1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận nội dung tư tưởng giáo dục của khổng tử rút ra ý nghĩa đối với công cuộc đổi mới giáo dục việt nam hiện nay

18 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 30,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI TẬP MÔN TRIẾT HỌC :Trình bày nội dung tư tưởng giáo dục của Khổng Tử Rút ra ý nghĩa đối với công cuộc đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay Khổng Tử (551 479TCN) là nhà tư tưởng vĩ đãi không chỉ của Trung Hoa mà của cả nhân loại Ông là nhà hiền triết, nhà chính trị và là nhà khoa học có tầm khai sáng, có ảnh hưởng sâu rộng tới nền văn hóa, giáo dục ở Châu Á trong đó có Việt Nam Những tư tưởng giáo dục của Khổng Tử không chỉ có giá trị ở thời đại ông sống mà các thời đại về sau, cho đến hiện nay

Trang 1

BÀI TẬP MÔN TRIẾT HỌC 1.Trình bày nội dung tư tưởng giáo dục của Khổng Tử Rút ra ý nghĩa đối với công cuộc đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay

Khổng Tử (551-479TCN) là nhà tư tưởng vĩ đãi không chỉ của Trung Hoa

mà của cả nhân loại Ông là nhà hiền triết, nhà chính trị và là nhà khoa học có tầm khai sáng, có ảnh hưởng sâu rộng tới nền văn hóa, giáo dục ở Châu Á trong

đó có Việt Nam Những tư tưởng giáo dục của Khổng Tử không chỉ có giá trị ở thời đại ông sống mà các thời đại về sau, cho đến hiện nay người ta vẫn tìm thấy những hạt nhân đúng đắn khoa học, có thể áp dụng một cách tích cực, hiệu quả vào sự nghiệp trồng người Bản thân cuộc đời và sự nghiệp Khổng Tử là tấm gương sáng ngời mẫu mực về một người thầy đáng được tôn kính ngàn đời Ông

là một trong mười nhà giáo dục lớn của thế giới từ cổ đại cho đến bây giờ Danh hiệu cao quý mà người đời phong tặng cho ông là " vạn thế sư biểu" - ( là một bậc thầy của muôn đời) đã nói lên điều đó

Trong hệ thống triết học của Khổng Tử quan điểm về thế giới, về con người, tư tưởng chính trị xã hội và tư tưởng luân lý đạo đức thống nhất với nhau Những tư tưởng đó đều tập trung phản ánh đời sống và bản chất con người thể hiện những cố gắng và ước mong ổn định trật tự đẳng cấp danh phận trong xã hội của Khổng Tử nhằm xây dựng một xã hội lý tưởng với mẫu mực người lý tưởng lấy nhân nghĩa làm gốc Để làm được điều đó Khổng Tử chủ trương phải giáo dục con người Ông cho rằng đã là con người thì dù thiện hay ác đều có thể bằng con đường giáo dục mà cảm hóa được Đây là điểm cốt lõi trong tư tưởng giáo dục của ông, thể hiện tính nhân văn sâu sắc, ông đã đặt niềm tin con đường giáo dục có thể làm cho con người tốt hơn Cuộc đời và kinh nghiệm dạy học của Khổng Tử cho thấy, Ông nhìn thấy rõ vai trò của giáo dục đối với cuộc sống của xã hội nói chung và đối với hình thành nhân cách nối riêng Với xã hội, theo ông giáo dục có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực thi lẽ công bằng, đến tôn

Trang 2

ti trật tự, đến cuộc sống hồ hởi của cộng đồng Nghĩa là ông xác định được vai trò của giáo dục trong mối quan hệ của nó với chính trị và đời sống tinh thần

