Chính vì vậy trong giai đoạn đầu các cơ quan quản lý môi trường và các nhà khoa học Việt Nam đang cố gắng xây dựng các mô hình phân loại rác tại nguồn PLTN, xây đựng các công nghệ xử lý,
Trang 1BO XAY DUNG VIEN VAT LIEU XAY DUNG wrens ne OU Qe 2 ence neon
Háo cáo tổng kết
Thực liện nhiệm sụ bảo vệ môi trường trọng diểm cấp Nhà nước
CÔNG NGHỆ THU GOM, VẬN CHUYỂN, XỬ LÝ
-RAC THAI NILON VA CHAT THAL HOU CO
Co quan chủ trì: VIỆN VẬT LIỆU XÂY DỤNG ~ BỘ XÂY DỤNG
Cơ quan phối hợp chính:
1) TRUNG TAM TƯ VẤN CÔNG NGHỆ MỖI TRƯỜNG -
CÁC HIỘI KHOA HỌC KỸ THUẬT VIỆT NAM
2) CÔNG TY MỖI TRƯỜNG ĐỒ THỊ HÀ NỘI ~ SỞ GIAO THÔNG CÔNG
CHÍNH HÀ NỘI
Trung tâm Vật liệu hữu cơ & Hoá phẩm xây dựng flow
Phòng Kế hoạch Kỹ thuật, Viện Vật liệu xây dựng
TS Mai Ngoc Tam
Co quan quan lý &x
7o}9 {04
Trang 211 | PGS.TS Nguyén Van Lam | Trung tâm Tư vấn Công nghệ Môi trường
12 | PGS.TS Nguyễn Kim Ngọc | Trường ĐH Mỏ Địa chất
19 | KS Chir Van Ching Công ty Môi trường Đô thị Hà Nội :
Trang 3MỤC LỤC
Mử DẦU
TONG QUAN TINH RINE THU GOM PHAN LOA! VA XU LY TAI CHE RAC THAI
NILON VA CHẤT THÁI HỮU CO
1.1 TINH HINH THU GOM, PHÂN LOẠI, VẬN CHUYỂN RÁC THAI TREN THE GIỚI VÀ
Ở VIỆT NAM
1.1.1 Kinh nghiệm thu gom, phân loại, vận chuyển rác thải trên thế giới
1.1.2 Kinh nghiệm thu gom, phân loại tại nguồn và vận chuyển rác thải ở
một số đự án thí điểm tại Việt Nam
1.2 BẢN CHẤT VÀ HÀM LƯỢNG CỦA RÁC THẢI NILON TRONG RÁC THÁI SINH
HOẠT
1.2.1 Khái quát về các loại nhựa và nhựa phế thải
1.2.2 Tình hình phát sinh nhựa phế thải trên thế giới và trong nước
1.2.3 Thành phần của rác thải nilon và các loại nhựa phế thải khác trong rác
thải sinh hoạt
1.2.4 Tình hình tái chế rác thải nilon và các nhựa phế thải khác trên thế giới và
ở Việt Nam
1.1.4.1 Tình hình tái chế rác thải nilon và nhựa phế thải khác trên thế giới
1.1.4.2 Tình hình tái chế rác thải nilon và nhựa phế thải ở Hà Nội
1 3 CHẤT THAI HOU CO
1.2.1.Bản chất của chất thải hữu cơ
1.2.2 Tình hình hình thu gom phân loại và xử lý chất thải hữu cơ trên thế giới
1.2.3 Tình hình hình thu gom phân loại và xử lý chất thải hữu cơ ở Việt Nam
và ở thành phố Hà Nội
PHAN Il
HIEN TRANG PHÁT SINH CHAT THAI RAN TREN BIA BAN QUAN HOÀN KIEM,
THANH PHO HA NOI
2.1 KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA QUẬN HOÀN KIẾM
2.1.1 Vị trí địa lý
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
2.1.3 Đặc điểm dân cư, kinh tế - xã hội
2.2 HIỆN TRANG PHAT SINH VA TINH HINH THU GOM RAC THAI TREN DIA BAN
QUAN HOAN KIEM
2.2.1 Hiện trạng phát sinh rác thai
Trang 42.2.2 Hiện trạng thu gom rác thải
2.2.3 Một số đánh giá về thực trạng thu gom rác thải trên địa bàn Quận
2.2.3.1 Nhận thức của cộng đồng
2.2.3.2 Vai trò của cán bộ công nhân viên vệ sinh môi trường
2.2.3.3 Đánh giá thực trạng thu gom rác thải
PHAN In
MÔ HÌNH PHAN LOAI RAC THA! TAI NGUON TREN BIA BAN QUAN HOAN KIEM
3.1 SUCAN THIẾT, Ý NGHIA VA MUC TIEU CUA VIEC PHAN LOAI RAC TAI NGUON
3.2 CO SG XAY DUNG MO HINH PHAN LOAI RAC THAI TAI NGUỒN
3.2.1 Cơ sở pháp lý
3.2.3 Cơ sở thực tiến
3.3 PHƯƠNG ÁN THỰC HIEN MO HINH PHAN LOẠI, THU GOM RAC THAI TAI NGUON
3.3.1 Mô hình phân loại, thu gom rác thải tại nguồn
3.3.2 Vị trí thu gom phân loại rác thải tại nguôn trên địa bàn quận Hoàn Kiếm
3.4 GIẢI PHÁP VÀ KẾ HOẠCH THỰC HIỆN MÔ HÌNH PHÂN LOẠI THU GOM RÁC THÁI
TẠI NGUỒN
3.4.1 Giải pháp thực hiện:
3.4.2 Kết quả thực hiện thử nghiệm phân loại rác tại nguồn trên địa bàn
phường Phan Chu Trinh
3.4.2.1 Thiết kế mô hình và soạn thảo tờ rơi
3.4.2.2 Tổ chức hội thảo góp ý về mô hình phân loại, thu gom và mẫu tờ rơi
CÔNG NGHỆ XU LY CHAT THAI HOU CO LAM PHAN BON 6 QUI MO TRANG TRA
4.1 CO SO KHOA HOC VA THUC TIEN CUA CONG NGHE XU LY CHAT THAI HOU CO
THANH PHAN BON
4.2 XÂY DỰNG CÔNG NGHỆ XỨ LÝ CHẤT THÁI HỮU CƠ THÀNH PHÂN BÓN Ở QUI
MÔ TRANG TRẠI
Trang 54.3.4 Kết quả các đợt thử nghiệm
4.3.5 Giá thành sản phẩm
4.3.6 Kết quả thử nghiệm trên một số loại cây trồng
v
NGHIEN COU XAY DUNG CONG NeNE TAI CHE RAC THAI NILON
LAM VAT LIEU XAY DUNG 5.1 NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ TAI CHE RAC THAI NILON DE SAN XUAT VAT LIEU
XAY DUNG
5.1.1 Định hướng công nghệ tái chế và các sản phẩm tái chế
5.1.2 Giới thiệu các loại ván ép nhựa từ nhựa phế thải
5.1.2.1 Ván ép nhựa hỗn hợp
5.1.2.2 Ván ép nhựa từ HDPE phế thải
5.1.2.3 Ván ép nhựa — sợi (vần composite) từ nhựa phế thải
5.1.3 Nghiên cứu chế tạo ván composite từ nilon phế thải
5.1.3.1 Vài nét vé vat liéu polyme composite (PC)
5.1.3.2 Vật liệu PC trên cơ sở hỗn hợp nhựa phế thải và sợi thực vật
5.1.3.3 Nguyên vật liệu chế tạo ván ép và phương pháp thứ
5.1.3.4 Kết quả nghiên cứu
5.2 NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ LÃO HOÁ CỦA VÁN ÉP NHỰA PHẾ THÁI TRONG MÔI
TRƯỜNG THỜI TIẾT KHÁC NHAU
5.2.1 Phương pháp thử nghiệm
5.2.2 Kết quả thử nghiệm
5.2.2.1 Su thay đổi tính chất cơ lý của vật liệu nhựa phế thải sau thử
nghiệm bức xạ tử ngoại nhiệt ẩm
5.2.2.2 Sự thay đổi tính chất cơ lý của vật liệu polyme phế thải sau thử
nghiệm trong môi trường nước muối
5.2.2.3 Sự thay đổi cấu trúc của vật liệu nhựa phế thải sau thử nghiệm bức
xạ tử ngoại nhiệt ẩm 5.3 NGHIÊN CỨU ĐỘ AN TOÀN TỚI MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH VÀ SỨC KHỎE
CON NGƯỜI CỦA CÁC SẲN PHẨM TA! CHE
5.4 NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ CHẾ TẠO THIẾT BỊ XỬ LÝ TÁI CHẾ RÁC THÁI NILON
5.4.1 Sơ đồ công nghệ
5.4.2 Các thiết bị xử lý rác thải nilon
5.4.2.1 Máy xay cắt nilon phế thải
5.4.2.2 Máy rửa, tách loại tạp chất
3.4.2.3 Máy sấy nilon phế thải
5.4.3 Các thiết bị gia công sản phẩm
Trang 65.5 SAN XUAT THU NGHIEM CHE TAO VAN EP NHUA TU RAC THAI NILON
5.5.1 Xây đựng qui trình chế tạo ván ép nhựa từ nilon phế thải
5.5.3 Sơ bộ tính toán giá thành và hiệu quả kinh tế của ván ép nhựa
5.5.4 Thử nghiệm sử dụng ván ép nhựa làm cốp pha trong xây dựng
5.6 ĐỀ XUẤT CÁC PHƯƠNG ÁN ĐẦU TƯ CÁC DÂY CHUYỀN XỬ LÝ TÁI CHẾ RÁC
THÁI NILON
5.7 NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÁC MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC QUÁ TRÌNH XỬ LÝ TÁI
CHE RAC THAI NILON
PHAN VI
BỀ KUẤT C0 CHẾ CHÍNH SÁCH GIẢI PHÁP THYC WIEN CONG TAC PHAN LOAI RAC
THÁI TẠI NGUỒN VA PHAT TRIEN CÁC CÔNG NGHỆ TAI CHE
6.1.5 Về đất đai và qui hoạch kiến trúc đô thị
6.1.6 Về cá nhân và tổ chức tham gia công tác thu gom phân loại rác thải tại
nguồn và tái chế rác nilon
6.2 TẠO NGUỒN LỰC
6.3 HỖ TRỢ KỸ THUẬT
6.3.1 Tổ chức tuyên truyền, giáo đục quân chúng nhân dân
6.3.2 Tổ chức các lớp tập huấn
6.3.3 Các trợ giúp kỹ thuật quốc tế
6.4 TỔ CHỨC KIỂM TRA, GIÁM SÁT VIỆC THỰC HIEN PHAN LOAI, THU GOM RAC
THAI TẠI NGUỒN,
6.5 GIẢI PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH CƯỠNG CHẾ
PHAN VII KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trang 7PHAN PHU LUC
PHU LUC 1: KET QUA DIEU TRA, KHAO SAT TINH HINH PHAT SINH VA THU GOM RAC
THAI TAI 18 PHUONG TREN BIA BAN QUAN HOAN KIEM
PHU LUC 2: VI TRI BAT CAC THUNG BE THU GOM, PHAN LOAI RAC THAI TAI NGUON
TREN BIA BAN CAC PHUONG CUA QUAN HOAN KIEM
PHU LUC 3: KET QUA THU NGHIEM MO HINH PHAN LOAI RAC THAI TAI NGUON G
PHƯỜNG PHAN CHU TRINH, QUAN HOÀN KIẾM
PHU LUC 4; QUI TRINH CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO VẬT LIEU BAO CHE TU RAC THAI NILON
PHU LUC 5: QUI TRINH CONG NGHE CHE TAO VAT LIEU CACH AM, CACH NHIET TU RAC
THAI NILON
PHU LUC 6; KET QUÁ NGHIÊN CỨU ĐỘ AN TOÀN TỚI MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH VÀ
SỨC KHỎE CON NGƯỜI CỦA CÁC SẲN PHẨM TÁI CHẾ
PHỤ LUỤC 7: BẢO CÁO PHƯƠNG ÁN DAU TU DAY CHUYỀN XỬ LÝ TÁI CHẾ RÁC THÁI
NILON LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG CÔNG SUẤT 10 TẤN/NGÀY
PHỤ LỤC 8; BẢO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MOI TRUONG CUA CAC QUÁ TRÌNH XỬ LÝ,
TAI CHE RAC THAI NILON LAM VAT LIEU XAY DỰNG
PHU LUC 9: CAC TAI LIEU CO LIEN QUAN CUA DY AN.
