 123
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 126
CHƯƠNG 4 KIẾN NGHỊ, KHUYẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 127
Trang 64.1 Kiến nghị, khuyến nghị 127
4.1.1 Cơ sở xây dựng kiến nghị khuyến nghị 127
4.1.2 Khuyến nghị đối với doanh nghiệp và người lao động 131
4.1.3 Kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước 135
4.2 Kết luận 138
4.2.1 Đóng góp của luận án 138
4.2.2 Hạn chế của luận án 139
4.2.3 Hướng nghiên cứu của luận án 140
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 141
PHỤ LỤC 152
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ISO International Organization for Standardization
ROA Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản
ROE Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
ROS Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Mô hình tháp trách nhiệm xã hội của Archie Carroll 7
Hình 2.1: Khung nghiên cứu 60
Hình 2.2: Mô hình nghiên cứu 60
Hình 2.3: Quy trình nghiên cứu 69
Hình 3.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện trách nhiệm xã hội 99
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Bảng xếp hạng các tỉnh có chỉ số ô nhiễm chung cao nhất cả nước 18
Bảng 1.2 Bảng xếp hạng các tỉnh có chỉ số ô nhiễm nước cao nhất cả nước 18
Bảng 2.1: Khái niệm TNXHDN theo thời gian 32
Bảng 2.2: Các chủ đề cốt lõi và nội dung trách nhiệm xã hội trong ISO 26000 52
Bảng 2.3: Tổng hợp biến quan sát trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 61
Bảng 2.4 Thang đo các biến thực hiện TNXH với người lao động trong mô hình nghiên cứu định lượng 63
Bảng 2.5 Thang đo các biến thực hiện TNXH với môi trường trong mô hình nghiên cứu định lượng 65
Bảng 2.6 Thang đo hiệu quả tài chính của doanh nghiệp trong mô hình nghiên cứu định lượng 66
Bảng 2.7 Thang đo thực hiện TNXHDN với người lao động 66
(dùng để khảo sát người lao động) 66
Bảng 2.8 Thang đo thực hiện TNXHDN với môi trường 68
(dùng cho khảo sát cộng đồng) 68
Bảng 3.1: Tổng số doanh nghiệp đang hoạt động tại thời điểm 31/12 hàng năm phân theo ngành kinh tế 79
Bảng 3.2: Tổng số doanh nghiệp công nghiệp đang hoạt động tại thời điểm 31/12 hàng năm phân theo ngành kinh tế 79
Bảng 3.3: Tổng hợp kết quả khảo sát về khái niệm và nội hàm TNXH 85
Bảng 3.4: Thực hiện TNXH với người lao động theo hình thức pháp lý 86
Bảng 3.5: Thực hiện TNXH với người lao động theo ngành nghề kinh doanh 86
Bảng 3.6: Thực hiện TNXH với người lao động theo quy mô 87
Bảng 3.7: Thực hiện TNXH với người lao động theo tình trạng niêm yết 88
Bảng 3.8: Tổng hợp kết quả khảo sát lãnh đạo DN và người lao động về thực hiện TNXH với người lao động 88
Bảng 3.9: Thực hiện TNXH với môi trường theo hình thức pháp lý 94
Bảng 3.10: Thực hiện TNXH với môi trường theo ngành nghề kinh doanh 95
Bảng 3.11: Thực hiện TNXH với môi trường theo quy mô 95
Bảng 3.12: Thực hiện TNXH với môi trường theo tình trạng niêm yết 96
Bảng 3.13: Cơ cấu mẫu khảo sát lãnh đạo doanh nghiệp 101
Trang 10Bảng 3.14 Đánh giá độ tin cậy của thang đo các nhân tố thực hiện trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp với người lao động và môi trường 103
ảng 3.15: Kiểm định KMO và Bartlett 104
Bảng 3.16: Hệ số hồi quy 105
Bảng 3.17: Hệ số hồi quy 107
Bảng 3.18: Tác động của thực hiện TNXHDN với người lao động và môi trường đến ROA theo số năm hoạt động 108
Bảng 3.19: Tác động của thực hiện TNXHDN với người lao động và môi trường đến ROA theo quy mô doanh nghiệp 110
Bảng 3.20: Tác động của thực hiện TNXHDN với người lao động và môi trường đến ROE theo số năm hoạt động 112
Bảng 3.21: Tác động của thực hiện TNXHDN với người lao động và môi trường đến ROE theo quy mô doanh nghiệp 114
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (TNXHDN) là một khái niệm không còn xa lạ với các nước trên thế giới, tuy nhiên khái niệm này mới xuất hiện ở Việt Nam những năm gần đây qua quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế quốc tế mở ra các cơ hội về tiếp cận thị trường và phát triển, bên cạnh những cơ hội
là những thách thức cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài bởi họ có lợi thế
về trình độ công nghệ, về vốn và các nguồn lực khác Tuy nhiên, cơ hội tiếp cận thị trường là không dễ dàng bởi những hàng rào phi thuế hướng đến việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng và bảo hộ doanh nghiệp ở mỗi quốc gia TNXH từ một điều kiện thiện nguyện, đã trở thành một ràng buộc quyết định, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận thị trường cao cấp của doanh nghiệp
Muốn khai thác được thị trường, các doanh nghiệp phải thấy được sự cần thiết xác định cho mình một chiến lược thực hiện TNXH để có thể nâng cao năng suất lao động, gia tăng lòng trung thành của nhân viên, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững doanh nghiệp Tuy nhiên, các vấn đề này còn mới và tự bản thân mỗi
DN còn thiếu kinh nghiệm trong việc tạo lập cho mình một chiến lược về TNXH giống như các chiến lược kinh doanh khác của mình Yếu tố quan trọng nhất là thiếu những chuyên gia am hiểu về TNXH trong lĩnh vực, ngành nghề và thiếu hành lang pháp lý quy định, khuyến khích doanh nghiệp thực thi TNXH, cũng như giải quyết những xung đột với các quy định khác Đặc biệt, thiếu kiến thức về khái niệm, nội hàm, lợi ích khi các DN thực hiện TNXH
TNXHDN không phải là vấn đề mới nhưng cho đến nay khái niệm này vẫn giữ nguyên tính hấp dẫn đối với DN, nhà đầu tư, người tiêu dùng và toàn xã hội Doanh nghiệp muốn phát triển bền vững luôn phải tuân thủ các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường, bình đẳng về giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên và phát triển cộng đồng Dù có nhiều cách giải thích khác nhau nhưng trong nhiều năm qua, càng nhiều DN nhận ra lợi ích kinh tế
từ thực hiện các chính sách TNXH mang lại và họ đã sử dụng TNXH như một hướng kinh doanh mới khi nhận ra rằng đó là công cụ có thể giúp nâng cao vai trò của nhà quản trị, cải thiện tình hình tài chính, nâng cao động cơ làm việc của các nhân viên, đẩy mạnh lòng trung thành của khách hàng cùng danh tiếng công ty đối
Trang 12với xã hội từ đó góp phần phát triển bền vững DN
Tại các quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam, khi mà lợi ích và sự tăng trưởng kinh tế đang được ưu tiên hàng đầu, họ chấp nhận đánh đổi các vấn đề
về xã hội, môi trường nên hầu hết tại các quốc gia này hiểu biết của doanh nghiệp
và cộng đồng về TNXH còn hạn chế Đặc biệt là ở đây DN mới chỉ nhìn thấy chi phí khi thực hiện TNXH phải bỏ ra mà chưa thấy được các lợi ích to lớn khác từ việc thực hiện TNXH mang lại
Phú Thọ là địa phương có nền công nghiệp phát triển từ khá sớm, là cái nôi của nền công nghiệp các tỉnh phía Bắc Các ngành công nghiệp đặc trưng và mũi nhọn của Phú Thọ hiện nay là công nghiệp dệt, nhuộn, hoá chất, phân bón, giấy Trải qua hơn một thế kỷ phát triển công nghiệp với các ngành đặc trưng như trên Phú Thọ đã trở thành địa phương có nền kinh tế phát triển vượt bậc tại khu vực Đông Bắc Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu về kinh tế đạt được thì Phú Thọ hiện nay đã và đang trở thành một địa phương có nền công nghiệp ô nhiễm xếp thứ
7 trong cả nước [10] Trong những năm gần đây vẫn còn tình trạng đình công của người lao động, vẫn còn tai nạn lao động, các mâu thuẫn về mối quan hệ lao động giữa người lao động và chủ doanh nghiệp có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp Đặc biệt tại đây, chưa có nghiên cứu chính thức nào về TNXH được công bố, đặc biệt là những nghiên cứu có sử dụng điều tra xã hội học Chính vì lý do đó, để giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa lợi ích DN với lợi ích của các bên liên quan cụ thể là lợi ích với môi trường và xã hội Quan trọng hơn, nhằm tăng cường thực hiện TNXH của DN, tăng cường nhận thức và sự hiểu biết về khái niệm, nội hàm TNXH
nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài “Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp
công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” để nghiên cứu cho luận án tiến sĩ
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu luận án
Mục đích của luận án nhằm nghiên cứu việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Kết quả nghiên cứu là
cơ sở cho việc phát triển các kiến nghị và khuyến nghị nhằm tăng cường thực hiện
trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Việt Nam, góp phần thúc đẩy phát triển
bền vững
Để đạt được mục đích của luận án, NCS đã thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
(i) Xác định khoảng trống nghiên cứu thông qua việc tổng quan nghiên cứu
Trang 13trong nước và quốc tế;
(ii) Phát triển khung nghiên cứu cho luận án;
(iii) Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện TNXH tại các DN công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, trong đó bao gồm kiểm định các giả thuyết về mối quan