Đúng như ông đã nhận xét: bước chân vào một quốc gia có thể biết nền giáo dục ở đó thế nào và nhìn vào nền giáo dục có thể biết quốc gia ấy sẽ ra sao Với

cá nhân, Khổng Tử sớm nhận thấy nhân cách của con người bị quyết định không chỉ đơn thuần tùy bởi điều kiện sống cho nên ông đã đến với giáo dục trong niềm tin ở sức mạnh của nó đối với việc cảm hóa con người Từ đó ông đưa ra quan điiển của mình về giáo dục với việc xác định mục đích, đối tượng, nôi dung và phương pháp giáo dục một cách rõ ràng mang tính phổ quát

1 Về mục đích giáo dục Khổng Tử sống trong thời đại nhà Chu suy vong

đến cực độ, luân thường đạo lý bị đảo lộn, kỷ cương phép nước bị lung lay đến tận gốc rễ Do đó Khổng Tử mơ ước lập lại trật tự xã hội theo mẫu hình nhà Tây Chu, biến xã hội từ “vô đạo” trở thành “hửu đạo” Ông mong muốn thông qua việc hướng dẫn con người thực hiện đức nhân Chính vì vậy, mục đích giáo dục của Khổng Tử là đào tạo nên những con người có đức, có tài, có nhân, có lễ, nhằm duy trì đạo đức kỷ cương và phục vụ lợi ích toàn thể xã hội Mẫu người

mà khổng tử hướng tới là người quân tử vừa trị đạo vừa phải biết hành đạo Mục đích cao nhất của học theo Khổng Tử là để nhận chức triều đình, tham gia gánh vác công việc quốc gia và để biết kỷ cương của xã hội mà tuân theo Trong lúc

xã hội rối ren không ra làm quan không phải là người trí, không ra giúp đời không phải là người nhân Vì vậy, ông thường nói “đời xưa vì mình mà học còn đời nay vì người mà học” Do quan niệm cho rằng học để làm quan trị vì thiên

hạ nên Khổng Tử không dạy làm ruộng, trồng trọt Khi Phan Trì xin ông dạy các trồng cây thì ông trách rằng: “gã Phan Trì chí nhỏ hẹp lắm thay Người bề trên chỉ cần học đủ lễ, nghĩa, tín thì dân chúng bốn phương sẽ đem con đến phục dịch mình, cần chi phải học nghề cày cấy” Ông nói rằng nghề cày cấy là nghề nghiệp tầm thường, của những bậc dưới Ông cũng thường giận dữ khi có người cùng bàn về binh đao chiến trận nghĩa là ông cũng không dạy về binh đao chiến tranh Cũng xuất phát từ chổ phân chia vai trò vị trí xã hội của các hạng người

Trang 3

quân tử và tiểu nhân mà mục đích giáo dục của hai hạng người này theo Khổng

Tử cũng không giống nhau, quân tử thì giáo dục để quản lý xã hội còn tiểu nhân thì để phục tùng xã hội, phục tùng người quân tử Khổng Tử viết “tiểu nhân cũng phải học, nhưng cái học của tiểu nhân là để họ phục dịch và tuân lệnh kẻ cầm quyền