Trang 8? 4
MO DAU
Tái chế phế thải nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tiết kiệm tài nguyên
đã và đang được quan tâm ở bất cứ quốc gia nào muốn phát triển kinh tế bên vững
Do những tiện ích và thói quen tiêu dùng nên các sản phẩm nhựa, đặc biệt là các bao
bì nhựa đang được dùng ngày càng nhiều Điều đó dẫn đến lượng nhựa phế thải trong
rác thải càng lớn, gây nên những sức ép lớn về môi trường ở nhiều quốc gia trên thế
giới cũng như ở Việt Nam
Việc phân loại rác thải tại nguồn, thu gom, vận chuyển và xử lý tái chế là
những mục tiêu lớn trong chiến lược quản lý chất thải rắn của các đô thị của Việt
Nam Tuy nhiên ở nước ta điều này còn đang rất mới lạ trong xã hội, cần phải có thời
gian để tạo thói quen và thực hiện Chính vì vậy trong giai đoạn đầu các cơ quan quản
lý môi trường và các nhà khoa học Việt Nam đang cố gắng xây dựng các mô hình phân loại rác tại nguồn (PLTN), xây đựng các công nghệ xử lý, tái chế phế thải phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam
Việc sản xuất và tiêu dùng của các sản phẩm nhựa ngày càng tăng, theo các số liệu gần đây nhất thì ngành công nghiệp nhựa có mức tăng trưởng trong những năm gần đây vào khoảng 25 % [1] Sự tăng trưởng này sẽ còn cao theo sự phát triển kinh
tế của nước ta trong những năm sắp tới Các sản phẩm nhựa ngày càng được đùng nhiều thì nhựa phế thải sẽ ngày càng lắm Ví dụ: thành phần nhựa và túi nilon trong rác thải sinh hoạt của Thành phố Hà Nội các năm 1995, 1996, 1997 tương ứng là 1,7%, 3,2% và 5,7% Chỉ riêng năm 1997 cả nước ta đã có 40.000 tấn túi nilon sau tiêu dùng được thải ra môi trường [2]
Các loại nhựa phế thải nếu được thu gom, xử lý và tái chế sẽ là những nguyên
liệu tốt và rẻ tiền để sản xuất nhiều sản phẩm có ích cho con người Ở nhiều nước trên thế giới các sản phẩm được làm từ nhựa phế thải như ván nhựa thay thế gỗ, các loại
vật liệu composite đã trở nên thông dung [3]
Việc nghiên cứu các công nghệ tái chế nhựa phế thải để sản xuất VLXD mang lại nhiều lợi ích to lớn vừa góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường vừa tiết kiệm tài
nguyên lại vừa tạo ra những sản phẩm VLXD có chất lượng tốt, giá thành rẻ rất cần
thiết cho nhu cầu phát triển nhà của nhân dân ta đặc biệt là những vùng ngập lụt và
vùng ven biển nước ta
-_ Xuất phát từ nhu cầu thực tế phải đổi mới phương pháp quản lý chất thải rắn đô
thị, xây dựng mô hình phân loại rác tại nguồn, xây dựng các công nghệ xử lý, tái chế phế thải nên Bộ Khoa học Công nghệ, và Cục Bảo vệ Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã giao nhiệm vụ cho Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng chủ trì thực hiện nhiệm vụ trọng điểm bảo vệ môi trường cấp Nhà nước “Công nghệ thu gom, vận
chuyển và xử lý rác thải nilon và chất thải hữu cơ”
1 Mục tiêu của nhiệm vụ:
- Xây dựng và triển khai mô hình thí điểm tại quận Hoàn Kiếm TP Hà Nội về quy
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điểm BVMT cấp NN: ”Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải nilon và chất thải hữu cơ” — Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 1
Trang 9trình phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải ran sinh hoạt, đặc biệt chú
trong rac thai nilon va chat thai hữu cơ
- Mục tiêu trước mắt của Nhiệm vụ là thiết lập công nghệ xử lý rác thai nilon va
chất thải hữu cơ nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường do chúng gây ra
- Mục tiêu lâu đài là xây đựng các ngành sản xuất vật liệu dựa trên việc tái chế rác
thải nilon, và tận dụng chất thải hữu cơ để chế biến thành phân bón hữu ích cho nông
nghiệp
- Đề xuất các cơ chế chính sách, các biện pháp để từng bước quản lý tốt chất thải rấn đô thị góp phần xây dựng thủ đô xanh sạch đẹp
2 Phạm vi và đối tượng của nhiệm vụ:
Phạm vi và đối tượng của nhiệm vụ tập trung vào rác thải sinh hoạt của quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
3 Các nội dung thực hiện của nhiệm vụ
Công tác thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý tái chế rác thải nilon và chất thải hữu cơ hiện nay của các đô thị của nước ta nói chung và của thủ đô Hà Nội nói riêng còn rất nhiều vấn để cần phải giải quyết thậm chí rất bức xúc Điều này đòi hỏi chúng ta phải có những mô hình phân loại tại nguồn và phải có những công nghệ xử
lý tái chế thích hợp để có thể thay đối cơ bản trong quản lý chất thải rắn đô thị Dự án này được giao những nhiệm vụ cụ thể nhằm xây dựng các mô hình phân loại rác thải tại nguồn và xây dựng các công nghệ xử lý tái chế kèm theo Các mô hình trước mất
sẽ được thử nghiệm tại một phường của Quận Hoàn Kiếm sau đó sẽ tổng kết rút kinh
nghiệm để nhân rộng lên toàn Quận sau đó là toàn thành phố và các đô thị khác
Có thể nói rằng tái chế phế thải có vai trò rất quan trọng trong việc xử lý rác thải Trong dự án này lần đầu tiên việc phân loại rác tại nguồn được kết hợp với xử lý
tái chế rác thải và 2 công việc này có quan hệ rất mật thiết với nhau bởi những điểm
là nơi phát sinh các bệnh truyền nhiễm Thành phần nhựa chiếm 4,7% là thành phần khó phân huỷ đang gây bức xúc nhất về mặt môi trường của thành phố Hà Nội hiện nay Chính vì vậy dự án được giao nhiệm vụ tập trung vào xây dưng các công nghệ tái chế rác thải nilon làm vát liêu xây dưng và chất thải hữu cơ làm phân bón hữu
ích cho nông nghiệp
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điểm BVMT cấp NN: "Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải nilon và chất thải hữu cơ” — Viện Vật liệu xảy dựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 2
Trang 10Công nghệ xử lý chất thải hữu cơ làm phân bón đã được ứng dụng để sản xuất
với qui mô lớn ở các nhà máy chế biến phế thải tại Hà Nội và một số thành phố khác
trong cả nước, do đó trong dự án này chúng tôi được giao nhiệm vụ xây dựng mô
hình và công nghệ xử lý chất thải hữu cơ ở qui mô nhỏ áp dụng cho các trang trại nhằm có được các mô hình thật linh hoạt dễ thực hiện cho bà con nông dân ở các trang trại sử dụng phế thải của chính các trang trại và một phần chất thải hữu cơ từ
rác thải sinh hoạt đô thị để làm phân bón vi sinh và nhằm đa dạng hoá các loại hình
- _ Thửnghiệm mô hình phân loại rác tại nguồn trên địa bàn một phường
- _ Xây dựng các công nghệ tái chế rác thải nilon ở qui mô pilot và chất thải hữu cơ ở qui mô trang trại
- _ Nghiên cứu các tính chất của vật liệu tái chế từ rác thai nilon
- _ Nghiên cứu thiết kế chế tạo các thiết bị để xử lý và tái chế rác thải nilon làm vật
liệu xây dựng ở qui mô pilot
-_ Sản xuất và ứng dụng thử các sản phẩm tái chế từ rác thải nilon để làm vật liệu
xây dựng và chất thải hữu cơ làm phân bón hữu cơ cho nông nghiệp
- _ Xây dựng các phương án đầu tư các dây chuyên xử lý tái chế rác thai nilon làm vật liệu xây dựng
- Nghiên cứu đánh giá tác động môi trường và đề xuất các giải pháp ngăn ngừa và giảm thiểu ô nhiễm phát sinh của các quá trình xử lý tái chế rác thai nilon gay ra
- _ Đề xuất các cơ chế chính sách nhằm quản lý chất thải rắn tốt hơn và phát triển các
công nghệ tái chế phế thải
4 Các phương pháp nghiên cứu và thực hiện
Để thực hiện được những mục tiêu và nội dung đã đề ra chúng tôi đã sử dụng
những phương pháp thực hiện có hiệu quả nhất như:
Phương pháp kế thừa: Căn cứ trên kết quả của các nhiệm vụ đã thực hiện trước
đây tại Việt Nam hoặc những kinh nghiệm của các nước trên thế giới qua đó đúc
kết và xây dựng nên những mô hình thu gom, phân loại rác tại nguồn, các công
nghệ vận chuyển và xử lý rác thải
- Phương pháp trực tiếp: Nhóm thực hiện nhiệm vụ trực tiếp tiến hành điều tra, khảo sát và xây dựng mô hình phân loại rác tại nguồn, nghiên cứu xây đựng các công nghệ tái chế phế thải
- Phương pháp chuyên gia: Dự án đã sử dụng có hiệu quả sự tư vấn hỗ trợ của nhiều chuyên gia, các nhà quản lý và nghiên cứu trong và ngoài nước, đặc biệt là các
Béo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điểm BVMT cấp NN: "Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải nilon và chất thải hữu cơ” — Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 3
Trang 11chuyên gia của các Trường đại học, các Viện nghiên cứu của Hàn Quốc về các công
nghệ tái chế nhựa phế thải
5 Các cơ quan phối hợp
Nhiệm vụ được thực hiện với sự phối hợp của các cơ quan:
Công ty Môi trường Đô thị Hà Nội thuộc SỞ giao thông công chính thành phố Hà Nội
Trung tâm Tư vấn Công nghệ Môi trường thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
Sở Khoa học Công nghệ Môi trường thành phố Hà Nội
Uỷ ban nhân đân quận Hoàn Kiếm
Uỷ ban nhân dân và các tổ chức Đảng, Đoàn thể, Xã hội của phường Phan
Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm
Ngoài ra chúng tôi còn nhận được sự chỉ đạo hỗ trợ và hợp tác của các cơ quan
sau:
Lãnh đạo và Vụ Kế hoạch — Tài chính, Bộ Khoa học Công nghệ
Lãnh đạo và các Vụ Quản lý Môi trường, Cục Bảo vệ Môi trường của Bộ
'Tài nguyên và Môi trường
Lãnh đạo và các Vụ Khoa học Công nghệ, Vụ Vật liệu xây dựng của Bộ
Xây dựng
Viện Kỹ thuật nhiệt đới, Trung tâm KHTN&€CNQG
Phòng Khí sinh học, Viện Năng lượng, Bộ Công nghiệp
Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường — Bộ Y tế
Các nhà nghiên cứu của Trường Đại học Chonbuk và Đại học Suwon, Hàn Quốc
Tổ chức SWISSCONTACT về Tái chế và Môi trường tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chúng tôi xin chân thành cám ơn sự phối hợp, sự chỉ đạo, sự tư vấn, giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức và các cá nhân nói trên
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điểm BVMT cấp NN: "Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải nilon và chất thải hữu cơ” — Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 4
Trang 12PHAN |
TONG QUAN TINH HINH THU GOM PHAN LOAI, VAN GHUYEN VA XU
LY TAI CHE RAC THAI NILON VA CHAT THAI HUU CO
1.1 TINH HINH THU GOM, PHAN LOẠI, VẬN CHUYỂN RAC THAI TREN THE GIGI VA 6 VIET NAM