hệ tác động giữa thực hiện TNXH đến hiệu quả tài chính của DN;
(iv) Đưa ra các kiến nghị, khuyến nghị nhằm tăng cường thực hiện TNXH của các doanh nghiệp Việt Nam góp phần thúc đẩy phát triển bền vững
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc thực hiện TNXH của các DN công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại các doanh nghiệp công nghiệp đang
hoạt động trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu việc thực
hiện TNXH của các doanh nghiệp công nghiệp tỉnh Phú Thọ với người lao động và môi trường
Phạm vi về thời gian nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu việc thực
hiện TNXH của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn
2017 đến 2019
4 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên đây, luận án đã kết hợp cả hai phương pháp định tính và định lượng nhằm khắc phục những hạn chế của từng phương pháp và gia tăng sự phong phú của nguồn dữ liệu trong nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu định tính được NCS sử dụng bao gồm:
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn: Hệ thống hoá các lý thuyết về TNXHDN
dựa trên kế thừa các tài liệu tham khảo, các công trình nghiên cứu về TNXHDN trong và ngoài nước;
- Phương pháp tham vấn chuyên gia: Tham vấn các chuyên gia về TNXHDN
về các trường phái lý thuyết, các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện TNXHDN và thang đo sử dụng trong mô hình nghiên cứu;
- Phương pháp phân tích nội dung: Sử dụng để phân tích và tính toán các chỉ
tiêu ROA, ROE dựa trên báo cáo tài chính của các DN nghiên cứu
Trang 14Phương pháp so sánh: Sử dụng để so sánh kết trả lời quả khảo sát giữa đối
tượng: Doanh nghiệp, cộng đồng và người lao động Từ đó đưa ra các nhận xét, khuyến nghị cho luận án
Các phương pháp nghiên cứu định lượng sử dụng gồm:
- Phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA): Được sử dụng nhằm rút
gọn một tập hợp gồm nhiều biến quan sát phụ thuộc lẫn nhau thành một tập biến (gọi là các nhân tố) ít hơn để chúng có ý nghĩa hơn nhưng vẫn chứa đựng hầu hết nội dung thông tin của tập biến ban đầu
- Phương pháp đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha: Phương pháp này cho phép kiểm tra những câu hỏi nào thực sự đóng góp
cho việc đo lường các nhân tố Trong đó, hệ số Alpha (α) của Cronbach sẽ là cơ sở
để đánh giá sự đóng góp của các tiêu chí trong việc đo lường
- Phương pháp phân tích hồi quy: Phân tích quan hệ giữa biến phụ thuộc Y
(ROA và ROE) với các biến độc lập thực hiện TNXHDN với người lao động và môi trường thông qua hàm tuyến tính bậc 1
5 Tính mới của luận án
- Cung cấp các bằng chứng từ thực tiễn nghiên cứu về các DN công nghiệp tỉnh Phú Thọ, khái quát bức tranh thực trạng thực hiện TNXH tại các doanh nghiệp này và kiểm định mối quan hệ tác động giữa thực hiện TNXH với người lao động
và môi trường đến hiệu quả tài chính của DN
- Xây dựng thang đo thực hiện TNXH với người lao động và môi trường theo thông lệ quốc tế
- Xây dựng khung phân tích thực hiện TNXH với người lao động và môi trường trong các DN công nghiệp
- Xây dựng mô hình nghiên cứu tác động giữa thực hiện TNXH với người lao động và môi trường đến hiệu quả tài chính của DN công nghiệp
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về mặt lý luận nghiên cứu đã đóng góp vào việc khái quát hoá hệ thống cơ
sở lý luận về TNXHDN
- Về mặt thực tiễn nghiên cứu đã đưa ra các kết luận phản ánh thực tiễn tình hình thực hiện TNXHDN với người lao động, với môi trường và mối quan hệ tác động giữa thực hiện TNXH với hiệu quả tài chính của DN
Trang 15Đầu tiên, nghiên cứu phản ánh rõ nét bức tranh thực trạng thực hiện TNXH
với người lao động và môi trường tại các doanh nghiệp Phú Thọ, nghiên cứu đã chỉ
ra các trách nhiệm này dù đã được doanh nghiệp biết đến và quan tâm nhưng thực hiện vẫn còn mang tính chất bị động và chưa nhận thức được những lợi ích từ việc làm này
Hai là, nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tác động giữa thực hiện TNXH
với môi trường và người lao động với hiệu quả tài chính của DN và mối quan hệ này là tích cực, đồng thời có sự khác biệt về mối quan hệ này được kiểm soát bởi quy mô và số năm hoạt động của DN Kết quả này hàm ý có mối quan hệ khác nhau giữa DN siêu nhỏ, DN nhỏ và vừa với DN lớn, và có mối quan hệ khác nhau giữa
DN mới hoạt động và DN đã hoạt động lâu năm khi thực hiện TNXHDN với người lao động và môi trường
Ba là, nghiên cứu đã đưa ra các khuyến nghị và kiến nghị đối với cơ quan
quản lý nhà nước, với doanh nghiệp, với người lao động và nhằm tăng cường thực hiện TNXH trong thời gian tới
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các phụ lục đính kèm, luận án gồm có bốn chương chính như sau:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Chương 2: Cơ sở lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và khung nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Chương 4: Kiến nghị, khuyến nghị và kết luận
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Các nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
1.1.1 Tình hình nghiên cứu quốc tế
Thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp xuất hiện lần đầu tiên vào
năm 1953 khi Howard Rothmann Bowen công bố cuốn sách “Trách nhiệm xã hội
của doanh nhân” nhằm mục đích tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản
không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do DN làm tổn hại cho xã hội Sau đó là các nghiên cứu của Milton Friedman (1970); Carroll (1999); Kotler and Lee (2008), Fuller & Tian (2006), Garriga & Melé (2004), Jenkins (2006), Lantos (2001), Maignan & Ferrell (2001); Maignan & Ferrell (2005), Thompson, Smith & Hood (2001)
Trong thời kỳ đầu, các nghiên cứu thường xoay quanh các vấn đề nhằm làm
rõ khái niệm và nội hàm của TNXHDN Quan điểm của các nhà nghiên cứu cũng rất khác nhau theo thời gian, cụ thể:
(i) Quan niệm truyền thống hay của trường phái cổ điển cho rằng TNXH cuối cùng của DN là tối đa hóa lợi nhuận và tạo ra giá trị cho các cổ đông trên cơ sở thực hiện kinh doanh có đạo đức và tuân thủ pháp luật Đại diện tiêu biểu cho quan điểm này là Milton Friedman (1970) Những người ủng hộ Friedman và trường phái này cho rằng các DN không phải chịu trách nhiệm về toàn bộ xã hội, mà chỉ có các
cá nhân mới phải chịu trách nhiệm này, trong khi các DN chỉ có trách nhiệm xã hội duy nhất là kinh doanh và sử dụng các nguồn lực của mình trong quá trình hoạt động để gia tăng lợi nhuận trong khuôn khổ của pháp luật, không có lừa dối và gian lận
Theo quan điểm truyền thống thì khía cạnh tài chính dường như là động lực duy nhất để phát triển DN Nếu cùng một lúc các nhà lãnh đạo phải thực hiện hiện hai trách nhiệm là vừa đạt được lợi nhuận, vừa đáp ứng được các TNXH thì rất có thể sẽ tạo ra sự mâu thuẫn về quyền lợi và tiềm ẩn nguy cơ xung đột về lợi ích giữa các bên liên quan, dẫn đến sự sụp đổ DN Do đó, mục tiêu duy nhất của DN là tìm kiếm lợi nhuận cho các cổ đông mà không cần quan tâm đến các vấn đề xã hội đang cần Quan điểm trên, ngày nay không còn được quan tâm và ủng hộ do sự thay đổi chính sách phát triển kinh tế của thế giới và lợi ích chung của loài người, đặc biệt là
Trang 17với sự phát triển công nghiệp ngày càng mạnh mẽ trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu Ngày nay, ngoài trách nhiệm chính là tạo ra lợi nhuận cho nhà đầu tư và chủ sở hữu thì các DN còn phải thực hiện các trách nhiệm khác đối với xã hội, thực hiện hài hoà các lợi ích này thì DN mới có thể tồn tại và phát triển bền vững theo thời gian Do đó, khái niệm TNXHDN đã được mở rộng vượt ra khỏi trách nhiệm
về kinh tế
(ii) Theo quan điểm hiện đại, một số nhà nghiên cứu đã giới thiệu ý tưởng về TNXH của những người kinh doanh ở phạm vi rộng hơn Trong giai đoạn này các nhà nghiên cứu cho rằng TNXHDN là bổn phận đối với môi trường, các nhóm lợi ích và bổn phận về tài chính
Trong đó, các nhóm lợi ích bao gồm: các nhà đầu tư, nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, chính phủ, các hiệp hội thương mại, các nhóm bảo vệ môi trường [50] Đồng quan điểm này, rất nhiều nhà nghiên cứu đã tiếp cận theo các khía cạnh khác nhau của TNXHDN Tiêu biểu phải kể đến đó là các nghiên cứu của tác giả Archie Carroll (1999); R.Edward Freeman (1984); Baron (1995);
Đây là một mô hình có tính toàn diện và được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu ngày nay Theo Carroll, các DN là những tác nhân kinh tế được tạo ra với mục đích cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng Vì vậy, lợi nhuận là mục tiêu đầu tiên của DN, các trách nhiệm sau đó đều dựa trên trách nhiệm này (hình 1.1)
(Nguồn: Archie Carroll, 1999)
Hình 1.1: Mô hình tháp trách nhiệm xã hội của Archie Carroll
Trang 18lợi nhuận của chủ sở hữu, các trách nhiệm còn lại đều phải dựa trên ý thức trách nhiệm kinh tế của DN