2 Về đối tượng giáo dục Là một nhà giáo dục lớn, một mặt Khổng Tử

chủ trương dạy cho tất cả mọi người không phân biệt đẳng cấp giàu nghèo, chủng tộc, “hữu giáo vô loại” Khổng Tử là người đầu tiên làm một cuộc cách mạng thực sự trong tư tưởng giáo dục cổ đại Ông là người đã mở trường tư với quy mô lớn đầu tiên, mở rộng cửa học đường để thu nhận tất cả các đối tượng, tầng lớp có nhu cầu học tập, không hề phân biệt quý tộc hay bình dân, tiểu nhân hay quân tử, người giàu sang hay kẻ nghèo hèn…Khổng Tử là người đầu tiên đã bình dân hóa, toàn dân hóa giáo dục Nhưng mặt khác ông lại chủ trương đối với dân việc gì cần thiết thì sai khiến chứ không nên giảng giải vì dân không có khả năng hiểu ý nghĩa công việc mình làm Chủ trương giáo dục này xuất phát từ quan điểm cho rằng nhân cách không phải bẩm sinh bởi bản chất ban đầu của mọi người đều giống nhau, song do tác động của môi trường , của điều kiên sống nên thói quen đem lại cho người tính lành, kẻ tính ác Vì vậy, giáo dục có thể cải hóa tất cả, trừ những người gọi là thượng trí và những kẻ hạ ngu Như vậy, về đối tượng giáo dục Khổng Tử rất tiến bộ không có sự phân chia đẳng cấp Điều này cũng xuất phát từ niềm tin sức mạnh của giáo dục có thể cảm hóa được con người và niềm tin vào con người có thể được giáo dục tốt hơn thông minh hơn Chính vì vậy, mà học trò của ông rất đông có đến hơn ba ngàn người Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử quy định mà đối tượng giáo dục của khổng tử có điểm hạn chế đó là nữ giới không được đến trường Có thể coi đây là một trong những hạn chế lớn nhất trong tư tưởng giáo dục của Ông

3 Về nội dung giáo dục Nội dung giáo dục của Khổng Tử tập trung vào

ngũ thường - 5 phẩm chất của người quân tử: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín và xoay quanh 6 nghành: lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số và 4 khoa: Đức hạnh, chính trị, ngôn

Trang 4

ngữ, văn hoc Mặc dầu những nội dung giáo dục này chưa thật phong phú và đầy

đủ song trong bối cảnh xây dựng một xã hội “vô đạo” thành “hữu đạo” thì nó lại

phát huy tác dụng rất to lớn và rất đáng được ghi nhận Giáo trình cơ bản Khổng

Tử dùng để khai sáng là: Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân thu Ông cho rằng: bước chân vào một quốc gia có thẻ biết được nền giáo dục của nước đó như thế nào Nếu dân ôn, nhu, đôn, hậu thì đó là nền giáo dục đã theo tinh thần của thư; nếu dân khiêm nhường trang trọng thì đó là nền giáo dục đã theo tinh thần của lễ; nếu dân cởi mở sinh hoạt nhẹ nhàng thì đó là nền giáo dục đã theo tinh thần của nhạc; nếu dân sống thuận theo đạo trời thì đó là nền giáo dục đã theo tinh thần của dịch và nếu dân biết phán xét thì dó là nền giáo dục đã theo tinh thần của xuân thư Học trò của ông cũng ghi lại về vai trò của những sách này Theo ông những cuốn sách này sẽ giúp người diễn đạt tư tưởng của mình, biện luận với người Không học thì khác nào người đứng quay mặt vào tường chỉ thấy bế tắc của đường đi chứ không thấy cái sống động mênh mang của cuộc sống Lễ giúp con người nắm được các quy tắc cư xử Ngày nào mà mình khắc kỷ, phục

lễ, ngày đó mọi người trong thiên hạ cảm hóa mà theo về đức nhân Vì vậy, nhất thiết phải theo lễ, cái gì hợp với lễ thì không nghe, không nhìn, không nói và không làm Nhạc thì giúp con người điều hòa tính khí, di dưỡng tinh thần…vv

Để xây dựng mẫu người lý tưởng của xã hội, Khổng Tử đã đưa ra quan niệm về người quân tử - khái niệm quân tử không xa lạ với người trung hoa cổ đại, nó có

từ thời chu (khoảng 1100 TCN) nhằm chỉ những người nắm quyền hành trong xã hội Đối lập với quân tử là tiểu nhân - khái niệm chỉ nhân dân lao động Khổng

Tử đã dùng khái niệm quen thuộc này để xây dựng mẫu người lý tưởng của mình Là người sáng lập ra học thuyết chính danh và khát khao người vươn đến nhân Để thực hiên được thuyết chính danh ấy nên mẫu người lý tưởng của Khổng Tử chịu sự chi phối của chính danh nói chung và của đức nhân nói riêng Theo Khổng Tử quân tử và tiểu nhân cũng đối lập với nhau, song quân tử không thuần túy chỉ địa vị xã hội mà chủ yếu chỉ phẩm chất đạo đức mà người đó đạt được quan điểm giáo dục của Khổng Tử dựa trên cơ sở học thuyết về đạo nhân cho nên giáo dục con người phải dựa trên cơ sở nền tảng giáo dục đạo đức Điều