1.1.1 Kinh nghiệm thu gom, phân loại, vận chuyến rác thải trên thế giới
Quản lý chất thải rắn bao gồm từ việc thu gom, phân loại vận chuyển, xử lý và tái chế là những vấn đẻ rất quan trọng để xử lý ô nhiễm môi trường Ở các nước phát triển điển hình như Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu trình độ quản lý chất thải rắn đã ở mức
cao, từ việc phân loại rác thải tại nguồn, thu gom, vận chuyển cho tới việc xử lý, tái
chế các loại chất thải đã được tổ chức rất tốt, từ các chính sách pháp luật, công cụ
kinh tế, cơ sở hạ tầng tốt và nguồn kinh phí cao, có sự tham gia của nhiều thành phần
trong xã hội Ngoài ra để thực hiện tốt được công tác thu gom, phân loại tại nguồn,
thì trình độ dân trí của cộng đồng dân cư đóng một vai trò đặc biệt quan trọng
Tại các nước châu Á điển hình như Nhật bản, Hàn Quốc ở những nơi công cộng và các tuyến phố rộng thoáng người ta đã sử dụng thùng 4 ngăn để thu gom phân loại rác thải từ khách du lịch, khách vãng lai và khu vực lân cận là hoàn toàn
hợp lý(xem hình !) Mặt khác, do trình độ dân trí cao nên việc bới, lượm các loại
vỏ chai, vỏ hộp không diễn ra như ở nước ta Vì vậy, vấn đề thu gom, phân loại rác thải tại Hàn Quốc được thực hiện một cách đơn giản hơn so với nước ta Tại các khu vực đân cư của Hàn Quốc rác cũng được phân loại, thu gom đưa đến khu
xử lý với hình thức phân loại được chia thành 4 loại (giống như thu gom, phân loại
tại các tuyến phố) cụ thể là:
- Ngăn đựng chai lọ (chai thuỷ tỉnh)
- Ngăn đựng vỏ đô hộp thải bỏ sau sử dụng (vỏ bia, vỏ nước ngọt )
~ Ngăn đựng giấy bỏ
- Ngăn đựng các loại chất thải thực phẩm thừa (bánh mì, raw, )
Việc thu gom và vận chuyển được tiến hành riêng cho từng loại rác theo thời gian khác nhau Sau khi phân loại các phương tiện vận chuyển sẽ thu gom từng loại đến nơi xử lý với các loại chai lọ, vỏ đồ hộp, giấy chúng được tái chế thành các sản
phẩm phục vụ cuộc sống, còn các chất hữu cơ đễ phân huỷ như thực phẩm thừa được sản xuất thành phân bón hoặc chôn lấp an toàn Để có thể thực hiện được như vậy đòi
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điểm BVMT cấp NN: "Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải nïlon và chất thải hữu cơ? — Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 5
Trang 13hỏi phải có các phương tiện vận chuyển phù hợp, nhân lực phục vụ đủ lớn và trình độ
nhận thức của công đồng dân cư phải cao
Sở dĩ chúng tôi phải nhấn mạnh các điều trên là vì: như chúng ta đã biết trình
độ nhận thức của cộng đồng dân cư ở nước ta còn nhiều hạn chế, các phương tiện thu gom, vận chuyển còn thiếu chưa đáp ứng được nhu câu phân loại, vận chuyển
do điều kiện cơ sở vật chất và kinh tế còn thấp
Hình ¡: Hình thức phân loại rác thải tại nguồn của Hàn Quốc
2e 2
1.1.2 Kinh nghiệm thu gom, phân loại tại nguồn và vận chuyển rác thải ở
một số dự án thí điểm tại Việt Nam Trong những năm qua ở Việt Nam đã có một số dự án triển khai mô hình phân loại rác tại nguồn thí điểm như: Dự án “Cải thiện điêu kiện môi trường và năng lượng cho các khu chung cư cao tầng tại Hà Nội và sự tham gia của Cộng đồng
(thí điểm tại phương Thanh Xuân Bắc)” do tổ chức DANIDA của chính phủ Dan Mạch tài trợ; Dự án " Phân loại, thu gom rác thải tại nguồn trên đại bàn thị trấn Gia Lâm, huyện Gia Lâm - Hà Nội”: ngoài ra còn có một số Dự án khác trên địa bàn một
số tỉnh thành phố trong cả nước như Hải Phòng, Đà Nắng, Đến nay các dự án đã đạt
được một số kết quả nhất định như:
- Về mô hình phân loại thu gom tương đối phù hợp với điều kiện kinh tế, đời sống hiện tại của người dân Việt Nam
'Báo cáo tổng kế thực hiện nhiệm vụ trọng điểm BVMT cấp NN: ”Công nghệ thu gom, vận chuyến, xử lý
rác thải nilon và chất thải hữu cơ” — Viện Vát Hậu xây dựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003
Trang 14- Bước đầu phần lớn các hộ gia đình trong khu vực dự án đã làm quen với việc
phân loại rác thải, hiểu được tâm quan trọng và lợi ích phân loại rác thải
- Nhận thức của đa số người dân trong vùng dự án đã được nâng cao thông qua
các hoạt động của dự án như: người dân đã tự giác, tự chịu trách nhiệm trong công tác
phân loại thu gom rác bỏ vào túi nilon theo từng loại như mô hình đã đẻ ra, không vứt rác bừa bãi ra đường
Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn một số tồn tại:
- Khi thực hiện mô hình phân loại, thu gom rác thải sinh hoạt ở đây chưa đồng
bộ, chưa triệt để ở chỗ khi rác thải sinh hoạt của người dân đã được phân loại theo
đúng yêu cầu, thì đến giai đoạn vận chuyển chưa có xe vận chuyển 2 ngăn để chứa rác đã được phân loại Nên khi vận chuyển rác được phân loại từ các hộ gia đình lại
đổ chung vào một xe vận chuyển đi Hay tại các thùng rác trong khu dân cư chưa
được thống nhất, cụ thể hôm thì đặt 2 thùng (2 xe gom) để chứa rác đã được phân loại
hôm thì chỉ có duy nhất một thùng (1 xe gom), những hôm này người dân lại cho hai túi rác được phân loại cho vào một thùng Như vậy, vô tình đã làm mất lòng tin của người dân khi thực hiện phân loại
- Công tác tuyên truyền chưa được sâu rộng, toàn diện như chưa tập huấn cho các bộ địa phương đúng mức, chưa đặt các thùng phân loại thu gom tại các khu vực công cộng để giáo dục ý thức người dân về việc phân loại rác thải tại nguồn Nên vẫn
còn xuất hiện một số cá nhân không tuân thủ theo mô hình phân loại rác thải tại
nguồn
- Công tác thu gom phân loại rác thải tại nguồn chỉ được thực hiện trong thời
gian thực hiện dự án Khi hết thời gian thực hiện đự án không còn kinh phí để duy
trì Nên đây cũng là một trong những nguuyên nhân làm cho dự án không đạt được kết quả nhất định
Những tồn tại trên là một trong những nguyên nhân chính làm cho dự án phân loại, thu gom rác thải tại nguồn chưa được triển khai nhân rộng Đó cũng chính là
những bài học kinh nghiệm để dự án này được thực hiện tốt hơn
1.2 BẢN CHẤT VÀ HÀM LƯỢNG CỦA RÁC THÁI NILON TRONG RÁC THẢI SINH HOẠT
Rác thải nilon trong rác thải sinh hoạt thực chất là các bao bì bằng nhựa
polyethylene (PE) hoặc polypropylene (PP) sau tiêu dùng trở thành rác thải Tuy nhiên trong rác thải sinh hoạt còn có các loại nhựa khác cũng là các đồ nhựa phế thải
Vì vậy rác thải nilon thực chất là một hỗn hợp nhựa trong đó chiếm phần lớn là nhựa
PE Để có thông tin về các loại nhựa đó chúng ta hãy tìm hiểu bản chất các loại nhựa
trong rác thải
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điểm BVMT cấp NN: ”Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thai nilon và chất thải hữu cơ”? ¬ Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 7
Trang 151.2.1 Khái quát về các loại nhựa và nhựa phế thải
a) Các loại nhựa: Nhựa được điều chế từ dầu mỏ Nó thuộc nhóm nguyên liệu hóa
học, chiếm khoảng 4% trong dầu mỏ [4]
Cấu trúc cơ bản của một số nhựa thông dụng như sau:
Khi thay thế các nguyên tử hydro bằng các gốc hoặc các nhóm chức khác sẽ tạo được các loại nhựa khác nhau với các tính chất hoàn toàn khác nhau
Có thể kể tên một số loại chính thường gặp trong rác thải sau đây:
- X=H: Polyethylene (LDPE, HDPE )
- X=C1: Polyvinyl chlorid (PVC)
- X=C,H, : Polystyrene (PS)
Ngoài ra trong rác thải ta thường gặp loại nhựa Polyester là nhựa Polyethylene
terephthalate (PET) có cấu trúc hoá học như sau:
H otf \ tc —cr—0 H
n
Polyethylene terephthalate (PET)
Vật liệu nhựa đã được phát triển từ những năm đâu thế kỷ 20, được ứng dụng
nhiều trong đời sống, sản xuất và quốc phòng Nhiều loại đã thay thế các vật liệu
truyền thống như gỗ, thủy tỉnh, giấy, sắt thép, làm bao bì, làm các chỉ tiết máy móc
trong các ngành như xây đựng, điện, điện tử, ô tô,
Sản lượng nhựa trên thế giới tăng bình quân hàng năm khoảng 3,5% Năm
1997 tổng sản lượng nhựa nói chung của thế giới là 127 triệu tấn, riêng Tây Au 27,978 triệu tấn (trong đó LDPE chiếm 20,5%, HDPE: 14%) [3]
Chỉ tính riêng LDPE năm 1999 thế giới đã sản xuất 27,4 triệu tấn, năm 2000: 33,8 triệu tấn; HDPE năm 1999 là 16,3 triệu tấn, năm 2000: 20,6 triệu tấn
Sản lượng LDPE của châu Á năm 1999 là 5,5 triệu tấn, năm 2000: 7,8 triệu tấn; HDPE năm 1999 là 4,3 triệu tấn, năm 2000: 6,5 triệu tấn [4] Các quốc gia sản
xuất nhựa lớn nhất thế giới là Mỹ, Đức, Nhật Bản, Nga, Pháp, Anh
Số liệu thống kê mức tiêu thụ nhựa bình quân đầu người của một số nước trên thế giới năm 1994 như sau: Đài Loan 144 kg/người/ năm; Mỹ 108 kg/người/ năm;
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điểm BVMT cấp NN: "Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải nilon và chất thải hữu cơ” — Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây đựng, Hà Nội - 2003 8
Trang 16Singapore 105,5 kg/ngudi/ nam; Nhat Ban 85 kg/ngườinăm; Hàn Quốc 79,4 kg/người/ năm [5, 6] Trong khi đó mức tiêu thụ nhựa ở Việt Nam còn rất khiêm tốn:
3,5 kg/người/ năm Năm 1998 mức tiêu thụ nhựa ở Việt Nam đã tăng lên, đạt 5,3
kg/người/năm và con số này của năm 2003 đã là 15 kg/người/ năm [7]
Cơ cấu sản phẩm nhựa của Việt Nam chưa cân đối Mặt hàng bao bì trong sản phẩm nhựa chiếm 25 + 30%, còn lại chủ yếu là đồ gia dụng (5Š + 65%); các sản
phẩm công nghiệp chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn (8 + 10%)
Sản phẩm nhựa phân bố theo vùng cũng không cân đối, tập trung 80% ở các cơ
sở sản xuất phía Nam, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh, Miễn Bắc chỉ chiếm 15%
tổng sản lượng nhựa, tập trung chủ yếu ở Hà Nội, Hải Phòng [41]
Tổng sản lượng nhựa của nước ta ước tính năm 2002 đạt 0,9 triệu tấn, định
hướng phát triển cho những năm 2005, 2010 và 2020 là 1,5; 1,7 và 2,3 triệu tấn [1]
b) Nhựa phế thải
Tất cả các đồ vật bằng nhựa sau tiêu dùng thải ra môi trường đều trở thành
nhựa phế thải Từ bản chất các loại nhựa, có các sản phẩm và phế liệu sau:
- Nhựa LDPE: túi nilon (bao gói thức ăn, gói hàng tiêu dùng), các loại vỏ chai đựng dịch truyền, xi lanh tiêm,
- Nhựa cứng HDPE: các loại chai dầu gội đầu, chai sữa tươi, hộp đầu nhớt, các
đồ gia dụng bằng nhựa (xô, chậu, bàn, ghế, .)