Trong quá trình hoạt động các DN có trách nhiệm thực hiện luật pháp khi tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh một cách công bằng Trách nhiệm kinh tế
và pháp lý là hai trách nhiệm không thể thiếu với việc thực hiện TNXHDN
Trách nhiệm đạo đức là những quy tắc, giá trị được xã hội chấp nhận nhưng chưa có trong luật pháp Ngoài việc thực hiện các trách nhiệm pháp lý được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật thì DN cần phải thực hiện các cam kết ngoài luật Trách nhiệm đạo đức là tự nguyện nhưng lại là trung tâm của TNXH
Trách nhiệm từ thiện là những hành vi của DN vượt ra ngoài sự mong đợi của xã hội như quyên góp, ủng hộ cho người yếu thế, tài trợ học bổng, đóng góp cho các dự án cộng đồng, tự giác làm những việc có ích cho xã hội khi cần thiết Trách nhiệm này khác trách nhiệm đạo đức là DN hoàn toàn tự nguyện khi thực hiện Nếu chưa thực hiện đến trách nhiệm này, các DN vẫn được coi là đáp ứng đủ các chuẩn mực mà xã hội mong đợi
Nhược, điểm của mô hình của Carroll (1999) là các trách nhiệm dường như được xếp theo thứ bậc từ thấp đến cao và dường như độc lập với nhau, trong khi đó trên thực tế, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập, kinh tế thế giới và toàn cầu hoá như ngày nay, các trách nhiệm vẫn có thể lồng ghép, cùng thực hiện với nhau tại một thời điểm mà vẫn không bị xung đột hay ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của
DN
Các bên liên quan được R.Edward Freeman (1984) nhắc đến lần đầu tiên
trong cuốn sách “Quản trị chiến lược: Cách tiếp cận các bên liên quan” (Strategic Management: A Stakeholder Approach), theo đó các bên liên quan là “các cá nhân
hoặc nhóm có thể tác động hoặc bị tác động bởi việc hiện thực hóa sứ mệnh của một tổ chức” [62]
Freeman chia các bên liên quan thành hai nhóm chính là nhóm liên quan chủ yếu và nhóm liên quan thứ yếu Nhóm liên quan chủ yếu gồm có: Khách hàng, nhà cung cấp, người lao động, các nhà tài trợ, cộng đồng Nhóm liên quan thứ yếu gồm: Chính phủ, các đối thủ cạnh tranh, nhóm ủng hộ người tiêu dùng, nhóm có lợi ích đặc biệt, giới truyền thông Mối quan hệ giữa các bên hữu quan không phải bất biến
Trang 19mà mang tính chất động, có thể thay đổi theo thời gian Dựa trên lý thuyết của Freeman, Baron (1995) đã chia các bên liên quan thành hai nhóm, được gọi là thị trường và phi thị trường Nhóm thị trường gồm,: Khách hàng, đối thủ cạnh tranh, người lao động, đối tác và nhà cung cấp; nhóm phi thị trường gồm: Các tổ chức phi chính phủ, chính phủ, nhà quản lý, môi trường, giới truyền thông, xã hội hoặc cộng đồng Cả hai nhóm này đều có ảnh hưởng đến các cấp độ khác nhau về áp lực hoặc động cơ TNXHDN cụ thể: Chính phủ, các cơ quan nhà nước, các cổ đông của công
ty có ảnh hưởng đến việc ban hành các quyết định của công ty; các đối tác kinh doanh, người lao động giúp DN đạt những mục tiêu của mình; cộng đồng, giới truyền thông và các đối tượng khác ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định của DN [38] Clackson cho rằng, các bên hữu quan có thể yêu cầu hoặc thực hiện quyền sở hữu đối với DN và ảnh hưởng tới các hoạt động trong quá khứ, hiện tại và tương lai của DN [48] Kotler và Lee lại cho rằng theo khái niệm tiếp thị xã hội, các nhà tiếp thị nên cân nhắc ba yếu tố khi đưa ra chính sách marketing: Lợi nhuận của công ty, mong muốn của người tiêu dùng và lợi ích của xã hội [62]
(iii) Các nghiên cứu gần đây cho thấy, thuật ngữ TNXHDN đã được công nhận và ủng hộ ở hầu hết các tổ chức, tuy nhiên không có sự nhất trí chung nào về khái niệm và lý thuyết về TNXHDN, điều này đã tạo ra các rào cản cho các tổ chức tiếp cận các cơ hội và thách thức do TNXHDN mang lại Secchi cho rằng "cần có những nỗ lực mới hơn để giảm sự không đồng nhất giữa lý thuyết và cách tiếp cận TNXHDN" [104] Lee cũng kết luận định nghĩa về TNXHDN đã và đang thay đổi trong ý nghĩa và thực tiễn [86]; nghiên cứu của Salmi Mohd Isa cho thấy, theo thời gian khi xã hội thay đổi thì yêu cầu về TNXHDN sẽ được đánh giá lại [103]
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Các nghiên cứu về TNXHDN thường được tác giả dựa trên bốn cách tiếp
cận: (1) theo mô hình kim tự tháp của A.Carroll (1999); (2) lý thuyết các bên liên quan; (3) theo quan điểm chiến lược; (4) theo hướng chi phí - lợi ích, cụ thể:
(1) Cách tiếp cận thứ nhất: theo mô hình kim tự tháp của A.Carroll (1999)
Theo hướng này chủ yếu là các nghiên cứu đứng trên góc độ pháp luật, tiêu biểu là nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Thị Kim Chi (2016); tác giả Đinh Thị Cúc (2015) Bằng phương pháp định tính, dưới góc độ phương pháp luận triết học các tác giả này đã làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện TNXHDN, khẳng định TNXH
Trang 20là tất yếu, khách quan đối với sự tồn tại và phát triển đặc biệt trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay Trên cơ sở thực trạng, các tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện TNXHDN Sử dụng các phương pháp nghiên cứu giống như các tác giả trên, đứng trên góc độ pháp luật tác giả Phạm Thị Huyền Sang đã nghiên cứu ba nhóm đối tượng trên cơ sở trách nhiệm quy định trong luật pháp về bảo vệ môi trường; người tiêu dùng và người lao động; từ năm 2000 đến năm 2015 tại các DN của Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy: Nhận thức TNXH còn hạn chế, bản thân các DN còn thiếu nguồn lực cho việc thực hiện TNXH, các cơ chế quản lý của nhà nước còn yếu kém và chưa hiệu quả, các quy định của pháp luật về TNXH còn nằm rải rác và chưa thống nhất, cơ chế giám sát của người dân về việc thực hiện TNXHDN còn chưa cao ,Tuy nhiên, hạn chế của các nghiên cứu này là chưa đo lường được tác động của việc thực hiện TNXH đối với DN, các giải pháp đưa ra chưa được cụ thể hóa, nên các DN nếu dựa vào đó khó
có thể thực hiện được [17]
(2) Cách tiếp cận thứ hai: theo lý thuyết các bên liên quan
Đây là hướng tiếp cận được khá nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam lựa chọn
khi nghiên cứu về TNXH tiếp cận dưới góc độ người tiêu dùng trong ngành sản xuất và chế biến thực phẩm tại Việt Nam, bằng phương pháp định tính kết hợp với định lượng, dựa trên lý thuyết hành vi lý luận TRA của Ajzen và Fishben (1980), tác giả Nguyễn Thị Phương Mai (2015) đã khẳng định mối quan hệ thuận chiều giữa nhận thức TNXHDN đến thái độ và ý định hành vi của người tiêu dùng sản phẩm thực phẩm chế biến Cũng cùng hướng tiếp cận này nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hồng Hà tại các DN sản xuất thức ăn chăn nuôi tại Miền Bắc Việt Nam đã khẳng định mối quan hệ thuận chiều giữa cảm nhận về TNXHDN tới lòng trung thành của khách hàng, danh tiếng của công ty, quan hệ cá nhân giữa khách hàng và nhân viên công ty Sự hài lòng của khách hàng, danh tiếng của công ty, quan hệ cá nhân tác động thuận chiều tới lòng trung thành của khách hàng Đây là những kết quả rất có ý nghĩa đối với các DN sản xuất, đặc biệt là DN sản xuất chế biến thực phẩm trong quá trình ra quyết định quản trị, tuy nhiên các nghiên cứu này phạm vi còn hẹp nên kết quả nghiên cứu chưa thể áp dụng cho các ngành khác [9]
Nghiên cứu của Phạm Đức Hiếu đã cung cấp những phát hiện thú vị về hai yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện TNXH và báo cáo TNXH của các DN ở Việt
Trang 21Nam Đối với các nhà quản lý, nhận thức cao về TNXH có thể không phải là một yếu tố để đảm bảo rằng các DN sẽ thực hiện các nghĩa vụ và yêu cầu về TNXH Nhận thức của người tiêu dùng Việt Nam và các quyết định mua hàng của họ có ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện TNXH cũng như công bố thông tin TNXH của các
DN [11]
Mặc dù các DN cam kết cung cấp các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao với giá cả hợp lý như là những yếu tố quan trọng trong việc có trách nhiệm với xã hội, cũng có những khoảng trống trong công bố và quản lý TNXH Do thiếu tiêu chuẩn quốc gia và yêu cầu của các nhà đầu tư và khách hàng, các công ty Việt Nam không sẵn lòng báo cáo về các hoạt động TNXH của họ Do đó, khách hàng không
có hoặc có thông tin rất hạn chế về thực hiện TNXH và thành tựu TNXH của các công ty; kết quả là họ không nhận thức được tầm quan trọng và lợi ích của TNXH Phần lớn người tiêu dùng tập trung vào giá của sản phẩm thay vì TNXHDN khi đưa
ra quyết định mua hàng
(3) Cách tiếp cận thứ ba: theo quan điểm chiến lược
Bằng cách sử dụng phương pháp định tính, tác giả Hoàng Thị Thanh Hương
đã nghiên cứu các yếu tố tác động đến TNXH tại các DNNVV ngành may Thông qua điều tra khảo sát với quy mô mẫu 185 doanh nghiệp từ Bắc, Trung, Nam với công cụ là phần mền SPSS 16, tác giả đã khẳng định thực hiện chiến lược TNXH sẽ đem lại lợi ích tổng thể, toàn diện, bền vững cho DN, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt và khốc liệt Tác giả đã đề xuất các bước thực hiện chiến lược TNXH tại các DNNVV Việt Nam Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ bó hẹp trong ngành may, còn rất nhiều ngành sản xuất khác cần sử dụng TNXH như một chiến lược kinh doanh trong dài hạn [12]