Trang 5

này được thể hiện trong câu nói “tiên học lễ, hậu học văn” Cũng khi nói về nhân, đề cập đến mẫu người quân tử ở mỗi lúc với mỗi người Khổng Tử đưa ra những tiêu chuẩn khác nhau song chung quy lại quân tử phải dạt được chín điều

đó là: 1- khi nhìn thì phải nhìn cho minh bạch; 2-khi nghe thì phải nghe cho rõ ràng; 3-sắc mặt thì phải dữ cho ôn hòa; 4-tướng mạo thì phải dữ cho trang nghiêm; 5- nói năng thì phải dữ bề trung thực; 6-làm việc thì phải trọng sự kính cẩn; 7-điều gì còn nghi hoặc thì phải hỏi han; 8-khi tức giận thì phải nghĩ đến hậu họa; 9-khi thấy lợi thì phải nghĩ đến điều nghĩa Bằng chín điều mà Khổng

Tử đã đặt ra những yêu cầu từ hình dạng đến thân tâm, từ cách ứng xử với mình đến cách ứng xử với người của người quân tử Những yêu cầu này theo Khổng

Tử phải có sự trung hòa mà ông gọi là trung dung, trung thứ Khổng Tử cho rằng trung dung rất gần gủi với con người “dẫu cho hạng ngu phu, ngu phụ cũng biết chut ít về đạo ấy…dẫu cho đàn ông, đàn bà tầm thường và lười biếng cũng thi hành được ít phần trong đạo ấy” Khổng Tử khẳng định “đạo trung như cái ăn, cái uống, với cuộc sống, ai mà chẳng ăn ai mà chẳng uống nhưng ăn uống mà nhận được mùi vị thật chẳng được mấy người, đạt được đỉnh cao của trung dung thật chẳng được mấy kẻ” Theo Khổng Tử mỗi vật đều có gốc có ngọn, mỗi việc đều có đầu có đuôi mới mong thành đạt được Trở về với đất quay lại đạo trung dung là phải biết tường tận cái tính thiên nhiên của mình cái tính do trời đất phú cho rồi, ráng sức học tập để mở mang tinh ấy, tức là phải biết về đạo trời đất mà người Trung Hoa gọi là đạo trời Người quân tử trước tiên phải tu thân học tập, không tự tu được thân thì không thể giúp được đời, không thể làm tròn bổn phận của mình với thiên hạ Bởi vậy, ông chủ trương người quân tử phải “tu thân tề gia trị quốc bình thiên hạ” Ông nói “ những vị vua những vị thánh xưa muốn cho đức của mình tỏa sáng trước hết phải lo sửa trị nước mình, muốn sữa trị nước mình trước hết phải sữa trị nhà mình Muốn sữa trị nhà mình trước hết phải

tu tập lấy mình bằng cách thấu suốt đâọ trời để cho lòng ngay thẳng” Để xét một người nào đó thuộc quân tử hay tiểu nhân Khổng Tử đòi hỏi phải quan sát hành động của người đó có phù hợp với lời nói của họ hay không và để đánh giá con người ông khuyên phải nhìn vào công việc của họ, phải xét lý do làm việc

Trang 6

của họ và phải xem thái độ của họ nữa Người quân tử thì có nhân – trí - dũng còn tiểu nhân thì không có

4 Về phương pháp giáo dục: Nói đến quan điểm giáo dục của Khổng Tử

không thể không nhắc đến hệ thống phương pháp giáo dục của ông Đây là một

hệ thống khá phong phú, đa dạng và sâu sắc thể hiện trên ba phương diện: phương pháp dạy của thầy; phương pháp học của trò và sự kết hợp biện chứng của hai quá trình dạy và học