- Nhựa PET: vẻ chai nước khoáng, nước mắm, dầu ăn,
- Nhựa PVC: ống nước, tấm sóng bằng nhựa, đây điện,
- Nhựa PP: bao bì xác rắn, một số loại nhựa cứng,
- Nhựa PS: hộp xốp bọc vỏ máy, vỏ bút bị, cốc uống nước,
Nhựa phế thải sau sử dụng phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, gồm các nguồn
sau đây:
- Từ các hộ gia đình: túi nilon, bìa sách, vở học sinh, chai lọ gội đầu, dầu ăn, ống nước hỏng
- Từ các Trung tâm thương mại, siêu thị: túi nilon, bao gói,
- Dịch vụ ăn uống, giải khát: cốc, thìa, bao gói nilon,
- Dịch vụ gội đầu: các chai đựng đầu gội đầu, kem dưỡng da, lọ đựng hóa chất,
- Các bệnh viện, Trạm y tế: bao, túi nilon, xi lanh nhựa, chai lọ nhựa, phim
chụp X-quang, dây truyền máu,
- Các phòng thí nghiệm: bao túi, chai đựng hóa chất bằng nhựa,
- Dịch vụ sửa chữa xe, máy: chai đựng dầu, đựng axit, ac qui,
Các trung tâm sửa chữa điện tử, điện lạnh: các chỉ tiết thay thế, vỏ thùng, hộp
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điểm BVMT cấp NN: "Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải nHlon và chất thải hữu cơ? — Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 9
Trang 17- Dịch vụ phim ảnh: phim nhựa, vỏ và lõi phim,
- Xây dựng: ống nhựa, tấm lợp,
- Nông, lâm nghiệp: ống nhựa, túi nilon,
Thực tế nhựa phế thải và phế phẩm nhựa (chất thải ra trong quá trình gia công
các sản phẩm bằng nhựa) có thể sử dụng lại tại cơ sở sản xuất vật liệu nhựa Trong
trường hợp này chất lượng của các sản phẩm tái chế không thua kém nhiều so với sản
phẩm từ nhựa nguyên khai
Riêng nhựa phế thải sau sử dụng thường bị nhiễm bẩn và thường bị thải lẫn
cùng các loại rác thải khác do đó gây ảnh hưởng xấu tới môi trường Đối với loại phế thải này cần phải thu gom, phân loại và xử lý (sử dụng lại, tái chế, thiêu đốt hoặc chôn lấp )
1.2.2 Tình hình phát sinh nhựa phế thải trên thế giới và trong nước
Theo số liệu thống kê năm 1997 lượng chất thải rắn của Mỹ là 217 triệu tấn
trong đó có 21,5 triệu tấn nhựa phế thải chiếm 9,9% [8]
Bảng 1: Tỷ lệ (%) nhựa phế thải trong rác thải sinh hoạt
TT Khu vực / Nước / Thành phố % nhựa phế thai
trong rác sinh hoạt
13 _| Nước có thu nhập 750-5000 USD/ng.năm [13] 2-6
14_ | Nước thu nhập bình quân cao (> 5000 USD/ng.năm) [13] 2-10
Lượng nhựa phế thải của các nước Tây Âu năm 1994 từ tổng các nguồn thải là
17,505 triệu tấn, trong đó nhựa phế thải từ nguồn sinh hoạt chiếm khoảng 60%, nhựa phế thải từ các ngành công nghiệp lớn chiếm ~ 5,4%, còn lại là nhựa phế thải từ các
ngành khác (chiếm ~ 34,6%) [3]
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điểm BVMT cấp NN: "Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải nilon và chất thải hữu cơ” — Viện Vật liệu xây đựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 10
Trang 18Riêng trong rác thải sinh hoạt, tỷ lệ nhựa phế thải chiếm từ 1% tới 10% tùy thuộc mức độ phát triển ngành công nghiệp nhựa ở từng nước, từng thành phố, thói quen sinh hoạt, mức thu nhập thấp hay cao, v.v Bảng 1 trình bẩy kết quả điều tra
được trích dẫn từ các tài liệu [3, 9, 10, 11]
1.2.3 Thành phần của rác thải nilon và các loại nhựa phế thải khác trong rác
thải sinh hoạt
Theo những kết quả của nhiều cuộc điều tra và nghiên cứu trước đây thì thành phần nhựa trong rác thải sinh hoạt bao gồm nhiều loại nhựa phế thải Kết quả điều tra
của nhóm thực hiện dự án về thành phần rác thải sinh hoạt của quận Hoàn Kiếm cho
thấy nhựa và túi nilon chiếm 4,69% trong rác thải
Hình 2: Tỷ lệ các loại nhựa phế thải tính trên tổng thành phần nhựa trong rác thai [13]
Kết quả điều tra dự án cho thấy trong tổng thành phần nhựa chứa chủ yếu là các
túi nion (LDPE) (gần 78%) Ngoài ra trong số này còn chứa hơn 205 là các loại nhựa
khác như đã kể ở mục 1.2.1 b như đã trình bây ở Hình 2
1.2.4 Tình hình tái chế rác thải nilon và các nhựa phế thải khác trên thế giới
và ở Việt Nam
1.2.4.1 Tình hình tái chế rác thải nilon và nhựa phế thải khác trên n thế giới
Tái chế: là hoạt động thu hồi lại từ chất thải các thành phần có thể sử dụng để chế
biến thành các sản phẩm mới sử dụng lại cho các hoạt động sinh hoạt và sản xuất Trong các loại hình tái chế người ta phân loại các loại tái chế như sau:
-_ Tái sử dụng: sản phẩm sau khi sử dụng được giữ nguyên về chất liệu kết cấu và hình đáng cũng như chức năng ban đầu Chúng được đưa vào một chu trình sản xuất — lưu thông- tiêu đùng — phế thải Ví đụ bao bì dùng nhiều lần như chai đựng bia, nước ngọt vỏ phi can nhựa
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điểm BVMT cấp NN: "Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải nilon và chất thải hữu cơ? — Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 11
Trang 19- TAi tạo giá trị: là một quá trình mà trong đó chất liệu kết cấu ban đầu được tái tạo lại thông qua một quá trình xử lý Hình thái ban đầu và mục đích sử dụng ban đầu
có thể được tái tạo Ví dụ tái sinh sắt phế liệu, thuỷ tinh phế liệu, giấy phế liệu, nhựa
hế liệu
; - Tái chế vật lý: là hình thức tái tạo giá trị nhưng vẫn giữ nguyên cấu trúc hoá học của vật liệu ví dụ như tái sinh nhựa phế thải người ta chỉ làm nóng chảy nhựa trộn với
nhựa nguyên sinh và đùn ép hoặc thổi thành những vật liệu mới
- Tái chế hoá học: là hình thức tái tạo trong giá trị đó vật liệu được tái chế bị những quá trình hoá học làm thay đổi cấu trúc tạo thành những vật liệu có cấu trúc
hoá học khác hẳn với trạng thái ban đầu của vật liệu ví dụ như chuyển hoá nhựa phế thải thành nhiên liệu lỏng để đốt hoặc chuyển hoá nhựa PET phế thải thành nhựa
polyester khong no lam chất kết đính cho vật liệu composite
Với những công cụ pháp luật và các chính sách vĩ mô nhiều nước trên thế giới đã
thành công trong việc tăng cường thu gom, xử lý tái chế rác thải để giảm thiểu ô
nhiễm môi trường và tiết kiệm tài nguyên Ở các nước châu Âu năm 1992 đã ban hành luật bao bì và lượng phế thải bao bì thu gom năm 1995 là 80%, ở Nhật Bản năm
1995 đã ban hành luật thu gom và tái chế bao bì và năm 1996 đã thu gom và tái chế được 1,03 triệu tấn nhựa phế thải bằng 11,3% lượng nhựa phế thải [4] Ở Hàn Quốc
tỷ lệ tái chế trong xử lý rác thải năm 1994 là 15,4%% nhưng đến năm 2000 con số này đã tăng lên 47%, ngược lại tỷ lệ chôn lấp đã hạ từ 81,1% năm 1994 xuống còn 47,0% năm 2000 [14] Các chất thải rắn trong rác thải sinh hoạt chứa chủ yếu là các chất hữu cơ, các loại bao bì phế thải từ cuộc sống hàng ngày của con người như nhựa, giấy, kim loại, thuỷ tinh sành sứ, vật liệu xây dựng vvv
1.2.4.2 Tình hình tái chế rác thải nilon và nhựa phế thải ở Hà Nội
Ở Việt nam nói chung và Hà Nội nói riêng, các hoạt động tái chế nhựa phế thải
hiện nay hoàn toàn do tư nhân tiến hành một cách tự phát mà chưa có những trợ giúp
tích cực của nhà nước Tuy toàn bộ khâu thu gom, vận chuyển và chôn lấp hoặc xử lý
thì do các Công ty Môi trường Đô thị thuộc chính quyền địa phương đảm nhận nhưng
công việc tái chế phế thải thì hiện còn đang bỏ ngỏ Các hoạt động thu gom, mua bán các thành phần có thể tái chế được, được những người nhặt rác và thu gom phế liệu tư nhân tiến hành
Toàn bộ các hoạt động này được trình bầy ở hình 3 Tuy tiến hành một cách tự
phát nhưng các công việc từ khâu thu gom, mua bán, xử lý tái chế đều được tổ chức
khá chặt chẽ thành các hệ thống đại lý thu mua phế liệu sau đó phế liệu được xử lý tái chế tại các làng nghề thành nguyên liệu nhựa hoặc các sản phẩm hữu ích khác Lực
lượng chính để thu gom, phân loại phế thải nhựa ở các đô thị lớn là những người thu
gom, buôn bán phế liệu, và những người nhặt rác Thông thường thì người ta thu gom
cả 6 loại nhựa cơ bản có trong rác thải nhựa: PET, HDPE, LDPE, PP, PS riêng loại màng mỏng PE là túi và bao bì nilon, nhựa PS xốp hiện nay không được chú ý thu
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điển BVIMT cấp NN: "Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thai nilon và chất thải hữu cơ” — Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 12
Trang 20gom tái chế vì các cơ sở tái chế chưa biết dùng để làm gì Điều này chính là nguyên nhân sự bức xúc của vấn đẻ rác thải nilon
Nguồn sản sinh rác thải
(hộ gia đình, chợ, nhà
Người mua phế liệu
Hình 3: Sơ đồ thu gom lưu chuyển rác tái chế ở các đô thị lớn của nước ta [2]
Việc thu gom phế liệu nhựa hầu hết diễn ra theo hình thức thủ công với các phương tiện và công cụ lao động thô sơ không có những phương tiện đảm bảo vệ sinh, an toàn lao động Lực lượng thu gom nhựa phế thải chủ yếu là phụ nữ và trẻ em
từ các vùng nông thôn Phế liệu nhựa được thu gom theo các hình thức sau:
- _ Do những người nhặt rác và thu mua phế liệu từ các hộ gia đình và các nơi đổ rác
công cộng Sau đó nhựa phế liệu được các đại lý phế liệu thu mua
- Do những người nhặt rác từ các bãi rác Sau đó nhựa phế liệu cũng được các đại lý thu mua
- _ Do nhân viên thu gom của công ty Môi trường Đô thị thu gom và bán lại cho các
đại lý thu mua phế liệu
Ước tính mỗi ngày tại các bãi rác lớn như Nam Sơn và trên địa bàn TP Hà Nội,
có khoảng 600 đến 1000 người tham gia thu nhặt rác Tính riêng tại bãi rác Nam Sơn mỗi ngày có khoảng 200 đến 260 tấn phế liệu được thu gom trong đó có khoảng 7- 7,7% là phế liệu nhựa [4] Đặc điểm của loại hình thu gom này là người ta chỉ tiến hành thu gom các loại phế liệu nhựa có giá trị kinh tế cao, có khối lượng lớn, các loại túi màng, bao bì chỉ được thu mua ngay tại các cơ sở sản xuất, thương nghiệp, dịch
vụ, còn khi đã thải ra bãi rác thì chúng chỉ được thu gom rất ít đo bị nhiễm bẩn các loại rác thải khác Các loại phế liệu nhựa sau thu gom được tập trung đến các cơ sở tái
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điển BVMT cấp NN: "Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải nilon và chất thải hữu cơ” — Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 13
Trang 21chế, các làng nghề để tiến hành các bước tái chế sau Số lượng các cơ sở tái chế tuỳ
thuộc theo vùng, tập trung chủ yếu tại các tỉnh phía Nam Ở miền Bắc tập trung chủ
yếu tại một số làng nghề tại Hà Nội như Triểu Khúc (Thanh Trì), Trung Văn (Từ
Liêm), Mỹ Văn (Hưng Yên)
Hình 4: Phân loại rác thải nilon tại một cơ sở tái chế
* Phân loại: Các loại nhựa được thu gom ở các nơi được tập trung về các làng nghề, các cơ sở tái chế tách, phân loại theo mục đích sử dụng và xử lý Việc tách phân loại