(4) Cách tiếp cận thứ tư: theo hướng chi phí – lợi ích
Theo cách tiếp cận này, các nhà nghiên cứu đưa ra những chi phí DN phải bỏ
ra và lợi ích đạt được khi DN thực hiện TNXH Điển hình là nghiên cứu của tác giả Trần Thị Hoàng Yến (2016) bằng phương pháp định tính kết hợp với định lượng, thông qua khảo sát mẫu 168 nhà quản lý, là lãnh đạo 38 ngân hàng thương mại Việt Nam ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam, với công cụ là phần mềm SPSS 22 tác giả đã đi đến kết luận có mối quan hệ thuận chiều giữa quản trị công ty; quyền con người; thực hành lao động; môi trường; công bằng trong các hoạt động; khách hàng; cộng
Trang 22đồng với kết quả tài chính của ngân hàng thương mại Tác giả cũng đưa ra các đề xuất nhằm thúc đẩy việc thực hiện TNXH tại các ngân hàng thương mại Việt Nam theo thông lệ quốc tế trên góc độ từ bản thân các ngân hàng, từ người tiêu dùng và cộng đồng, từ phía các cơ quan quản lý nhà nước [30]
Bên cạnh đó, còn có rất nhiều bài báo khoa học trên các tap chí chuyên ngành trong nước về TNXH, các bài viết này chủ yếu nhằm làm rõ khái niệm TNXH, nghiên cứu thực trạng tại một số ngành, lĩnh vực, DN để đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường thực hiện TNXH Các nghiên cứu chủ yếu xem xét về mặt lý luận TNXH, tìm hiểu thực trạng thực hiện TNXH Việt Nam hiện nay, tìm hiểu những nguyên nhân và đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường TNXH, cụ thể: Trong Báo cáo tóm tắt nghiên cứu TNXH tại các DN thuộc hai ngành dệt may và da giầy, thông qua khảo sát 24 DN, tác giả Đào Quang Vinh đã đưa ra kết luận: Thực hiện TNXH làm tăng doanh thu, tăng năng suất lao động, tăng tỷ lệ hàng xuất khẩu, bên cạnh đó còn làm tăng uy tín của DN với khách hàng, tăng lòng tin và sự trung thành của người lao động trong doanh nghiệp [29] Cùng quan điểm trên còn có các bài viết của các tác giả Phạm Văn Đức (2009); Nguyễn Thị Thu Trang (2017) Bên cạnh đó, các tác giả này còn đưa ra các nguyên nhân dẫn đến TNXHDN chưa được thực hiện tốt là do nhận thức (của các doanh nghiệp còn khác nhau), do nguyên nhân kinh tế (năng suất lao động, thiếu nguồn tài chính và kỹ thuật), và nguyên nhân pháp lý (văn bản pháp lý không đồng bộ, thiếu minh bạch và có giá trị không cao) Tác giả trên, tác giả Phạm văn Thuận (2010) đã chỉ rõ hạn chế của việc thực hiện TNXHDN chưa tốt là do cơ chế giám sát thực hiện TNXHDN của người dân còn chưa cao
Với mục tiêu là xác định những thách thức, rào cản, cơ hội khi thực hiện TNXHDN tại Việt Nam, đồng thời xác định vai trò của chính phủ trong việc giải quyết các thách thức, rào cản và mở rộng các cơ hội đối với việc thực hiện TNXHDN và đối thoại chính sách Thông qua việc khảo sát các DN dệt may tác giả Nigel Twose and Tara Rao đã đưa ra kết luận: Phần lớn các DN dệt may và da giầy Việt Nam còn thực hiện thụ động TNXH, một phần nhỏ các DN đã coi TNXH như một khoản đầu tư và họ đã thu được nhiều hợp đồng hơn, tăng năng suất lao động, tăng được doanh thu [16] Các tác giả Nguyễn Đình Cung và Lưu Minh Đức,
Trang 23Nguyễn Đình Tài đã khẳng định: Các DN nước ngoài thực hiện TNXH với môi trường và người tiêu dùng bài bản, khoa học hơn các DN trong nước [4]
1.2 Các nghiên cứu về thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với
người lao động
1.2.1 Tình hình nghiên cứu quốc tế
Mặc dù có khá nhiều học giả quan tâm và nghiên cứu về thực hiện TNXH đối với môi trường, song lại có rất ít nhà nghiên cứu đề cập đến tác động của TNXH đến người lao động ,Đầu tiên là cuộc khảo sát toàn cầu về 1.122 giám đốc điều hành của công ty cho thấy họ nhận thức được rằng các DN được hưởng lợi từ TNXH bởi vì nó làm tăng sức hấp dẫn cho các nhân viên tiềm năng và hiện tại [56];
,Cuộc thăm dò ở Pháp năm 2001 cũng cho thấy nhân viên là nhóm các bên liên quan quan trọng nhất mà các công ty phải thực hiện TNXH của mình [72]; nghiên cứu của Lee, EM, Park và Lee HJ (2013) cho thấy nhận thức của nhân viên về hoạt động TNXH đóng vai trò quan trọng đối với việc tăng hiệu suất lao động và lòng trung thành với công ty của họ Một số nghiên cứu về TNXHDN đứng trên góc độ hành
vi tổ chức của các học giả (Albinger & Freeman, 2000; Greening & Turban, 2000) tập trung chủ yếu vào làm thế nào để TNXHDN ảnh hưởng đến nhân viên và tăng tính hấp dẫn của công ty, họ đã đưa ra kết luận rằng TNXHDN có ảnh hưởng tích cực đến sự hấp dẫn của công ty nhưng lại không có ý kiến gì về TNXHDN ảnh hưởng như thế nào đến nhân viên Một vài nghiên cứu thực nghiệm điều tra tác động nội bộ của TNXHDN đối với nhân viên có xu hướng tập trung vào khía cạnh
cụ thể của cam kết tổ chức (Brammer và các cộng sự, 2007; Maignan & Ferrell, 2001; Peterson, 2004), tuy nhiên các kết luận còn khá mâu thuẫn và chưa rõ ràng về mối liên hệ giữa TNXHDN với người lao động (nhân viên) ,Khảo sát của Battaglia
et al (2014) trên 213 DNNVV trong ngành thời trang Ý và Pháp cho thấy các chiến lược TNXHDN cũng có thể được phân thành bốn loại chính Chúng bao gồm: (1) TNXHDN liên quan đến môi trường đề cập đến các hành động được thực hiện để giảm thiểu tác động tiêu cực của DN đối với môi trường; (2) TNXHDN tại nơi làm việc đề cập đến các hành động đối xử với nhân viên bao gồm tuyển dụng nhân lực, lương và điều kiện làm việc, sức khỏe, an toàn và nhân quyền; (3) TNXHDN liên quan đến cộng đồng đề cập đến các hành động liên quan đến mối quan hệ giữa DN
và cộng đồng bị ảnh hưởng bởi hoạt động của DN; và (4) TNXHDN trên thị trường
Trang 24đề cập đến các hành động xung quanh mối quan hệ với chuỗi cung ứng của DN, bao gồm quảng cáo và tiếp thị có trách nhiệm, giải quyết các khiếu nại của khách hàng, thực hiện thương mại đạo đức và áp đặt các yêu cầu về môi trường và xã hội đối với các nhà cung cấp
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Mặc dù ngày nay có rất nhiều nghiên cứu về tác động của TNXHDN đến khách hàng, các bên liên quan khác như nhà đầu tư, chính phủ, nhưng nghiên cứu
về chủ đề TNXHDN với người lao động và môi trường còn khá khiêm tốn Đây chính là lỗ hổng mà tác giả muốn khai thác và làm rõ, đặc biệt là đối với các DN công nghiệp Việt Nam, trong bối cảnh nền kinh tế đang hội nhập và phát triển như hiện nay
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Thắng về TNXH tại tập đoàn FPT tiếp cận từ khía cạnh thực hành lao động, sử dụng phương pháp khảo sát trực tiếp bằng bảng hỏi tập trung vào cán bộ tập đoàn FPT trên hai địa bàn Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh, dựa trên các nội dung được thừa nhận về TNXHDN trong tiêu chuẩn ISO 26000, tác giả đã đưa ra kết luận: Tập đoàn FPT đã thực hiện khá tốt TNXH trên khía cạnh thực hành lao động theo quy định của tiêu chuẩn ISO 26000 Tuy nhiên, còn hai vấn đề mà tập đoàn này chưa đáp ứng được kỳ vọng trung bình của nhân viên đó là: làm ngoài giờ và tính hiệu quả của hội nghị công nhân viên chức Tác giả cũng đã đưa ra ba đề xuất để FPT thực hiện tốt hơn TNXH trên khía cạnh thực hành lao động [19]
Nghiên cứu của tác giả Phạm Việt Thắng về thực hiện TNXHDN với người lao động trong các doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam, thông qua mô hình cấu trúc tuyến tính SEM và sự trợ giúp của phần mềm SPSS 17.0 và AMOS 20.0 dựa trên ba khía cạnh: Mức độ tin tưởng, hài lòng, cam kết của người lao động Bằng cuộc khảo sát 750 người lao động tại các công ty dệt may trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam thông qua mô hình nghiên cứu các biến độc lập gồm: Việc làm và phát triển quan hệ lao động, chế độ đãi ngộ và bảo trợ xã hội, đối thoại xã hội, sức khoẻ và an toàn, đào tạo và phát triển nhân viên; các biến phụ thuộc gồm: tin tưởng, hài lòng và cam kết Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa thực hiện TNXH của
DN dệt may của với sự hài lòng và tin tưởng của người lao động, mối quan hệ giữa
sự hài lòng, tin tưởng và sự cam kết của người lao động với DN [23]
Trang 25Nghiên cứu của tác giả Châu Thị Lệ Duyên đã khảo sát 392 doanh nghiệp đang hoạt động tại Đồng bằng sông Cửu Long, thông qua mô hình cấu trúc tuyến tính SEM đã cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa thực hiện TNXH với hiệu quả hoạt động của DN, đồng thời có sự khác biệt về mối quan hệ này được kiểm soát bởi quy mô DN [7]
Những hạn chế của các nghiên cứu tiền nhiệm về TNXHDN phần lớn chỉ dùng lại ở việc mô tả hiện tượng mà chưa đưa ra được hướng dẫn nào nhằm giải quyết các thách thức do TNXHDN mang lại Do đó, các DN rất khó để xác định cách thực hiện TNXH, đặc biệt trong bối cảnh cụ thể của từng nền kinh tế và trong từng DN khi xác định chiến lược kinh doanh Vì vậy, nghiên cứu này là hết sức cần thiết trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay, đặc biệt là trong các DN công nghiệp