+ Về phía thầy: Khổng Tử đã nêu một tấm gương về sự ham học và ham

dạy của mình Với ông người thầy phải có một nhân cách cao cả và một kiến thức uyên thâm Theo ông con người ít có kẻ sinh ra tự biết Ông cũng tự nhận mình là: "Học nhi tri chi" (Do học mà biết) do đó trong sách Luận ngữ ông nói:

"Ta 15 tuổi chí thú ở việc học, 30 tuổi lập thân, 40 tuổi không sai " Do đó lứa tuổi để học vấn là từ 30 trở xuống Đây là thời điểm tích lũy kiến thức, tích lũy kinh nghiệm sống để rồi cống hiến cho đời Ông đòi hỏi người Thầy phải có mối quan hệ chan hòa, gần gủi, sâu sát đối với học trò, phải nắm bắt được đặc điểm nhân cách của hoc trò Đồng thời phải biết khuyến khích hay răn đe học trò đúng lúc trong suốt quá trình dạy học Ông chủ trương ứng dụng các phương pháp như: nêu gương, gắn học với hành …để kích thích gợi mở nhằm phát huy tính năng động tự chủ của học trò Đã coi trọng việc học như vậy nên người học phải biết phương pháp học Theo Khổng Tử, người học phải: Nghe - Nghĩ - Làm Ông nói: "Học nhi bất tư tắc võng, tư nhi bất học tắc đãi" (Học mà không nghĩ thì mất hết, nghĩ mà không học thì mỏi mệt) Đã nghe, nghĩ việc đang học phải:

"Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ?" (học mà thực hành theo điều mình học

há chẳng vui sao?) Điều này rất phù hợp với tư tưởng, phương pháp học của Phật giáo là phải: "Văn-Tư-Tu" Cách học của ông là: "Mặc nhi thức tri, học nhi bất yếm" (Lặng lẽ mà ghi nhớ lấy, học mà không chán) Người học phải tạo được hứng thú trong việc học thì sự học mới không chán Người học phải: "Ôn

cố nhi tri tân, khả vi sư hỹ" (Ôn cũ biết mới, đáng làm thầy vậy) Theo ông người học phải học nữa, học mãi, nhà bác học không ngừng học Học điều xưa

Trang 7

để áp dụng cho thời nay, đó là người khéo vận dụng tri thức Đạo lý của việc học là: không phải chỉ đọc sách chết mà phải chú trọng trong hiện thực xử thế con người Đối với người học phải học tất cả các tầng lớp người trong xã hội, ai cũng có điều hay điều dở, vậy ta hãy học điều hay của họ thậm chí phải học kể

cả kẻ dưới mình: "Học bất xỉ hạ vấn" (Không thẹn học người dưới) Khổng Tử rất coi trọng nguyên tắc làm gương, ông cho rằng cha phải làm gương cho con, thầy phải làm gương cho trò, chồng phải làm gương cho vợ, anh phải làm gương cho em Những buổi đàm đạo về chính sự với quan triều đình, những lời khuyên học trò đã đề cập đến phần nào đã phán ánh được điều ấy Sử sách ghi chép về thân thế và sự nghiệp của Khổng tử cũng đã chứng minh rằng trong khi dạy người đời “khắc kỷ phục lễ vi nhân” ông đã trọn đời theo nó Trong Tứ thư và những tài liệu đáng tin cậy khác Khổng Tử không xuất hiện như một hiền triết siêu phàm mà là một người bình dị dễ hiểu Ông cũng có những lúc mền yếu cũng đầy những thành kiến và tham vọng nhưng ông kiềm chế để tuân theo phép tắc mà chính ông truyền giảng Khổng Tử cũng rất coi trọng nguyên tắc “thuyết giáo tùy nghi”- coi trọng việc xác định đối tượng giáo dục qua ngôn ngữ và hành