mang nặng tính thủ công, đựa vào kinh nghiệm là chính
- Phương pháp cảm quan: Các loại nhựa được phân loại theo màu sắc (xanh,
đỏ, tím, vàng ), độ mềm dẻo (nhựa cứng, nhựa mềm) và được gọi theo các tên thông
thường như nhựa trắng mềm (LDPE), nhựa trắng cứng (PP), nhựa đỏ cứng (HDPE),
nhựa ngói (PVC), nhựa kính trong (PS)
- Phương pháp tuyển nổi: Các loại nhựa khác nhau sẽ có tỷ trọng khác nhau
nên chúng sẽ tách ra khỏi nhau trong nước, san khi xay nhỏ, chúng được cho vào
nước thông thường sẽ bị tách ra làm hai phần, phần nhẹ có tỷ trọng thấp hơn nước nổi lên và phần nặng có tỷ trọng lớn hơn nước sẽ chìm xuống Thực tế người ta chỉ lấy phần nhẹ, còn phần nặng không dùng cho mục đích tái chế sẽ được thải đi Nói chung phương pháp này cũng dựa vào kinh nghiệm là chủ yếu, và chỉ tiến hành với một loại dung dịch tuyển là nước nên sẽ không tách ra được các loại nhựa có tỉ trọng gần nhau (các loại nhựa có tỷ trọng nhỏ hơn nước đều cho vào cùng một loại)
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điểm BVMT cấp NN: "Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải nilon và chất thải hữu cơ” — Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003
Trang 22Nói chung công nghệ tách phân loại nhựa còn thô sơ, hiệu quả tách không cao,
nên các loại nhựa tách ra lẫn nhiều tạp chất ảnh hưởng nhiêu đến chất lượng của sản phẩm sau tái chế
* Xay, rửa: Thông thường hai công đoạn này được tiến hành trên cùng một thiết bị: Máy xay đồng thời có phun nước rửa, các thiết bị này làm việc theo kiểu bán tự động,
thường do các thợ cơ khí địa phương chế tạo và tận dụng từ các loại thiết bị khác nên
gây tiếng ồn lớn, lượng nước rửa không điều chỉnh được Công suất của một máy xay,
rửa thông thường có thể tiến hành xay được từ 300-500 kg nhựa/ngày
* Phơi khô: Phương pháp làm khô cũng mang tính thủ công, các loại nhựa sau khi
xay rửa được đem phơi khô tự nhiên trên các sân bãi công cộng, đường làng, cánh đồng Thời gian khô thường là một ngày và tuỳ thuộc vào thời tiết
* Công đoạn tạo hạt, dây: Nhựa giống được đưa vào máy đùn ép, nhựa nạp vào phéu
nạp liệu được trục vít đẩy vào trục nấu chảy, qua lưới lọc và qua lỗ định hình tạo thành dây nhựa Các dây nhựa được làm lạnh trong bể nước rồi được đưa qua các máy
xay cắt tạo hạt Nhiệt cấp cho các quá trình nóng chảy nhựa nhờ vào các dây điện trở quấn quanh xi lanh của máy đùn ép
* Công đoạn gia công sản phẩm: Chủ yếu là các công nghệ ép đùn hoặc ép phun
Nguyên liệu là nhựa tái sinh và bột màu được trộn đều trong thùng Hỗn hợp nhiên
liệu được chạy qua các vùng gia nhiệt khác nhau, được nấu chảy và chuyển ra vùng
Hình 5: Quy trình tái chế phế thải Nilon tại các làng nghề xung quanh Hà Nội [13]
Hệ thống thiết bị nói chung mang tính bán tự động, sản phẩm được tháo thủ
công Các thiết bị khi hoạt động gây tiếng ồn, toả nhiều nhiệt, bụi và các khí thải khác ra môi trường Chất lượng của các loại sản phẩm tái sinh lần một chỉ bằng 80%
Báo cáo tổng kết thực biện nhiệm vụ trọng điểm BVMT cấp NN: ”Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thai nilon va chất thải hữu co” ~ Viện Vật liệu xây đựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 15
Trang 23so với nhựa chính phẩm Các lần tái sinh sau chất lượng càng giảm dần Tính chất cơ
lí và cảm quan bên ngoài cũng giảm, tuy nhiên giá thành lại giảm hơn so với sử dụng
nhựa chính phẩm Điều đó cũng chính là động lực của các công việc tái chế nhựa phế
đúng mức nên chưa có ý nghĩa trong việc giải quyết các vấn để về môi trường
Ngược lại việc thu gom tái chế các loại phế liệu nhựa còn gây ra những ảnh hưởng xấu tới môi trường sống Nhìn chung các công việc tái chế chủ yếu diễn ra tại các làng nghề Theo các số liệu điều tra của chúng tôi [13] xung quanh Hà Nội có 3 làng nghề làm tái chế nhựa tạo việc làm cho khoảng hàng chục ngàn lao động và hàng năm tái chế được trên chục ngàn tấn nhựa phế thải
Bảng 2: Khối lượng và các sản phẩm nhựa tái chế ở các vùng xung quanh Hà Nội
TT| Làng nghề Khối lượng nhựa Các sản phẩm
1 | Triều Khúc 3500 Hạt nhựa, nhựa PET xay, dép, mắc
Đánh giá chung về các công nghệ tái chế nhựa phế thải tai Ha Noi
Đánh gía về mặt tổng thể thì công nghệ tái chế phế liệu nhựa nước ta còn nằm
ở trình độ thấp, mang tính tự phát, nặng về thủ công, thiếu sự đầu tư và quản lí của
- Kỹ thuật xay rửa tuyển nổi bằng nước chỉ phân ra được hai loại: Nhẹ, nổi
(HDPE,LDPE, PP) và nặng, chìm (PS, PET, PVC), hiệu suất phân loại chỉ đạt
khoảng 80%
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điểm BVMT cấp NN: "Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải nilon và chất thải hữu cơ” — Viện Vật liệu xảy dựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 16
Trang 24- Công đoạn giặt rửa cũng chỉ đơn giản tiến hành bằng nước thường nên không loại bỏ hết được các chất gây bẩn nhất là các loại chất độc hại như: hoá chất, thuốc trừ sâu Không thu gom và xử lí nước thải sau khi rửa
- Công đoạn sấy khô cũng còn hết sức thô sơ, chủ yếu theo kiểu phơi khô bằng
ánh nắng mặt trời nên chịu ảnh hưởng của thời tiết, sản phẩm dễ bị nhiễm bẩn
- Về mặt thiết bị thì hầu hết là các thiết bị tự chế tạo trong nước theo kiểu bán
tự động, thiếu độ chuẩn xác, tiêu hao nhiên liệu lớn, gây tiếng ồn, bụi và đa số chưa
đảm bảo các điều kiện an toàn về điện Các thiết bị hiện đại nhập ngoại thì cũng chủ yếu sử dụng các nguyên liệu ngoại nhập, chỉ có một lượng nhỏ các loại nhựa thu hồi được sử dụng
- Về mặt nhà xưởng, do đa số đều là các cơ sở sản xuất nhỏ theo kiểu kinh tế
hộ gia đình nên nhà xưởng nhỏ hẹp, không thông thoáng, không đảm bảo điều kiện
an toàn, và khả năng xử lí khi xảy ra sự cố
- Sản phẩm tái chế chưa phong phú, chất lượng không cao Nhất là sản phẩm
nhựa giống và hạt nhựa không đảm bảo được độ tỉnh khiết và sạch cho nên không thể
sử dụng để gia công các sản phẩm đòi hỏi chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật cao
- Người dân chỉ tái chế các loại phế liệu nhựa mang lại lợi nhuận cao do đó vẫn
còn một lượng lớn phế liệu nhựa, nhất là các loại túi, màng trôi nổi ngoài môi trường
và chỉ được xử lí bằng biện pháp chôn lấp
Các vấn để về mặt môi írườïng:
Hoạt động tái chế phế liệu nhựa quy mô nhỏ ở các làng nghề còn rất nhiều bất cập, gây nhiều ảnh hưởng đến môi trường, đặc biệt là ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ của cộng đồng cư đân trên địa bàn sản xuất đo các cơ sở sản xuất đều nằm lẫn trong khu vực sinh sống của người dân địa phương
- _ Những người thu gom, mua bán, phân loại phế liệu nhựa dễ bị nhiễm bệnh đo tiếp
xúc thường xuyên với các chất ô nhiễm, các vi trùng, vi khuẩn gây bệnh có trong chất thải nhựa, tại các bãi rác
- Các cơ sở tái chế phế thải nhựa không có biện pháp thu gom xử lý nước rửa phế liệu và khí thải khi gia công nhựa đã làm ô nhiễm môi trường khá nặng nề ở khu
vực xung quanh
Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hôi của việc tái chế nhựa phế thải
Như đã trình bầy ở các phần trên các hoạt động tái chế nhựa phế thải tuy mới chỉ
được các cơ sở tư nhân tiến hành nhưng đã thực sự trở thành những ngành nghề kiếm
sống của một bộ phận nhân dân trong xã hội Hoạt động thu mua và tái chế phế liệu nhựa đã không chỉ giải quyết được vấn để ô nhiễm mà còn mang lại một số lợi ích
sau:
- Hạn chế khai thác tài nguyên thiên nhiên, tiết kiệm ngân sách Nhà nước nhờ giảm nhập khẩu những loại nguyên liệu vốn không sắn có trong nước
- Giảm lượng chất thải ô nhiễm khó phân huỷ, giảm chi phí cho việc xử lý
- Giải quyết công ăn việc làm, tạo thu nhập cho một lượng lớn người lao động
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điểm BVMT cấp NN: "Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải nilon và chất thải hữu cơ” — Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 17
Trang 25- Các loại nhựa phế thải thực sự đã trở thành các nguồn hàng hoá được mua bán với những khối lượng tương đối lớn có giá trị kinh tế cao (giá buôn bán các loại nhựa
phế thải từ 1000 đồng đến 10.000 đồng/kg) -
- Môi khối lượng rất lớn các túi non đang gây ô nhiễm môi trường chua duoc thu gom tái chế vì chúng chưa trở thành hàng hoá có giá trị kính tế cao Vì vây việc
nghiên cứu những giải pháp công nghệ, những sản phẩm chế tao từ nion phế thải có
ý nghĩa vô cùng quan trong để giải quyết vấn đề rác thải mlon Khi đã có công nghệ tát chế và mục đích sử dụng thì rác thải nilon sẽ trở thành hàng hoá và việc thu gom,
xử lý tái chế sẽ được xã hôi hoá
1 3 CHẤT THÁI HỮU CƠ
1.3.1 Bản chất của chất thải hữu cơ
Chất thải hữu cơ trong rác thải sinh hoạt thông thường bao gồm các phần phế
thải của thức ăn thừa, thực phẩm, rau, lá cây và nhiều thứ khác Chất thải hữu cơ rất
để bị phân huỷ và là thành phần gây ô nhiễm nhất trong rác thải như gây mùi hôi thối,
là nơi phát sinh các bệnh truyền nhiễm, là những thành phần sinh ra nước rác
Chúng thường chiếm khối lượng và thể tích nhiều nhất trong rác thải khoảng từ 45 đến 60% tuỳ theo đặc trưng của từng vùng đân cư của các đô thị Riêng đối với quận Hoàn Kiếm của thành phố Hà Nội thì thành phần chất thải hữu cơ chiếm 47% (xem bảng 4)
1.3.2 Tình hình hình thu gom phân loại vận chuyển và xử lý chất thải hữu cơ trên thế giới
Ở các đô thị lớn trên thế giới có các điều kiện cơ sở vật chất và trình độ dân trí cao người ta đều đã và đang tiến hành việc phân loại rác tại nguồn kết hợp với thu gom và vận chuyển riêng rẽ các loại phế thải sinh hoạt và tăng cường các biện pháp
xử lý tái chế để giảm thiểu chôn lấp Để làm được việc này cần phải có sự đầu tư đầy
đủ của Nhà nước Ví dụ ở Hàn Quốc ngân sách chi cho việc tuyên truyền giảm thiểu phát thải và tái chế trong các năm gần đây ngày càng tăng (xem bảng 3 )
Bảng 3: Các khoản chi ngân sách cho thu gom, xử lý tái chế của Hàn Quốc [14]
Don vi: Tram triéu won
TT | Khoản chi ngân sách 2001(a) | 2002(b)|b-a | % Tăng
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điểm BVMT cấp NN: "Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải nilon và chất thải hữu cơ” — Viện Vật liệu xây đựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 18
Trang 26Việc tái chế chất thải hữu cơ trên thế giới chủ yếu là làm phân bón (composting) Chất thải hữu cơ sau khi phân loại và tách các thành phần khác ra được