1.3 Các nghiên cứu về thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với môi
trường
1.3.1 Tình hình nghiên cứu quốc tế
Trách nhiệm đối với môi trường của DN ngày nay càng được xem xét như một chiến lược kinh doanh quan trọng đối với các nhà đầu tư, ,các DN, các nhà nghiên cứu và toàn xã hội. ,Với nhận thức ngày càng tăng về các vấn đề môi trường và mức độ chi phí liên quan đến việc khắc phục những tổn hại về môi trường do hoạt động của các DN gây ra, các công ty cần phải lồng ghép các nỗ lực cải thiện môi trường vào chiến lược kinh doanh của họ. ,Có một nhận thức ngày càng tăng giữa các tổ chức về bảo tồn và sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên thiên nhiên để đạt được lợi thế cạnh tranh (Hart, 1995) Bên cạnh đó, số lượng các văn bản về quản lý môi trường ngày càng tăng, cho thấy các doanh nghiệp có thể đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững bằng cách giảm các tác động bất lợi trong hoạt động của mình đối với môi trường tự nhiên [50] Trách nhiệm môi trường hiện nay được chấp nhận như một tiêu chuẩn cho các tổ chức bền vững, Hansen
và Mowen (2007) lập luận rằng "việc xử lý thành công các mối quan tâm về môi trường đang trở thành một vấn đề cạnh tranh đáng kể" và "đáp ứng các mục tiêu kinh doanh hợp lý và giải quyết các mối quan tâm về môi trường không phải là loại trừ lẫn nhau"[50]
Mặt khác, trách nhiệm đối với môi trường của công ty được thể hiện dưới dạng một phần của TNXHDN hoặc dự án an toàn, sức khoẻ và môi trường của một
Trang 26tổ chức Trách nhiệm môi trường doanh nghiệp theo định nghĩa của Jamison et al (2005) có tính đến cam kết về môi trường, nhờ đó mà công ty có thể nắm bắt được tính bền vững và có tác động tích cực đến môi trường và xã hội Lyon và Maxwell (2008) đã xác định trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với môi trường là
"hành động thân thiện với môi trường mà luật pháp không yêu cầu", cũng được gọi
là vượt quá sự tuân thủ, sự cung cấp tư nhân về hàng hoá công cộng hoặc “tự nguyện tiếp nhận các tác động bên ngoài"
Trách nhiệm xã hội đối với môi trường của DN theo nghĩa rộng có thể được
mô tả như là các biện pháp đề phòng và các chính sách áp dụng để giảm thiểu và ngăn ngừa các mối nguy hại đối với môi trường (Kusku, 2007) cùng với sự tham gia của các bên liên quan để tạo ra sự minh bạch Trách nhiệm xã hội đối với môi trường của DN rất có ý nghĩa đối với các công ty phải chịu trách nhiệm về những hành động họ đã gây ra đối với môi trường (Hansen and Mowen, 2007) Với việc thực hiện và nâng cao nhận thức này, hầu hết các công ty gây ô nhiễm cũng đã bắt đầu các chương trình có trách nhiệm với những hành động tổn hại của họ cho môi trường
Nghiên cứu của các tác giả Agata Lulewicz-Sas, Joanna Godlewska (2015) với mục đích đánh giá việc thực hiện các hoạt động có trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với môi trường tự nhiên ở Ba Lan đã cho thấy, các yếu tố phân tích thường xuyên nhất được tính đến khi đo lường tác động của các hoạt động TNXHDN đối với môi trường tự nhiên bao gồm: Lượng chất thải được sản xuất, lượng khí thải các chất gây ô nhiễm vào không khí và việc tiêu thụ nguyên vật liệu [34] Bằng nghiên cứu định lượng tại Trung Quốc tác giả Cui Zhang đã đưa ra kết luận “các kết nối chính trị có ảnh hưởng tích cực đến trách nhiệm xã hội của DN đối với môi trường” bởi vì các mối quan hệ chính trị giúp doanh nghiệp nhận được các khoản trợ cấp của chỉnh phủ Trung Quốc đến bảo vệ môi trường và thực hiện chính sách môi trường của chính phủ [53] Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế (ISO) đã vận hành TNXHDN thành bảy loại trong tiêu chuẩn quốc tế tự nguyện về trách nhiệm xã hội (ISO 26000) và Kritkausky và Schmidt (2011) đã mô tả các loại hoạt động tiêu biểu trong mỗi loại Danh mục đầu tiên là quản trị tổ chức liên quan đến các hoạt động thúc đẩy: trách nhiệm và minh bạch trong việc ra quyết định; là sử dụng có trách nhiệm các nguồn tài chính, tài nguyên thiên nhiên và con người; quản lý hiệu quả
Trang 27các bên liên quan chính trong việc ra quyết định bao gồm các nhóm yếu thế; giám sát đạo đức và báo cáo hoạt động kinh doanh Danh mục thứ hai liên quan đến nhân quyền, chẳng hạn như thiết lập các cơ chế công bằng để: thúc đẩy nhân quyền, chính sách công bằng và đa dạng, tìm nguồn cung ứng có trách nhiệm và quản lý chuỗi cung ứng; tôn trọng quyền tự do ngôn luận của cá nhân và quyền tự do lập hội; tôn trọng các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của người lao động Loại thứ ba
là về thực hành lao động, chẳng hạn như cung cấp một môi trường làm việc công bằng, an toàn và lành mạnh cho nhân viên, bao gồm: lương tốt và điều kiện làm việc; hỗ trợ đối thoại giữa người sử dụng lao động và người lao động; và cơ hội việc làm bình đẳng để phát triển nguồn nhân lực Loại thứ tư là thực hành môi trường: phòng chống ô nhiễm; giảm phát thải; sử dụng các nguồn tài nguyên tái tạo bền vững; sử dụng các công nghệ và thực hiện lành mạnh về môi trường; và mua sắm bền vững Danh mục thứ năm là các hoạt động công bằng như: tôn trọng luật pháp; thực hiện trách nhiệm và sự công bằng trong các mối quan hệ kinh doanh; mua sắm
xã hội; và tìm nguồn cung ứng có trách nhiệm Danh mục thứ sáu liên quan đến các vấn đề của người tiêu dùng, chẳng hạn như: cung cấp các sản phẩm lành mạnh và
an toàn, cung cấp thông tin chính xác và thúc đẩy tiêu dùng bền vững; thiết kế các sản phẩm có thể được tái sử dụng, sửa chữa hoặc tái chế; giảm chất thải bao bì; và bảo vệ quyền riêng tư của người tiêu dùng khi xử lý dữ liệu cá nhân Danh mục thứ bảy và cuối cùng là về sự tham gia và phát triển của cộng đồng Các hoạt động của cộng đồng: thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng; hỗ trợ các tổ chức từ thiện địa phương; và tạo cơ hội cho các thành viên cộng đồng thông qua việc mua và việc làm tại địa phuong [83]
1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo các tài liệu mà NCS tiếp cận được, các nghiên cứu trong nước về trách nhiệm xã hội với môi trường còn khá khiêm tốn, nghiên cứu được tìm thấy rõ ràng
và có gía trị khoa học hơn cả là nghiên cứu của WB “ đánh giá và phân tích tác
động ô nhiễm do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam” năm 2008
Theo nghiên cứu của WB (2008) tại Việt Nam, sự phân bổ địa lý của tình trạng ô nhiễm có hai đặc trưng chính: ,Thứ nhất là mối quan hệ mật thiết giữa các
nhà máy gây ô nhiễm với nguồn nước mặt, mối quan hệ này không phải ngẫu nhiên, trong nhiều thế kỷ qua, sông, ao và hồ được xem như là phương tiện xử lý chất thải
Trang 28ở Việt Nam Các cơ sở công nghiệp đều có xu hướng phân bổ ở gần các nguồn nước mặt để tận dụng hệ thống nước mặt tự nhiên này cho giao thông, cấp nước và nơi chứa chất thải Thậm chí hiện nay, các khu vực có nguồn nước mặt vẫn hấp dẫn các
cơ sở công nghiệp và vẫn tiếp tục là phương tiện chính để xử lý ô nhiễm. ,Thứ hai là
sự tập trung các cơ sở công nghiệp và ô nhiễm ở các vùng đồng bằng và ven biển
Lý do là ở các khu vực này thường tập trung đông dân cư, đất đai màu mỡ là nơi các thành phố, đô thị phát triển do đó có nguồn lao động tập trung cao, giao thông thuận tiện, có thị trường và mặt bằng rộng [15]
Theo số liệu được WB (2008) công bố thì Phú Thọ là tỉnh có chỉ số ô nhiễm chung cao thứ 7 cả nước (Bảng 1.1) Trong đó, ngành sản xuất phân bón là ngành
có chỉ số ô nhiễm không khí cao nhất lại tập trung chủ yếu ở Phú Thọ, sắt thép ở Thái Nguyên, và gốm sứ ở Hải Dương,…Về mức độ ô nhiễm đất Phú Thọ đứng thứ
6 trong 10 tỉnh có chỉ số ô nhiễm đất và nước cao nhất cả nước (bảng 1.2)
Bảng 1.1 Bảng xếp hạng các tỉnh có chỉ số ô nhiễm chung cao nhất cả nước
(Nguồn: theo W ,2008)
Bảng 1.2 Bảng xếp hạng các tỉnh có chỉ số ô nhiễm nước cao nhất cả nước
Trang 29(Nguồn: theo W , 2008)
1.4 Các nghiên cứu về thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với phát
triển bền vững
1.4.1 Tình hình nghiên cứu quốc tế
Thuât ngữ “ phát triển bền vững” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, tuy nhiên định nghĩa được công nhận phổ biến nhất là từ báo cáo Brundtland
1987 hay còn gọi là báo cáo “tương lai của chúng ta” đã nêu: Phát triển bền vững là
sự phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Thế giới là một hệ thống có kết nối chặt
chẽ do đó DN tồn tại và hoạt động không thể tách rời xã hội do đó những quyết định ngày hôm nay của DN không chỉ ảnh hưởng đến tương lai của chính DN mà còn ảnh hưởng đến xã hội thông qua việc tác động đến các vấn đề kinh tế, việc làm, môi trường Do đó có mối quan hệ mật thiết giữa thực hiện TNXHDN với phát triển bền vững của DN, bởi DN cần dựa trên những thách thức nhất định để phân bổ và
sử dụng hiệu quả các nguồn lực Nếu phát triển bền vững có tính đến việc thực hiện các hoạt động hiện tại mà không ảnh hưởng đến các hoạt động trong tương lai của