ủ với xúc tác vi sinh để tăng tốc độ phân huỷ các chất hữu cơ thành min Mùn hữu cơ
thu được có thể dùng để bón cho cây trồng ngày hoặc cho thêm các thành phần khác
như NPK, than bùn, để nâng cao chất lượng của phân bón
1.3.3 Tình hình hình thu gom phân loại, vận chuyển và xử lý chất thải hữu cơ
ở Việt Nam và ở thành phố Hà Nội
phân loại | ——® OẠImUN | ————> phân loại
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điểm BVIMT cấp NN: "Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải nilon va chất thải hữu cơ” — Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 19
Trang 27Tại hầu hết các đô thị của Việt Nam rác thải sinh hoạt do các công ty Môi trường Đô thị địa phương thu gom, vận chuyển và xử lý Rác thải sinh hoạt không được phân loại Tất cả được thu gom, vận chuyển chung và biện pháp xử lý vẫn còn đơn giản chỉ là là chôn lấp Tại các bãi chôn lấp đang còn tồn tại nhiều vấn đề bức xúc như ô nhiễm nước rác gỉ ra thấm xuống các nguồn nước xung quanh, các chất khó phân huỷ như nhựa, túi nilon tồn tại lâu dài chiếm nhiều thể tích của bãi chôn lấp
Gần đây tại Hà Nội, Nam Định và một số thành phố khác đã đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến phế thải trong đó thiết bị và công nghệ thường nhập ngoại XÍ nghiệp chế biến phế thải Cầu Diễn, Hà Nội có công suất chế biến khoảng 150 tấn Tác/ngày, sản xuất theo công nghệ, thiết bị của Tây Ban Nha Xí nghiệp có thể sản xuất 50.000 tấn/năm phân hữu cơ vì sinh từ chất thải hữu cơ của Hà Nội (xem sơ đồ công nghệ ở hình 6) Việc đầu tư xây dựng các dây chuyền sản xuất phân bón đã mở
ra khả năng tái chế chất thải hữu cơ, giảm đáng kể lượng rác chôn lấp và còn tạo ra
được sản phẩm phân bón hữu ích cho nông nghiệp
Tuy nhiên nguồn rác thải không qua phân loại tại nguồn đưa vào nhà máy làm nguyên liệu có hạn chế là làm giảm năng suất tái chế của của dầy chuyền thiết bị Mặt khác các thành phần khác tách ra lại phải chở đến bãi chôn lấp để xử lý chôn lấp gây tốn kém và lãng phí
Sắp tới đây tại các thành phố Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh cũng đang chuẩn bị đầu tư các dây chuyên sản xuất phân bón từ rác thải hữu cơ sử
dụng công nghệ tương tự như ở Xí nghiệp chế biến phế thải Cầu Diễn nên việc nghiên cứu một mô hình phân loại rác tại nguồn để làm giầu nguồn rác hữu cơ đưa vào sản xuất đồng thời kết hợp với việc tái chế rác thải nilon tách ra từ các nhà máy này là điều hết sức cần thiết Nếu chúng ta thực hiện được phân loại tại nguồn kết hợp với tái chế tối đa lượng rác thải nilon và chất thải hữu cơ thì lượng rác chôn lấp sẽ giảm đáng
kể và rác thải sẽ thực sự trở thành tài nguyên
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điển BVIMT cấp NN: "Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thai nilon va chất thải hữu cơ” — Viện Vật liệu xảy đựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 20
Trang 28PHAN 2 HIEN TRANG PHAT SINH CHAT THAI RAN TREN DIA BAN QUAN
HOAN KIEM, THANH PHO HA NOI
2.1 KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HOI CUA QUAN HOAN KIEM
2.1.1 Vị trí địa lý
Quận Hoàn Kiếm nằm ở trung tâm thành phố Hà Nội:
- _ Phía Bắc tiếp giáp với quận Ba Đình,
-_ Phía Đông giáp sông Hồng,
- _ Phía Tây giáp với quận Ba Đình và quận Đống Đa,
-_ Phía Nam tiếp giáp quận Hai Bà Trưng
Quận Hoàn Kiếm thuộc khu vực có nhiều điểm di tích lịch sử, danh lam thắng
cảnh như: Hồ Gươm, Đên Ngọc Sơn, và nhiều di tích lịch sử văn hoá khác, (xem sơ
đồ vị trí khu vực khảo sát)
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
Là một trong 7 quận nội thành của Thành phố với diện tích toàn quận khoảng
5,29 km2, quan Hoàn Kiếm có điều kiện tự nhiên đặc trưng của Hà Nội
a Đặc điểm địa hình - thuỷ văn: Hà Nội nằm trong vùng châu thổ sông Hồng,
gồm các sông: sông Hồng, sông Đuống, sông Nhuệ, sông Cầu, sông Cà Lồ, sông
Công chảy qua địa phận Khu vực quận Hoàn Kiếm và vùng nội thành, các huyện ven nội thành nằm giữa hai con sông là sông Hồng, sông Nhuệ Độ cao nền địa hình Thành phố trung bình là +6 + +9m, thấp hơn mực nước sông Hồng (+12 + +13m) khi có lũ lớn Hà Nội có nhiều ao, hồ có tác dụng tham gia điều tiết trong hệ thống
thoát nước và điều hoà tiểu khí hậu đô thị
b Khí hậu: Khu vực mang đặc điểm của vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa
Nhiệt độ: Nhiệt độ lớn nhất vào tháng VII trung bình khoảng 29°C, nhiệt độ
trung bình thấp nhất vào tháng I; II khoảng 17°C
Đô ẩm: Hà Nội có độ ẩm khá cao, trung bình khoảng 80% Những tháng trong mùa mưa thường có độ ẩm cao, tháng cao nhất đạt khoảng 85 -86%:
Lượng mưa: Tổng lượng mưa những năm gần đây có những biến động lớn Số
ngày mưa từ 140 - 160 ngày/năm, lượng mưa lớn nhất trong 24" là 200 - 400mm,
lượng mưa lớn nhất trong 1° khoảng 93,9mm Mùa mưa bắt đầu vào tháng V, VI; kết
thúc vào khoảng tháng X, XI ; lượng mưa trong thời gian này chiếm tới 90% lượng mưa của cả năm
Bếc hợi: Lượng bốc hơi trung bình trong năm từ 800 - 1000mm Lượng bốc hơi lớn nhất vào tháng VI, lượng bốc hơi nhỏ nhất vào tháng II, IH
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điểm BVMT cấp NN: "Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải nilon và chất thải hữu co” — Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 21
Trang 29QUAN HOAN KIEM
~—
Trang 30Chế đô gió- bão: Khu vực nằm trong vùng khí hậu gió mùa, hướng gió thịnh hành trong mùa đông là hướng gió Đông Bắc Hướng gió thịnh hành trong mùa hè là gió Đông Nam, tốc độ gió trung bình khoảng 0,92 m/s Bão thường xây ra vào tháng
VI - X, bình quân có § - 10 cơn bão và áp thấp nhiệt đới trong một năm
c Môi trường địa chất Vùng Hà Nội đã được nhiều nhà địa chất nghiên cứu, Các kết quả nghiên cứu cho thấy, trầm tích Đệ tứ có bẻ day thay ddi từ 5 - 10m đến
100 - 130m bao gồm các trầm tích có nguồn gốc khác nhau hình thành từ Pleistoxen sớm đến Holoxen muộn với diện tích phân bố khoảng 800km
Nước ngầm tầng sâu của vùng khá phong phú và là nguồn cung cấp nước sạch cho sinh hoạt của khu vực nội thành Mực nước ngầm tầng sâu khá cao, cách mật đất 1,5m đến hơn 30m
2.1.3 Đặc điểm dân cư, kỉnh tế - xã hội
Hoàn Kiếm là một Quận có vị thế quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô, là nơi mà hàng năm có một lượng lớn du khách trong và ngoài nước thăm quan
Theo Niên giám thống kê năm 2001, tính đến ngày 31/12/2001 đân số toàn
quận Hoàn Kiếm là 172.800 người; mật độ dân số khoảng 32.665 người/km? Tỷ lệ
sinh là 14,90%; tỷ lệ tăng tự nhiên 10,18%
Theo kết quả điều tra tháng 11/2002 của chúng tôi, hiện toàn Quận Hoàn Kiếm thực có 48.287 hộ dân với 184.569 nhân khẩu được chia thành 977 tổ dân phố
Tổng thu ngân sách của Quận năm 2001 là 78.020 triệu đồng, trong đó chỉ
ngân sách là 75.703 triệu đồng
Theo số liệu thống kê năm 2001, toàn Quận có 11.968 hộ kinh doanh thương
nghiệp, địch vụ cá thể, 35 cơ sở sản xuất Nhìn chung tình hình sản xuất trên địa bàn
Quận khá ổn định, năm 2001 có 780 cơ sở sản xuất công nghiệp ngoài Nhà nước thu
hút 6.950 người lao động với giá trị sản xuất công nghiệp là 320.337 triệu đồng
Trên địa bàn Quận có 17 trường mẫu giáo với 128 lớp, 232 giáo viên; 15 trường
phổ thông tiểu học và 08 trường phổ thông trung học cơ sở với 315 lớp phổ thông tiểu học; 258 lớp phổ thông trung học cơ sở và 450 giáo viên tiểu học; 580 giáo viên trung học cơ sở; tổng số học sinh là 24.520 học sinh Có 02 trường phổ thông trung học với
81 lớp, 169 giáo viên và 4.175 học sinh; 04 bệnh viện (C, K, Việt Đức, Răng - Hàm - Mặt) trên toàn Quận
Nhiều cơ quan quan trọng của Nhà nước và địa phương đóng trên địa bàn
Quận như: Phủ Thủ tướng, Hội đồng Nhân dân, Uỷ ban Nhân đân Thành phố Hà Nội, Thành uỷ Hà Nội, Bộ Thương Mại, Bộ Lao động và Thương binh Xã hội, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Văn hoá Thông tin, Đài Tiếng nói Việt Nam, Ban Tuyên giáo
Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc, Báo người Công giáo yêu nước, Hội Thánh Tin
Lành,
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điểm BVMT cấp NN: "Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thai nilon và chất thải hữu cơ” — Viện Vật liệu xáy dựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 22
Trang 31Trong năm 2002, Quận đã thực hiện tốt các nhiệm vụ kinh tế - xã hội - an
ninh trật tự trên địa bàn Thực hiện tốt các chính sách xã hội, chăm sóc tốt các gia
đình thương binh liệt sỹ, gia đình chính sách, người già cô đơn, không nơi nương
tựa Đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”,
phong trào “Xanh - Sạch - Đẹp - Thanh lịch” trong nhân dân, 100% số hộ tham
gia, xuất hiện nhiều gương “người tốt - việc tốt”
Song vẫn còn một số tấn tại:
- Trật tự vệ sinh môi trường còn nhiều thiếu sót, ý thức của người dân không đồng đều, một bộ phận nhỏ còn thiếu ý thức trong công tác giữ gìn vệ sinh chung
- Trên các tuyến đường phố vẫn tồn tại hình ảnh rác vứt trôi nổi trên hè đường
hay giữa lòng đường
- Bên cạnh đó, tình hình sửa chữa nhỏ trên địa bàn Phường vẫn đang là vấn đề nhức nhối cho chính quyền cơ sở, đặc biệt là những sửa chữa không có phép trong các ngày nghỉ, ngày lễ
2.2 HIEN TRANG PHAT SINH VA TINH HINH THU GOM RAC THAI TREN BIA BAN QUAN HOAN KIEM
2.2.1 Hién trang phat sinh rac thai
phân tích 108 mẫu phân tích thành phần của rác thải và 90 mẫu rác phân tích các chỉ tiêu
như N, P;O;, hàm lượng hữu cơ, độ ẩm
2.2.1.2 Kết quả điều tra
Kết quả điều tra 4.104 hộ gia đình và cơ sở sản xuất trên địa bàn toàn Quận
(tháng X1/2002):
a Tại khu dân cư:
- Lượng rác trung bình tại các hộ có số nhân khẩu < 4 người là: 0,4752 kg/ngày/người
- Lượng rác trung bình tại các hộ có số nhân khẩu >4 người là:0,3977 kg/ngàyngười
- Lượng rác trung bình tại các hộ kinh doanh là: 0,6199 kg/ngày/người
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điểm BVMT cấp NN: ”Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải nilon và chất thải hữu cơ” — Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 23
Trang 32* Kết quả điều tra cho thấy:
- Tại các hộ dân cư:
+ Trong 18 phường thì lượng rác trung bình trên đầu người tại khu dân cư của Phường Chương Dương cao nhất (khoảng 0,68 kgingười/ngày) Vì đây là địa bàn
tương đối phức tạp, số lượng dân ngoại tỉnh đến sinh sống tại Phường chiếm tỷ lệ cao,
+ Lượng rác trung bình trên đầu người các khu dân cư tại phường Hàng Bồ (0,37 kgingười.ngày) là thấp nhất, do đặc thù của Phường này là tỷ lệ các hộ kinh