DN thì TNXH chủ yếu nhằm mục đích “ tối thiểu hoá các tổn hại, tối đa hoá các hỗ
trợ” Theo Elkington (1997) và Besler (2009) các khía cạnh của phát triển bền vững
bao gồm kinh tế, xã hội và môi trường Bền vững về kinh tế là bước đầu tiên của sự tồn tại và bền vững một DN, là khả năng quản lý vốn, cổ phần và các quỹ bao gồm
Trang 30vốn hữu hình và vô hình Tính bền vững về môi trường đảm bảo rằng các DN hoạt động mà không gây hại đến hệ sinh thái và tạo ra quá nhiều khí thải Tính bền vững
về xã hội ngụ ý rằng các công ty phải quản lý hoạt động kinh doanh của mình theo nhu cầu của các bên liên quan, phải phù hợp với hệ thống giá trị của công ty
1.4.1.1 Thực hiện trách nhiệm xã hội với bền vững kinh tế
Về kinh tế, thực hiện TNXH của DN trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí và lợi nhuận của DN, và gián tiếp ảnh hưởng đến các chỉ tiêu tài chính của DN như ROA, ROE Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu còn rất nhiều mâu thuẫn
Một số nghiên cứu cho thấy các DN có thể hưởng lợi cả về tài chính và phi tài chính từ hoạt động TNXHDN [59], [67], nghiên cứu của Mishra và Suar (2010)
đã kiểm tra ảnh hưởng của TNXHDN đối với hoạt động tài chính tại các công ty Ấn
Độ, thông qua bảng khảo sát 150 nhà quản lý cấp cao của Ấn Độ đã cho thấy mối quan hệ thuận chiều giữa thực hiện TNXHDN và kết quả hoạt động tài chính Nghiên cứu của Sayed và các cộng sự về đóng góp của TNXHDN tới hiệu suất tài chính của công ty, thông qua việc khảo sát 205 hãng sản xuất các sản phẩm tiêu dùng của Iran đã cho thấy: TNXHDN đã gián tiếp thúc đẩy hiệu suất hoạt động của công ty thông qua việc nâng cao danh tiếng, lợi thế cạnh tranh và nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng [105]
Nghiên cứu của Udiale & Fagbemi (2012), tác động của TNXHDN đối với hiệu quả tài chính của các công ty được chọn tại Nigeria, kết quả cuộc điều tra cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa TNXHDN và lợi nhuận của công ty trên vốn chủ
sở hữu (ROE) và lợi nhuận của công ty trên tài sản (ROA) Với khuyến nghị rằng các công ty ở Nigeria có thể tăng danh tiếng và lợi nhuận bằng cách đầu tư vào các hoạt động TNXH điều này rất có ý nghĩa đối với các nhà quản trị DN đặc biệt với các DN có hoạt động kinh doanh có tác động tích cực đến môi trường Nghiên cứu của Baird, Geylani & Roberts (2012) đã xem xét lại mối quan hệ giữa TNXHDN và hiệu quả tài chính từ góc nhìn ngành công nghiệp bằng việc sử dụng phân tích mô hình tuyến tính Kết quả nghiên cứu của họ cho thấy tồn tại mối quan hệ đáng kể giữa TNXHDN và hiệu quả tài chính, đồng thời mối quan hệ đó được điều chỉnh theo từng ngành công nghiệp hay hoạt động TNXHDN với hiệu quả tài chính phụ thuộc phần lớn vào các loại hình công nghiệp
Nghiên cứu của Asatryan & Brezinnová kiểm tra mối quan hệ giữa TNXH
Trang 31và hiệu quả tài chính của các công ty trong ngành hàng không tại Trung và Đông
Âu cho thấy các sáng kiến TNXH có mối tương quan thuận chiều với các chỉ số tài chính của các DN nghiên cứu [35] Bên cạnh đó, nghiên cứu của Gras-Gil và các cộng sự cũng đã đề xuất rằng đầu tư vào TNXHDN không chỉ cải thiện sự hài lòng của các bên liên quan, mà còn ảnh hưởng đến danh tiếng của công ty một cách tích cực, và dẫn đến sử dụng hiệu quả các nguồn lực của công ty [65]
Nghiên cứu của Mishra và Suar (2010) đã kiểm tra ảnh hưởng của TNXHDN đối với hoạt động tài chính tại các công ty Ấn Độ, thông qua bảng khảo sát 150 nhà quản lý cấp cao của Ấn Độ đã cho thấy mối quan hệ thuận chiều giữa thực hiện TNXHDN và kết quả hoạt động tài chính
Nghiên cứu của Dan Dhaliwal, Oliver Zhen Li, Albirth Tsang, Yong George Yang về công bố thông tin TNXHDN và hậu quả của nó tại 31 quốc gia cho thấy:
“việc công khai thông tin tài chính và TNXHDN là một sự thay thế cho nhau trong việc giảm chi phí vốn cổ phần” tức là có mối quan hệ tiêu cực giữa việc công khai thông tin TNXHDN với chi phí vốn cổ phần Từ đó, gián tiếp làm giảm chi phí của
DN và thông qua đó kết quả tài chính của DN sẽ được cải thiện [54] Đồng quan điểm trên, nghiên cứu của Wolfgang Drobertz và các cộng sự trong ngành vận tải cũng cho thấy mối quan hệ tích cực giữa công khai thông tin TNXH và tình hình tài chính của các công ty [117], nghiên cứu của Yusoff, Mohamad và Darus cho thấy
có mối quan hệ đáng kể giữa cấu trúc công bố các hoạt động TNXH đến kết quả tài chính của công ty trong năm tiếp theo [119]
Các nghiên cứu của Patricia Crifo và các cộng sự tại 10.293 công ty Pháp; Joon Soo lim và Cary A.Green Wood cũng đều đưa ra kết luận: Các khía cạnh của TNXHDN có tác động tích cực đến lợi nhuận của doanh nghiệp [99], [75]
Nghiên cứu của Dessy Angelia & Rosita SuryamingSih về ảnh hưởng của hoạt động môi trường và công bố TNXH đối với kết quả tài chính tại các công ty sản xuất, cơ sở hạ tầng và dịch vụ được niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Indonesia đã đưa ra kết luận: Công bố thông tin TNXHDN có ảnh hưởng đáng kể đến ROE (tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu) nhưng không ảnh hưởng đến ROA (tỷ suất lợi nhuận ròng trên tài sản) Hoạt động môi trường và TNXHDN đồng thời có ảnh hưởng đáng kể đến ROE và ROA [55]
Nghiên cứu của Sayedel parastoo Saeidi và các cộng sự (2015) về đóng góp
Trang 32của TNXH tới hiệu suất tài chính của công ty, thông qua việc khảo sát 205 hãng sản xuất các sản phẩm tiêu dùng của Iran đã cho thấy: ,TNXHDN đã gián tiếp thúc đẩy hiệu suất hoạt động của công ty thông qua việc nâng cao danh tiếng, lợi thế cạnh tranh và nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng
Như vậy, nhiều lập luận ủng hộ TNXH khẳng định rằng bằng cách thực hiện các sáng kiến TNXH, các công ty cuối cùng sẽ nhận được lợi nhuận cao hơn [36] Famiyeh đã kiểm tra mối quan hệ giữa sáng kiến TNXH và hoạt động của các công
ty ở Ghana, kết quả nghiên cứu cho thấy có mối tương quan tích cực giữa các sáng kiến TNXHDN và hiệu suất hoạt động cạnh tranh của các công ty về chi phí, chất lượng, tính linh hoạt và hiệu suất phân phối như hiệu suất tổng thể Hơn nữa, Famiyeh đã chứng minh rằng có khả năng cạnh tranh về chi phí và tính linh hoạt sẽ dẫn đến hiệu suất tổng thể của DN từ môi trường kinh doanh Ghana [59] Nghiên cứu của Hategan và Curea-Pitorac (2017) tìm thấy mối tương quan tích cực giữa sáng kiến TNXH và hiệu quả tài chính của các DN tại Rumani Tương tự, Jain, Vyas & Roy (2017) đã tìm thấy mối quan hệ tích cực yếu giữa TNXH và hiệu quả tài chính của DN
Có thể cho rằng, ,tương quan tích cực giữa TNXH và hiệu quả tài chính của
DN từ các nghiên cứu trên đây được hiểu là đầu tư của các công ty vào TNXH sẽ dẫn đến tăng lợi ích tài chính thông qua một loạt các lợi ích khác như: ,Danh tiếng, hình ảnh, thương hiệu, khách hàng trung thành, giảm chi phí, hoạt động linh hoạt, lợi thế so sánh và cung cấp dịch vụ [63][85] Theo Wahba & Elsayed một công ty đầu tư vào TNXH xây dựng các cổ phiếu có uy tín và tạo ra một số khả năng tổ chức, giúp công ty đạt được lợi ích cạnh tranh và tăng trưởng tài chính Do đó, có thể kết luận rằng lợi ích liên quan của hoạt động TNXH vượt quá các chi phí liên quan [113]
Dường như có một cái nhìn mâu thuẫn về mối quan hệ giữa TNXH và hiệu quả tài chính của DN Các nhà phê bình TNXH khẳng định rằng các hoạt động TNXH đòi hỏi một lượng lớn tài chính và phân bổ thời gian và đặc biệt TNXH phân tán vai trò kinh tế cơ bản của DN, chính vì vậy mà DN chỉ cần quan tâm đến mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận cho chủ sở hữu
Vào cuối những năm 1960, Milton Friedman đã đưa ra một lý lẽ rằng, không
có gì giống như TNXH và mục tiêu duy nhất của DN là tăng lợi nhuận trong khuôn
Trang 33khổ của Pháp luật và đạo đức [61] Lập luận này sau đó được chứng minh bởi một
số nghiên cứu thực nghiệm, điểm hình như: Wright & Ferris đã xem xét hiệu quả của việc thoái vốn tại Nam Phi về hiệu suất thị trường chứng khoán Sử dụng dữ liệu trong 10 năm của 116 công ty trong ngành công nghiêp đã cho thấy giá cổ phiếu bị ảnh hưởng tiêu cực bằng cách thông báo thoái vốn tại Nam Phi Những kết quả này ủng hộ cho tiền đề rằng những áp lực phi kinh tế có ảnh hưởng đến các chiến lược quản lý hơn là các mục tiêu nâng cao giá trị [118] Cordeiro và Sarkis nghiên cứu trong một mẫu của 523 công ty Mỹ đã chứng minh mối tương quan nghịch giữa hoạt động môi trường và thu nhập trên mỗi cổ phiếu, nghiên cứu cho rằng các hoạt động thân thiện môi trường, từ thiện, phúc lợi khách hàng, chăm sóc sức khoẻ làm DN phải gánh chịu những chi phí mà các DN khác không phải thực hiện do đó làm suy yếu sức cạnh tranh của DN có thực hiện TNXH [51] Tương tự như vậy, một số học giả còn cho rằng TNXH như một hành động che đậy cho các hoạt động gian lận, tự mưu của DN [68], [97] Nghiên cứu của Peng & Yang đã kiểm tra ảnh hưởng của TNXH đối với hiệu quả tài chính của DN tại các công ty Đài Loan Kết quả cho thấy có mối quan hệ tiêu cực giữa TNXH và hiệu quả tài chính của DN [100]
Như vậy, các nghiên cứu về mối quan hệ giữa TNXH và hiệu quả tài chính của DN đã đưa các kết quả gây tranh cãi và nghịch lý (McGuire, Sundgren, & Schneeweis, 1988; Cochran & Wood, 1984; Griffin & Mahon, 1997; Orlitzky, Schmidt, & Rynes, 2003; Moneva, Rivera -Lirio, & Munoz-Torres, 2007) Cũng có những lập luận rằng mối quan hệ giữa TNXH và hiệu quả tài chính của DN khác nhau ở mọi khu vực và mọi loại ngành được nghiên cứu (Kurokawa & Macer, 2008)
Do đó có thể kết luận rằng, việc tìm kiếm mối quan hệ giữa TNXH và hiệu quả tài chính của DN là một nhiệm vụ rất khó khăn Hầu hết các nghiên cứu trước đây đã được thực hiện ở các nước Bắc Mỹ và châu Âu [66], [52] Vì vậy, hiện tại các nghiên
cứu đang có xu hướng tập trung vào nghiên cứu TNXHDN ở châu Á [52]
Trái ngược hoàn toàn với các kết luận như trên, một số nghiên cứu thực tiễn lại cho thấy không tồn tại mối quan hệ nào giữa thực hiện TNXH với hiệu quả tài
chính của DN Cụ thể, nghiên cứu của (Ullmann, 1985) đã đưa ra kết luận, hầu như
không tồn tại mối quan hệ giữa TNXH và hiệu quả tài chính của DN, kết quả trên cũng hoàn toàn tương tự cho nghiên cứu của Abbott và Monsen (1979), Griffin &
Trang 34Mahon (1997), McWilliams & Siegel đã nghiên cứu mối quan hệ giữa TNXHDN và hiệu quả tài chính ở cỡ mẫu 524 và trong thời gian 6 năm đã cho ra kết quả trung lập, tức không có mối quan hệ giữa TNXH và hiệu quả tài chính của DN nghiên cứu Nghiên cứu của Soana (2011) lấy mẫu các ngân hàng ở cả cấp quốc gia và quốc tế, điều tra sự kết hợp có thể có giữa TNXH và hiệu quả tài chính trong lĩnh vực ngân hàng Kết quả nghiên cứu đã cho thấy không có liên kết có ý nghĩa thống
kê nào được tìm thấy để hỗ trợ mỗi tương quan tích cực hay tiêu cực nào giữa TNXH và hiệu quả tài chính của ngân hàng [94]
1.4.1.2 Thực hiện trách nhiệm xã hội với bền vững xã hội
Bền vững về mặt xã hội có nghĩa là phải tạo ra một xã hội công bằng, cuộc sống của mọi người được bảo đảm và bình an Muốn xã hội không rơi vào trạng thái xung đột, phải làm sao để có môi trường xã hội thực sự dân chủ, bình đẳng, mọi người đều được thụ hưởng các thành quả của sự tăng trưởng kinh tế Nếu nhìn nhận mối quan hệ giữa thực hiện TNXH với phát triển bền vững tức là tạo ra các giá trị góp phần vào sự phát triển bền vững xã hội như: tạo thêm việc làm, thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống vật chất và tình thần cho người lao động, có những đóng góp cho cộng đồng địa phương và ngân sách nhà nước, thúc đẩy các hoạt hoạt động phát triển cộng đồng Phần lớn các công ty tạo ra giá trị xã hội dưới hình thức việc làm, cải thiện điều kiện làm việc, tham gia vào các vấn đề môi trường và nộp thuế Theo Cochran (2007) một công ty có thể hưởng lợi từ quan hệ tốt với nhân viên bằng cách tăng động lực làm việc của họ và từ đó cải thiện năng suất và hiệu suất Ngoài ra khi DN có mối quan hệ tốt với nhân viên sẽ thu hút nhân tài mới và tuyển dụng nhân viên dễ dàng hơn điều này giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian cũng như các chi phí liên quan đến việc tuyển dụng và đào tạo nhân lực mới
1.4.1.3 Thực hiện trách nhiệm xã hội với bền vững môi trường
Cùng với cổ đông, nhân viên, khách hàng và cộng đồng, môi trường là một bên liên quan không thể thiếu và rất quan trọng đối với DN Quá trình hoạt động của DN gây tác động đáng kể đến môi trường, do đó các DN có vai trò trong tương lai về các vấn đề môi trường và tính bền vững về môi trường Vì vậy, hành động mà các DN tham gia bảo vệ môi trường tự nhiên được coi là một phần của TNXH, coi môi trường là một trong những lợi ích của DN Sự lồng ghép TNXH với bảo đảm
Trang 35bền vững về môi trường có khả năng giúp các DN quản lý mối quan tâm lâu dài với môi trường cùng với tăng trưởng kinh tế Theo Grant Thornton (2011) có ba động lực để các công ty tham gia vào TNXH và môi trường bền vững là chi phí, thương hiệu, việc tuyển dụng và duy trì nhân viên Tuy nhiên khi nghiên cứu ở các quốc gia đang phát triển các vấn đề liên quan đến xây dựng thương hiệu và quan hệ công chúng vẫn là các động lực quan trọng nhất cho hoạt động kinh doanh có trách nhiệm Nghiên cứu của Euromonitor (2012) cho thấy tính bền vững về môi trường, thương mại công bằng, thương mại xanh và hỗ trợ cộng động địa phương đóng một vai trò quyết định của người tiêu dùng, 50% người tiêu dùng coi đó là một trong những yếu tố quan trọng khi tiêu thụ sản phẩm
Một số người ủng hộ TNXH lập luận rằng thực hiện TNXH với bền vững môi trường chủ yếu xem xét đến tiết kiệm năng lượng, giảm thiểu khí nhà kính và giảm chất thải Nghiên cứu của Uỷ ban Châu Âu (2008) “tiềm năng thực hiện TNXHDN của khía cạnh môi trường có thể được củng cố bởi chi phí năng lượng tăng và triển vọng mạnh mẽ hơn cơ chế giá lượng khí thải carbon và ngoài việc tiết kiệm chi phí từ các biện pháp môi trường thì TNXHDN có thể góp phần tiết kiệm chi phí theo những cách khác ví dụ như trong lĩnh vực con người, quản lý rủi ro hoặc tiếp cận tài chính”
Williamson, Lynch-Wood và Ramsay (2006, tr327) đã tiến hành một nghiên cứu thực nghiệm để tìm hiểu các động lực cho sự bền vững về môi trường và thực hiện TNXHDN, nghiên cứu đã chỉ ra rằng “ thực tiễn được thúc đẩy bởi hai cân nhắc quan trọng đó là hiệu quả kinh doanh và quy định
Một trong những lý do khiến các công ty ngày nay tham gia và cam kết thực hiện TNXH và các hoạt động bền vững về môi trường là hình ảnh của công ty Bằng cách bắt đầu như vậy, các chương trình của công ty cố gắng gây tác động đến nhận thức của công chúng về hình ảnh và thương hiệu của mình, điều này rất quan trọng bởi hình ảnh và hương hiệu tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghệp (Baron, Norman& Miyazaka, 2007, tr444)
Một số tác giả khác cũng nghiên cứu về tầm quan trọng của hành vi công ty đối với thực hiện TNXH và tính bền vững về môi trường cũng như kết quả với các giá trị thương hiệu và tiếp thị cho thấy có lợi ích từ việc làm này Brown và Dacin (1997, tr 70) đã nghiên cứu sự lựa chọn hình ảnh thương hiệu và đề xuất có thể
Trang 36được hưởng lợi bởi TNXH và chính sách môi trường cho thấy “từ góc độ tiếp thị,
DN thu được lợi ích kinh tế từ thực hiện TNXH được ghi nhận trong mối liên hệ của nó với sự tiêu dùng tích cực các sản phẩm và đánh giá thương hiệu, lựa chọn thương hiệu, và đề xuất thương hiệu” Do đó hình ảnh thương hiệu được coi như là một động lực thúc đẩy hành động TNXH của DN với bền vững môi trường
Để thúc đẩy hình ảnh thương hiệu thì tiếp thị xanh là yếu tố rất quan trọng vì một trong những mục tiêu của tiếp thị xanh là nhằm cải thiện hình ảnh và giá trị thương hiệu bằng cách khai thác lợi ích của thực hiện TNXH và sự bền vững về môi trường đối với hình ảnh thương hiệu Mục tiêu của tiếp thị xanh là giảm thiểu tác động môi trường và thậm chí thúc đẩy các tác động tích cực
1.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Quá trình hoạt động của DN, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hoá như hiện nay luôn cần phải quan tâm đến vấn đề môi trường, vấn đề xã hội bởi nếu chỉ chú trọng đến lợi nhuận mà bỏ qua vấn đề môi trường và xã hội DN sẽ không thể tồn tại và phát triển lâu dài., Các công ty và tập đoàn lớn cho rằng “thực hiện trách nhiệm xã hội sẽ mang lại sự giàu có trong tương lai” nhưng đối với các DNNVV thì thực hiện TNXH đôi khi là gánh nặng khi chưa đủ tiềm lực tài chính và nhân sự, các
DN này chưa thể thực hiện được các chứng chỉ trong bộ quy tắc ứng xử và rất khó thực hiện TNXH như các doanh nghiệp lớn, tuy nhiên không phải tất cả các DNNVV đều không có khả năng thực hiện, nếu họ lập cho mình một kế hoạch tài chính và chiến lược TNXH nghiêm túc thì việc thực hiện song hành cả hai mục tiêu lợi nhuận và TNXH là hoàn toàn có thể Các DN muốn phát triển bền vững thì thực hiện TNXH được coi như là một chiến lược kinh doanh khôn khéo, có thể trong ngắn hạn thực hiện TNXH sẽ làm gia tăng chi phí, nhưng lợi ích mang lại trong dài hạn lại rất lớn đó là giá trị thương hiệu, đó là lòng trung thành của nhân viên, của khách hàng và mở rộng thị trường tiêu thụ
Theo nghiên cứu khảo sát của Viện khoa học Lao động và Xã hội Việt Nam trên 24 DN thuộc hai ngành dệt may và da giầy đã chỉ ra rằng nhờ thực hiện các chương trình TNXH, doanh thu của các DN này đã tăng 25%, năng suất lao động cũng tăng từ 34,2 lên 35,8 triệu đồng/lao động/năm, tỷ lệ hàng xuất khẩu tăng từ 94% lên 97% Ngoài hiệu quả kinh tế, các DN còn có lợi từ việc tạo dựng hình ảnh
Trang 37với khách hàng, sự gắn bó và hài lòng của người lao động, thu hút lao động có chuyên môn cao Từ những kết quả như trên sẽ thúc đẩy DN phát triển bền vững
Thực hiện TNXH có thể gia tăng uy tín và lòng tin với người tiêu dùng từ đó người tiêu dùng sẵn sàng mua hàng của DN Tại Mỹ, khách hàng ưu tiên làm việc