doanh, buôn bán cao nên lượng rác xả thải mỗi ngày thường nhỏ hơn các Phường
khác
- Tại các hộ kinh doanh buôn bán:
+ Lượng rác trung bình của các hộ kinh doanh tại phường Hàng Trống (0,93kg/người.ngày), phường Hàng Bông ( 0,919 kgíngười.ngày ), phường Hàng Buém (0,856 kgíngười.ngày) là cao nhất, đo trên địa bàn các Phường này có số lượng các hộ kinh doanh ăn uống chiếm tỷ lệ lớn
+ Lượng rác trung bình tại các hộ kinh doanh ở phường Hàng Gai là thấp nhất trên toàn Quận (khoảng 0,389 kgíngười.ngày) bởi các hộ ở đây chuyên kinh doanh các sản phẩm từ tôn, thiếc nên lượng rác thải sản xuất không nhiều, chủ yếu là rác
thải sinh hoạt với thành phần chính là chất hữu cơ
b Tại cơ sở sản xuất, kinh doanh:
- Lượng rác thải trung bình tại các đơn vị sản xuất, kinh doanh trên toàn Quận là:
2,82 kgingày/cơ sở
* Kết quả khảo sát cho thấy:
= Các cơ sở sản xuất trên địa bàn quận Hoàn Kiếm khá nhỏ mang tính chất gia đình bởi đặc thù của Quận là một trung tâm thương mại của thành phố Hà Nội
= Các mặt hàng được sản xuất trên địa bàn quận Hoàn Kiếm chủ yếu thuộc nhóm nghề tiểu thủ công nghiệp như: sản xuất da, vải bạt, gò hàn tôn, thiếc; v.v nên
phần nguyên liệu dư thừa đều được tận dụng để sử dụng lại với thành phần chủ
yếu là da, vải vụn, tôn, thiếc,
= Một số các cơ sở sản xuất khác như: sản xuất hoá chất, cơ khí điện tử, dệt nhuộm ' trên địa bàn một số phường như phường Phúc Tân ít tham gia vào quá trình phỏng vấn điều tra nhưng qua thu thập và khảo sát cho thấy lượng rác thải sản xuất phát sinh không nhiều, chủ yếu là giấy bìa, nilon và vụn vải, ít có hoá chất độc hại Chính vì vậy, lượng rác thải phát sinh tại các cơ sở này không lớn và rác thải phát sinh vẫn chủ yếu là rác thải sinh hoạt nên mang đặc trưng của rác sinh hoạt với thành phần chất hữu cơ là chiếm tỷ lệ lớn
- Một số các doanh nghiệp thuê văn phòng đại diện trên địa bàn Quận đa số đêu có hình thức đóng phí thu gom rác thải theo quý với mức chi phí từ 10.000 đến
30.000 đồng tuỳ theo mức độ và quy mô hoạt động của doanh nghiệp
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điểm BVMT cấp NN: "Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải nilon và chất thải hữu cơ”? — Viện Vật liệu xáy dựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 24
Trang 33- Các Cơ quan, Đoàn thể, Trường học trên địa bàn Quận cũng đổ rác theo giờ thu gom và phần lớn không phải nộp phí thu gom rác thải
c Tai các chơ:
Trong 18 Phường trực thuộc quận Hoàn Kiếm thì chỉ có 6 Phường có chợ:
-_ Phường Đềng Xuân: chợ Đồng Xuân
-_ Phường Cửa Đông: chợ Hàng Da
- Phường Hàng Bạc: chợ Hàng Bè
- _ Phường Trần Hưng Đạo: chợ 19/12
- Phường Cửa Nam: trên địa bàn Phường có 03 chợ
- Phường Phúc Tân: có 01 chợ
Ngoài ra, còn một số chợ cóc và chợ tạm nằm rải rác trên địa bàn các Phường
trực thuộc địa bàn quận Hoàn Kiếm
Các chợ trên địa bàn quận Hoàn Kiếm là các chợ bán lương thực, thực phẩm,
hoa quả, và các vận dụng thiết yếu hàng ngày Thành phần rác thải tại các chợ chủ yếu là chất hữu cơ bao gồm: rau quả, thực phẩm thừa; một phần không nhỏ là giấy, bìa và túi nilon,
Hiện nay, do nhu cầu vê địch vụ ngày càng nâng cao, phần lớn thực phẩm đều được sơ chế trước tại chợ nên khối lượng rác thải phát sinh tại các chợ khá lớn Điều
này giải thích tại sao xu hướng tổng lượng rác tại các chợ gia tăng trong khi đó, lượng
rác phát sinh tại các hộ gia đình phần nào giảm
Bước đầu điều tra cho thấy tổng lượng rác thải phát sinh tại 08 chợ trên địa bàn Quận khoảng 50 tdn/ngay Trong dé:
- Khối lượng rác phát sinh tại chợ 19/12: khoảng 15m? dén 20m°/ngay tuong
đương với 6,2 đến 8,3 tấn/ngày (thành phần rác là chất hữu cơ, giấy, bìa và nilon)
d Thành phân rác thải:
Dự án đã tiến hành lấy mẫu rác thải tại 60 điểm trên toàn địa bàn quận Hoàn
Kiếm với số lượng mẫu được phân tích là 108 mẫu vào hai đợt khác nhau là ngày
thường và ngày cuối tuần
Từ đó, chúng tôi xác định được tỷ lệ trung bình (%) của từng thành phần trong mẫu rác thải
Nhân xét:
> Kết quả điều tra, khảo sát cho thấy thành phần rác thải trên địa bàn 18 Phường trực
thuộc quận Hoàn Kiếm đều tương tự nhau và mang đặc trưng của rác thải sinh hoạt Thành phần chủ yếu là chất thải hữu cơ chiếm 47,79%; tiếp đó là xỉ than với 20,05%; giấy chiếm 7,84% và thấp nhất là thuỷ tình với 2,99% Nilon và nhựa là thành phần
khó phân huỷ chiếm 4,69%)
- Hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn các Phường nhìn chung đều xả thải một lượng không lớn rác thải và đa số là rác thải sinh hoạt Các hộ chủ yếu kinh
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điểm BVMT cấp NN: "Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải nilon và chất thải hữu cơ”? — Viện Vật liệu xảy dựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 25
Trang 34doanh thùng tôn, thiếc, đa, vải bạt, đệm mút, quần áo, đồ lưu niệm, đồ điện đân dụng
và kinh doanh ăn uống, Do đó, thành phần rác thải phát sinh phần lớn chủ yếu là tại các hộ kinh doanh ăn uống với thành phần chính là chất hữu cơ, giấy, tiếp đó là nilon, số ít là vải vụn, (xem bảng 4)
Bảng 4: Thành phần rác thải (%) của quận Hoàn Kiếm
- Đối với những cơ sở và hộ gia đình kinh doanh địch vụ ăn uống thì tổng lượng
rác thải thực chất lớn hơn, nhưng đa số các chất thải này được tận dụng để sử dụng
cho các mục đích khác, nên lượng thải thực tế không nhiều và chủ yếu là chất hữu cơ
và giấy bìa, nilon
- Qua khảo sát và phân tích các mẫu rác chúng tôi nhận thấy rác thải trên địa bàn quận Hoàn Kiếm ít có hoá chất độc hại Chất thải nguy hại chính là nilon (chiếm 4,69%) Nilon có thành phần chủ yếu là PE, thời gian phân huỷ rất lâu Nilon gồm hai đạng: nilon cứng và nilon mềm Loại nilon mềm thường khó phân huỷ hơn Mặc dù vay, đây là loại nilon hiện đang được sử dụng khá phổ biến và rộng rãi
- Tỷ lệ các thành phần rác thải trên địa bàn mỗi Phường có sự khác nhau, tuy nhiên sự chênh lệch nhau không lớn do đặc trưng kinh tế - xã hội của mỗi Phường
có những nét riêng
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điểm BVMT cấp NN: "Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải nilon và chất thải hữu cơ” — Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây đựng, Hà Nội - 2003 26
Trang 35> Do dm trung binh cla rac là: 68,4%
> Lượng rác bình quân đầu người tại quận Hoàn Kiếm là 0,518 kgíngười.ngày
- Lượng rác bình quân đầu người tại phường Chương Dương là cao nhất (0,6ổ kg/người.ngày) bao gồm cả vật liệu xây dựng
- Lượng rác bình quân đầu người tại phường Hàng Bồ, Hàng Bài thấp (khoảng
0,37 kgíngười.ngày)
> Rac trén dia ban Quan là rác hỗn hợp, chưa qua phân loại với tổng khối lượng
khoảng 152,956 tấn/ngày (bao gôm lượng rác phát sinh từ các chợ), trong đó
lượng rác phát sinh từ các chợ là 50 tấn/ngày
> Lượng rác phát sinh trên địa bàn phường Chương Dương là lớn nhất với 15,935 tấn/ngày (số dân là 23.511 người, nơi có mật độ dân cư đông nhất toàn quận Hoàn Kiếm), tiếp theo là phường Phúc Tân với khối lượng rác phát sinh là 12,48
tấn/ngày (chưa kể lượng rác phát sinh từ 01 chợ trên địa bàn Phường) Đây cũng
là hai Phường có số dân lao động phổ thông lớn nhất toàn Quận
> Lượng rác phát sinh trên địa bàn phường Hàng Mã là nhỏ nhất với 3,6 đấm/ngày Hàng Mã là một Phường có diện tích nhỏ 0.15 km” với số dân khoảng 9000 người sống chủ yếu bằng kinh doanh, buôn bán các mặt hàng hương, nến, vàng mã, giấy
màu trang trí, văn phòng phẩm, các thiết bị điện tử, Nên phần lớn lượng rác phát
sinh được thu hồi và tái sử dụng Chính vì vậy, lượng rác bình quân đầu người tại các hộ kinh doanh khá thấp (chỉ có 0,31 kg/người.ngày) Do đó, mặc dù là một
Phường dân số khá đông nhưng tổng lượng rác phát sinh trên toàn địa bàn lại khá
nhỏ
»> Tiến hành khảo sát thực tế đợt 2 năm 2003 tập thể tác giả tiến hành lấy và phân
tích mẫu rác với các chỉ tiêu như tổng N, tổng P;O; Tổng P;O, hữu hiệu, axit
humic, vị sinh vật hoạt động cho thấy thành phần chất lượng rác thải trên địa bàn phường như sau: Hàm lượng N trong rác dao động từ 0,24 đến 0,36 % thành phần rác thải, hàm lượng P;O; dao động trong khoảng từ 0,03 đến 0,5% khối lượng thành phần rác thải Kết quả chi tiết phân tích mẫu rác được trình bầy ở phụ lục 8
2.2.2 Hiện trạng thư gom rác thải
Hiện nay, công tác thu gom và vận chuyển rác thải trên địa bàn quận Hoàn
Kiếm do Xí nghiệp Môi trường Đô thị số 2 đảm nhiệm Việc thu gom rác chủ yếu
bằng phương pháp thủ công (với các dụng cụ như xe đẩy tay; chối dài 1,2m hay
0,8m; xẻng; kẻng) kết hợp với cơ giới (với các phương tiện như xe vận chuyển, xe
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điểm BVMT cấp NN: "Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải nilon và chất thải hữu cơ” ~ Viện Vật liệu xảy dựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 27
Trang 36Tại các khu tập thể, khu nhà cao tầng, Công ty Môi trường Đô thị có dat các thùng chứa lớn dung tích 6 - 8m? dé thu phế thải Sau đó các loại xe chuyên dùng do công ty tự thiết kế sẽ vận chuyển các thùng chứa này tới bãi chôn lấp Nam Sơn
Từ ngày 15/02/2003 theo Quyết định số 26/QÐ - UB ngày 30/01/2003 của Uỷ
ban Nhân dân thành phố Hà Nội về việc cấm và hạn chế một số phương tiện giao thông hoạt động trên địa bàn Thành phố nên các xe chuyên chở rác thải của Xí
nghiệp Môi trường Đô thị số 2 chỉ được chạy trong thành phố sau 18 h
e Hình thức thu gom:
- Tại các khu dân cư: rác được thu gom bởi các xe đẩy tay (số lượng xe trên
toàn Quận khoảng 138 xe), các xe đều không có nắp đậy và thường chứa một khối lượng rác quá tải Sau đó các xe này đưa rác về nơi tập trung trên địa bàn mỗi Phường, rác thải được xe cơ giới chuyên dụng vận chuyển (Toàn Quận có 20 xe ô tô chuyên dụng vận chuyển rác thải với trọng tải 5 tấn/xe) Hiện tại các tổ thu gom rác
thải trên địa bàn mỗi Phường đều đã được bổ sung thêm xe đẩy tay có dung tích 600
lít và đặc biệt là có nắp đậy Trung bình mỗi Phường được tăng cường thêm 02 xe thu
- Đối với các cơ sở sẵn xuất, kinh doanh: rác được thu gom theo hợp đồng với
Công ty Môi trường Đô thị số 2
- Đối với chợ: Ban quản lý các chợ ký hợp đồng thu gom rác với Xí nghiệp Môi trường Đô thị số 2 theo giá thành khoảng 276.000 đồng/tấn (đối với chợ Đồng
eThời gian thu gom: rác được thu gom đọc các tuyến phố nhiều lần trong
ngày Tại các cụm dân cư, nhân viên của Công ty Môi trường Đô thị số 2 đẩy xe rác
tới các ngõ và gõ kẻng vào lúc 17?30- 1930 hàng ngày Ngoài ra, rác tại những khu
vực này cũng được thư gom vào lúc 6? - 7* nhưng không gõ kẻng Tuy nhiên, thời
gian thu gom của các xe đẩy chưa đủ dài để các hộ gia đình ở khu tập thể hay trong ngõ sâu kịp thời đổ thải rác Do ý thức của người dân chưa cao nên vẫn còn tình trạng rác thải bị vứt bừa bãi ra ngoài đường vào lúc chiều tối và sáng sớm Ví dụ: tổ
22 - Ngõ Hội Vũ, tổ 24 - phố Quán Sứ, tổ 35 - chắn 5 Trần Phú, Vì vậy, cần có
một khoảng thời gian dừng xe đẩy thích hợp để người dân có thể kịp ra đổ rác
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điểm BVMT cấp NN: "Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thai nilon và chất thải hữu cơ” — Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 28
Trang 37Bảng 5: Các điểm tập kết rác thải trên địa bàn quận Hoàn Kiếm
Phường Hàng Trống Đâu ngõ Bảo Khánh
Dương
2 l Lê Văn Linh
Phường Lý Thái Tổ Vườn hoa Hàng Vôi
Hàng Lược
Phường Hàng Đào Góc Hàng Bạc
Ngã tư Hàng Chiếu giáp với Hàng Đào
Phường Hang Buém (thuộc phường Phúc tân, Chương Dương)
48 Hai Ba Trưng (giữa ngã tư Quang Trung - Bà Triệu)
Phườ 11 Hai Bà Trưng, giáp phố Nguyễn Khắc Can
hường Tràng Tiền 2 Đinh Lễ, giáp với phố Ngô Quyền
Phố Trần Quang Khải
15 Trân Khánh Dư
Phường Phan Chu Trinh 36 Trần Hưng Đạo a ang 2
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điểm BVMT cấp NN: "Công nghệ thu gom, vận chuyến, xử lý
rác thải nilon và chất thải hữu cơ” — Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 29
Trang 38° Mức độ thu gom: khoảng trên 90% rác thải của các hộ gia đình trên địa bàn Quận được Xí nghiệp Môi trường Đô thị số 2 thu gom (xem hình 7) Do vậy, hầu như rác thải không tôn đọng trong mỗi gia đình nhưng ở ngoài đường phố (Ví dụ: Ngõ Gạch, Hàng Buổm, Mã Mây, Đông Xuân, Trần Nhật Duật, v.v ) vẫn thường xuyên có rác đọng vào lúc tối khuya và sáng sớm
- Lượng rác phát sinh từ các chợ hàng ngày tương đối lớn trong khi đó nguồn nhân lực phục vụ cho công tác thu gom hạn chế dẫn đến tình trạng rác thải chưa được
thu gom một cách triệt để Tại một số chợ và khu vực công cộng gần ga Hà Nội hay
bãi gần sông vẫn tồn tại các đống rác thải bỏ bừa bãi
e Nhân lực thu gom: Tổng số nhân viên của Công ty Môi trường Đô thị số 2
làm việc trên toàn địa bàn Quận là 540 người
Nhân viên thu gom rác thải chủ yếu là phụ nữ, số người lớn tuổi cũng chiếm một
tỷ lệ đáng kể Vì vậy, cần tăng cường nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu ngày một tăng cao
e_ Vị trí đặt thùng rác vụn:
Một số tuyến đường phố có đặt thùng rác vụn với khoảng cách 20m như: phố Tràng Thi, phố Lê Thái Tổ, Phan Chu Trinh, Trần Hưng Đạo, Lê Thánh Tông, Hai Bà
Trưng, Quang Trung,
e_ Các tác động trong quá trình thu gom:
* Những tôn tai trong công tác thụ gom:
- Hiện nay, quá trình thu gom rác thải do các xe đẩy tay đảm nhiệm Nhưng
số xe thu gom tại các phường còn ít, trong khi đó lượng rác phát sinh lớn, vì vậy hầu
hết các xe thu gom rác đều bị quá tải, rác thường được chất cao từ 0,8 đến 1,0m; xung quanh xe đẩy phải móc đầy các túi rác nên dẫn đến tình trạng rơi vãi trong quá trình vận chuyển, gây mất mỹ quan đô thị, không đảm bảo vệ sinh môi trường, thậm chí còn gây cản chở cho hoạt động giao thông đô thị
- Xí nghiệp Môi trường Đô thị số 2 đã tăng cường số lần xe thu gom trên địa bàn
các Phường nhằm thu gom triệt để lượng rác phát sinh Mặc dù vậy; vẫn còn không ít
những hình ảnh của các đống rác nhỏ rải rác dọc một số tuyến phố Tống Duy Tân, Hội
Vũ, Hà Trung,
* Những tác đông tích cực:
Bên cạnh những tồn tại nêu trên, quá trình thu gom rác thải trên địa bàn quận
Hoàn Kiếm đã đem lại một cảnh quan văn minh, sạch đẹp cho khu vực, góp phần tạo một môi trường trong lành, xanh - sạch - đẹp, tạo vị thế xứng đáng trong lòng những
du khách quốc tế Đồng thời, công tác thu gom rác thải cũng tạo cho mỗi người dân
một ý thức văn minh đô thị
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điểm BVMT cấp NN: "Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải nilon và chất thải hữu cơ” — Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 30
Trang 392.2.3 Một số đánh giá về thực trạng thu gom rác thải trên địa bàn Quận Quận Hoàn Kiếm là một tụ điểm buôn bán, kinh doanh khá sầm uất của Thủ đô
Hà Nội, do vậy bên cạnh mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội thì vấn đề vệ sinh môi trường đã sớm được các cấp chính quyền quan tâm Phong trào “Vì môi trường xanh - sạch - đẹp” được duy trì thường xuyên, Ban chỉ đạo Quận đã phối hợp với Công ty
Môi trường Đô thị - Xí nghiệp Môi trường Đô thị số 2 nhằm làm tốt công tác thu gom
và vận chuyển rác thải trên địa bàn Quận
2.2.3.1 Nhận thức của cộng đồng
- Nhận thức của nhân đân sinh sống trên địa bàn quận Hoàn Kiếm ngày được
nâng cao thông qua các chương trình tuyên truyền, vận động:
+ Phần lớn các hộ đân đều có ý thức chấp hành tốt giờ đổ rác, nhanh chóng đưa rác ra đúng nơi quy định tạo điều kiện cho quá trình thu gom được thuận tiện
+ Mặc dù điện tích sinh sống của người dân còn hẹp, hầu hết các mặt phố đều
được tận dụng để kinh doanh, buôn bán những ý thức tự giác của mỗi người dân trong
việc chấp hành việc đổ rác đúng giờ, đúng nơi quy định đã được nâng lên
- Tuy nhiên, nhận thức và trình độ dân trí trên toàn Quận không đồng đều nên vẫn còn một số tồn tại rải rác khắp địa bàn các Phường trong Quận như:
+ Một số hộ có thói quen đổ rác ra đường để xe rác đến thu gom Điều này gây
không ít khó khăn cho nhân viên thu gom và những người tham gia giao thông trên các tuyến phố Bên cạnh đó, khi giờ thu gom hiện tại bắt đầu muộn hơn tức là từ
18h30' đã không ít hộ gia đình đem rác đổ xuống lòng đường
+ Một bộ phận dân cư vẫn còn hạn chế về mặt nhận thức nên vẫn tồn tại
hiện tượng vứt rác bừa bãi gây mất mỹ quan đô thị và ảnh hưởng tới vấn đề vệ
sinh môi trường
+ Trong 18 Phường trực thuộc quận Hoàn Kiếm thì phường Chương Dương và phường Phúc Tân được đánh giá là hại Phường có trình độ dân trí thấp Đây là hai Phường có địa bàn xa trung tâm, thành phần dân cư đa dạng và chủ yếu là lao động phổ thông, cư trú không ổn định, ý thức chấp hành các nội quy, kỷ luật của người dân chưa cao
2.2.3.2 Vai trò của cán bộ công nhân viên vệ sinh môi trường
- Đa số dân cư trong địa bàn Quận đều hài lòng với dịch vụ thu gom như hiện
nay của Công ty Môi trường Đô thị Hà Nội nói chung và Xí nghiệp Môi trường Đô thị số 2 nói riêng
- Theo đánh giá của các cán bộ quản lý tại các Phường trực thuộc quận Hoàn Kiếm thì nhân viên Xí nghiệp Môi trường Đô thị số 2 công tác trên địa bàn làm việc
khá tốt Cán bộ công nhân vệ sinh môi trường luôn tận tụy, nhiệt tình trong công việc
Lượng rác phát sinh được thu gom hàng ngày, đúng giờ và đảm bảo vệ sinh và mỹ quan đô thị Công nhân của Xí nghiệp Môi trường Đô thị số 2 đã cố gắng để giữ gìn đường phố luôn sạch đẹp, tránh tình trạng rác ứ đọng
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trong điểm BVMT cấp NN: "Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải nilon và chất thải hữu cơ” — Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 31
Trang 40- Tuy nhiên, do số lượng công nhân ít, lực lượng mỏng, lượng rác thu gom tập trung lớn nên một vài công nhân đã (hu gom, quét rác hè đường chưa triệt để Một số
khác trách nhiệm chưa cao nên thời gian dừng xe để thu gom ngắn, không hoặc hạn
chế gõ kẻng nên các hộ sống trong ngõ sâu không kịp đồ rác
2.2.3.3 Đánh giá thực trạng thu gom rác thải
Trong quá trình điều tra vào tháng 11/2002, chúng tôi nhận thấy đại đa số nhân dân trong Quận đều thực sự hài lòng với chất lượng thu gom rác thải hiện nay Mặc dù vẫn còn một số tồn tại nhưng nhìn chung mạng lưới thu gom hoạt động tốt, rác thải được thu gom và vận chuyển đến đúng nơi quy định đảm bảo đường phố luôn khang trang, sạch sẽ tạo một môi trường lành mạnh và cảnh quan đô thị văn minh
Qua quá trình khảo sát bước đầu cho thấy:
> Hình thức thu gom rác hiện tại đã phần nào đáp ứng nhu cầu của nhân dân Tuy nhiên để giảm bớt khối lượng công việc cho mỗi công nhân vệ sinh môi trường và
tăng mức độ thu gom cần phải bổ sung thêm các xe đẩy tay Một số Phường như
Hàng Gai, Hàng Bạc, Phúc Tân, Chương Dương cần phải được bổ sung số xe thu
gom
> Thời gian thu gom rác cần phải được tăng cường nhằm thu gom một cách triệt
để, một bộ phận dân chúng mong muốn được bổ sung thêm lượt thu gom vào
lúc 21h đến 22h Kết quả điều tra, phỏng vấn ý kiến cho thấy, tại 18 Phường người dân đều yêu cầu thời gian gõ kẻng thu gom tại các khu tập thể hay ngõ
sâu cần dài hơn để mọi người có thể kịp thời đổ rấc, tránh hiện tượng tồn đọng
> 16/18 Phường khảo sát có mức độ thu gom rác đạt trên 90% Riêng 2 Phường là Phúc Tân và Chương Dương mức độ thu gom khoảng 85% Đây là hai Phường có địa bàn khá phức tạp nên công tác vệ sinh môi trường ở đây còn gặp rất nhiều khó khăn
- Đối với phường Phúc Tân, cơ sở hạ tầng tại khu vực vẫn rất yếu, một số đoạn trên các tuyến phố chính thường lây lội khi mùa mưa tới dẫn đến việc rác trôi nổi trên đường phố gây mất mỹ quan đô thị
- Phường Chương Dương là một Phường có địa hình phức tạp, phía Đông giáp với
sông Hồng nên công tác thu gom rác thải còn nhiều hạn chế do không thể kiểm
soát được hoạt động phát thải trên địa bàn Phường Một bộ phận dân cư khá đông
có thối quen đổ rác đọc sông Hồng
> Nhân lực thu gom rác thải trên địa bàn quận Hoàn Kiếm là các cán bộ công nhân viên Xí nghiệp Môi trường Đô thị số 2 Đội ngũ nhân viên công tác nhiệt tình và chủ yếu là phụ nữ, số người lớn tuổi chiếm một tỷ lệ đáng kể Khối lượng công việc khá lớn đòi hỏi cần bổ sung và tăng cường nguồn nhân lực
- Riêng đối với phường Phúc Tân, đội ngũ thu gom bao gồm công nhân viên của Xí nghiệp Môi trường Đô thị số 2 và đội ngũ lao công tự quản do nhân dân bầu ra và tự nguyện góp tiền trả công Xuất phát từ thực trạng chung của một số
tuyến ngõ chật hẹp, xe rác không thể vào tận nơi thu gom nên những người dân
Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ trọng điểm BVMT cấp NN: ”Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải nilon và chất thải hữu cơ” — Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng, Hà Nội - 2003 32