và chi tiêu cho các doanh nghiệp được đánh giá có TNXH cao hơn Theo một nghiên cứu của Cone Commnication có hơn 60% người Mỹ hy vọng các DN sẽ tác động tích cực đến sự phát triển xã hội và môi trường, mặc dù điều này không có trong quy định của Chính phủ Mỹ Ngoài ra, 90% người tiêu dùng được khảo sát cho biết, họ sẽ lựa chọn mua sản phẩm của DN khi DN đó đang hỗ trợ, ủng hộ vấn
đề mà họ đang quan tâm
Mặt khác, thực hiện tốt TNXH tức là đối xử công bằng và tôn trọng nhân viên, từ đó làm gia tăng lòng trung thành và nâng cao năng suất lao động, DN cũng không phải tuyển dụng lao động nhiều lần hoặc chịu những chi phí từ việc tuyển dụng, đào tạo nhân viên mới, từ đó sẽ làm giảm chi phí hoạt động và gia tăng lợi nhuận cho DN Vì vậy, có thể nói thực hiện TNXH chính là nền tảng cho sự phát triển bền vững doanh nghiệp
1.5 Khoảng trống và hướng nghiên cứu của luận án
Từ việc tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước về thực hiện TNXH của DN đã cho thấy: ,các nghiên cứu về TNXH rất đa dạng và phong phú cả về nội dung, cách tiếp cận cũng như phương pháp sử dụng, các nghiên cứu tiền nhiệm đã tập trung làm rõ khái niệm, nội hàm, các lý thuyết về TNXH đồng thời khẳng định lợi ích của việc thực hiện TNXH với DN, đặc biệt tại các quốc gia
có nền kinh tế đã phát triển Tại các quốc gia này lý thuyết về TNXH đã khá phát triển và được nhiều người biết đến cũng như tuân thủ như một lẽ đương nhiên NCS
đã kế thừa và sử dụng các quan điểm về lý luận TNXH được các nhà nghiên cứu phát biểu thông qua quá trình tổng quan trong nghiên cứu của mình đặc biệt là lý thuyết các bên liên quan về TNXH. ,Tuy nhiên, tại các quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam hiện nay đang tồn tại ba thách thức khi thực hiện TNXH đó
là: (1) Khái niệm TNXH được hiểu chưa đúng; (2) nhiều người vẫn đánh đồng
TNXH với các hoạt động từ thiện;(3) chưa có sự hợp tác chặt chẽ giữa các bên liên quan (Hội thảo ASEAN thúc đẩy TNXH tại Jakarta ngày 24/11/2016) chính vì vậy
mà vấn đề hiểu khái niệm, nội dung TNXH càng trở nên cấp thiết
Trang 38Thêm vào đó, tại Việt Nam vấn đề TNXH còn khá mới và còn được hiểu theo nhiều cách khác nhau Phần lớn các DN mới chỉ nhìn thấy các chi phí khi thực hiện TNXH là quá lớn mà chưa nhận thấy các lợi ích do việc thực hiện TNXH mang lại, còn thiếu các chuyên gia am hiểu về lĩnh vực này cũng như chưa có nhiều các nghiên cứu thực nghiệm về TNXH trong DN cụ thể là vấn đề thực hiện TNXH với người lao động và môi trường Mặt khác, chưa có nghiên cứu nào đứng từ góc
độ Kinh tế Phát triển, trong bối cảnh yêu cầu giảm thiểu tác hại đến con người (các bệnh tật) và ô nhiễm môi trường, cùng với các vấn đề thực tiễn thực hiện TNXH ở các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp tại Phú Thọ Đây chính là các lý do NCS
lựa chọn vấn đề “Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa
bàn tỉnh Phú Thọ” để nghiên cứu trong luận án này
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 tác giả đã trình bày và phân tích các nghiên cứu trong nước và trên thế giới về TNXH của DN, các nghiên cứu về thực hiện TNXH với người lao động
và môi trường, các nghiên cứu thực hiện TNXH với phát triển bền vững về kinh tế,
xã hội, môi trường tiếp cận theo hướng các bên liên quan và tiêu chuẩn quốc tế ISO
26000
Thông qua tổng quan nghiên cứu trên thế giới và trong nước về TNXH tác
giả đã nhận thấy có ba thách thức khi thực hiện TNXH hiện nay đó là: (1) Khái
niệm TNXH được hiểu chưa đúng; (2) nhiều người vẫn đánh đồng TNXH với các hoạt động từ thiện;(3) chưa có sự hợp tác chặt chẽ giữa các bên liên quan Bên
cạnh đó chưa có nghiên cứu nào đứng từ góc độ Kinh tế Phát triển, trong bối cảnh
yêu cầu giảm thiểu tác hại đến con người và ô nhiễm môi trường, cùng với các vấn
đề thực tiễn thực hiện TNXH ở các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp tại Phú Thọ Đây chính là khoảng trống giúp tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu này
Trang 39CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA
DOANH NGHIỆP VÀ KHUNG NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
2.1.1 Nguồn gốc, khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
2.1.1.1 Nguồn gốc trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Theo Michel Capron & Francoise Quairel – Lanoizelée (2002); La Décuorvete (2007) tại Mỹ, ,mặc dù gốc gác của khái niệm TNXHDN đã có từ rất xa xưa, trước Thế chiến thứ Hai xuất phát từ khuynh hướng dân chủ - xã hội, ,tuy nhiên người có công đầu tiên trong việc đưa ra thuật ngữ về TNXHDN chính là tác giả Bowen (1953) ,Xuất thân là một mục sư của giáo hội tin lành và là người có ảnh hưởng sâu sắc đến quan niệm về TNXHDN tại Mỹ Quan niệm của Bowen nhấn mạnh đến lòng từ thiện với mục tiêu sửa chữa những khuyết tật và bồi hoàn cho những sự lạm dụng và vi phạm hơn là ngăn ngừa, nhằm tránh những thiệt hại do hoạt động kinh doanh của DN gây ra cho các bên liên quan như môi trường, người lao động, khách hàng, nhà cung cấp…
,Theo đó, cá nhân là trung tâm của mọi hành động, các trách nhiệm chủ yếu thuộc về cá nhân và những hành vi của cá nhân được điều chỉnh bởi nền đạo đức thay vì những quy định của pháp luật Quan niệm của DN được nhấn mạnh đến bởi các mối quan hệ hợp đồng nhất là mối quan hệ với các cổ đông Quan niệm về TNXHDN tại Mỹ thời kỳ này thể hiện ở “lợi nhuận trước, bác ái sau”
,Những ghi chép của người Trung Hoa, người Ai cập và người Xume cổ đại
đã phác hoạ lại những quy tắc giao thương để thúc đẩy thương mại và đảm bảo rằng lợi ích của cộng đồng rộng lớn được quan tâm ,Kể từ đó, mối quan tâm của công chúng đến sự tương tác giữa DN và xã hội ngày càng phát triển cùng với sự phát triển các hoạt động của DN
,Từ thế kỷ XVII, người ta đã quan tâm đến sự phát triển quá lớn của công ty Đông Ấn và những hệ luỵ của sự phát triển đó đối với xã hội ,Chủ nghĩa tư bản nhân ái cũng đã tồn tại ở Anh được hơn 150 năm Các tín đồ phái giáo hữu như Barclays và Cadbyry, cũng như các nhà chủ nghĩa xã hội khác như Ăng-ghen và Morris đã tiến hành thực nghiệm với những hình thức kinh doanh có TNXH và dựa trên giá trị Hành động từ thiện thời kỳ Victorian có thể được nhận định là có trách nhiệm với những khu nội đô của những trung tâm thành phố cổ ngày nay
Những bằng chứng về các hoạt động xã hội phản kháng lại những hành động của các tổ chức cũng đã trải dài qua nhiều thế kỷ, phản chiếu sự phát triển về mặt
Trang 40pháp lý và thương mại của các công ty khi chúng tự tạo cho mình trở thành một lực lượng thúc đẩy các xã hội dựa trên thị trường Tiêu biểu có thể kể đến cuộc tẩy chay của người tiêu dùng đối với sản phẩm đường do những người nô lệ thu hoạch diễn
ra ở nước Anh vào những năm 1970, được biết đến là cuộc tẩy chay quy mô lớn đầu tiên thế giới Trong vòng vài năm, hơn 300.000 người dân Anh đã tẩy chay sản phẩm đường này, sản phẩm chính của người Anh có nô lệ người Tây Ấn, gần 400.000 lời thỉnh cầu có chữ ký đã được gửi đến quốc hội yêu cầu chấm dứt tình trạng buôn bán nô lệ Vào năm 1972, Hạ viện trở thành cơ quan lập pháp quốc gia đầu tiên trên thế giới bỏ phiếu cho việc chấm dứt tình trạng buôn bán nô lệ
Bắt đầu từ năm 1950, những nghiên cứu học thuật chính thức về TNXHDN đầu tiên được công bố Thuật ngữ TNXHDN xuất hiện chính thức lần đầu tiên năm
1953 trong cuốn sách “trách nhiệm xã hội của doanh nhân” của Bowen nhằm mục
đích tuyên truyền và kêu gọi những người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các doanh nghiệp làm tổn hại cho xã hội
Sau đó, nhiều quan điểm về TNXHDN đã tạo ra những cuộc tranh luận sôi nổi về chủ đề này Theo Frederick khái niệm TNXHDN được phát triển trong giai đoạn này gồm ba ý tưởng: Ý tưởng đầu tiên là những nhà quản trị doanh nghiệp nên coi họ chính là những người được uỷ thác bảo vệ lợi ích chung của xã hội Ý tưởng thứ hai là những nhà quản trị phải cân bằng giữa những yêu cầu đối với DN và những nguồn lực của nó Ý tưởng thứ ba là cần chấp nhận lòng nhân đạo là biểu hiện sự hỗ trợ của DN đối với xã hội [60]
,Trong thời kỳ này, các nhà quản trị mới bắt đầu làm quen với khái niệm TNXHDN và dần thay đổi thái độ, nhưng chỉ có rất ít DN thực hiện hoạt động từ thiện (Carroll, 2008) Phải đến cuối những năm 1960 giới nghiên cứu mới bắt đầu
có những nỗ lực để làm rõ và chính xác khái niệm TNXHDN Những học giả tiêu biểu của giai đoạn này gồm Keith Davis (1960), William C Frederick (1960), Clarence Walton (1967) Mỗi học giả đã đưa ra những khái niệm riêng về TNXHDN và có đóng góp rất lớn vào hệ thống cơ sở lý luận về TNXHDN
Thời kỳ những năm 1970 là giai đoạn quan trọng cho sự tiến triển khuôn khổ
lý thuyết về TNXHDN Carroll (2008) gọi thời kỳ này là thời kỳ tăng tốc của TNXHDN, những tác giả tiêu biểu của thời kỳ này là Harold Johson (1971), George Steiner (1971), Richard Eels and Clarence Walton (1974) ,Trong đó nổi bật là khái