vi của họ để xác định nội dung giáo dục cho phù hợp Ông cũng tìm cách xóa bỏ

sự thụ động của người tiếp thu tri thức Ông nói “kẻ nào không cố công tìm kiếm ta chẳng vẽ, kẻ nào không bộc lộ được tư tưởng của mình ta chẳng khai sáng cho, kẻ nào mà ta dạy một mà chẳng biết hai ta chẳng dạy nữa” Ông cho rằng, ai không biết tự hỏi ta phải làm sao? Thời chẳng thế dạy cho thành đạt Ông bắt học trò phải suy nghĩ nghiền ngẫm “học mà không suy nghĩ thì vô ích, suy tư mà không học thì kết quả cũng chỉ bằng không Ông thường tâm sự

“trước đây ta thường trầm tư mặc tưởng đến trọn ngày quên ăn, trọn đêm quyên ngủ mà cái lợi chẳng đáng là bao” Khổng Tử cũng rất đề cao việc ứng dụng vào cuộc sống những điều đã học Ông nói “như có ai đã đọc thực hết 300 thiên trong kinh thi được bậc quốc trưởng trao quyền hành cho mình, nhưng cai trị chẳng xuôi, được phải đi sứ đến ở các nước 4 phương, nhưng tự mình chẳng có tài ứng đối, người ấy dẫu học nhiều cúng trở nên vô ích”(luận ngữ, tử lộ)

Trang 8

+ Về phía trò: Khổng Tử đề ra một số phương pháp, nguyên tắc học tập

như học đi liền với tập, phải học ở mọi người mọi lúc mọi nơi, học phải kiên trì chăm chỉ Có suy nghĩ độc lập và nắm bắt chiếm lĩnh tri thức một cách nhất quán Ông khuyến khích học trò phải biết học việc đặt câu hỏi, hay là dùng phương pháp đàm thoại, phải biết tạo ra niềm vui hứng thú trong học tập Trong quá trình giáo dục, Khổng Tử khuyên học trò nên tự tin ở mình “không oán trời, không trách người, về đạo lý thì khởi học từ mức thấp đến mức cao”, và phải biết nghe nhiều học nhiều qua đó tìm những điều hay để học, thấy những điều

dỡ để tránh Khổng Tử đòi hỏi sự nổ lực của người học đi theo hướng của thầy

đã vạch ra Về đòi hỏi này thông thường trong khi dạy Khổng Tử giảng dạy từng bước một, trả lời cho những câu hỏi từ chung đến cụ thể tùy theo sự hiểu biết của người học Chính điều này tạo điều kiện cho người học phát huy được khả năng suy lý của mình, như lời bình trong lễ ký viết “thầy dạy chỉ thúc đẩy, chỉ

mở lối soi đường nhưng sự không bức bách, không dẫn đến cùng ấy lại làm cho học trò thư thái và biết nghĩ biết suy”, ông đòi hỏi khả năng phân tích, tổng hợp của người học để nắm những phần quan trọng nhất của vấn đề đặt ra Lời giảng

“này, Tứ, sự thông suốt mọi nhẽ của ta chẳng phải ở nhẽ ta học nhiều mà ở chổ

ta để tâm tìm ra đầu mối”, không phải chỉ dành riêng cho Tử Cống mà là yêu cầu đối với tất cả những ai muốn “thông suốt mọi nhẽ ” như ông

+ Thầy - trò phối hợp đồng bộ: Việc học không chỉ là học cho trò mà còn

là cơ hội để thầy cũng học nên Khổng Tử đưa ra học thuyết: "Giáo học bán" (Việc dạy và việc học, mỗi người một nửa) Người thầy đưa ra một vấn đề, học trò phải lật ngược vấn đề trở lại thành 3 vấn đề (Cử nhất phản tam) Người thầy đưa ra 1 mệnh đề người học phải ít nhất suy ra 3 vấn đề để nhận thức, học như vậy, mới sâu sắc Theo quan niệm của Khổng Tử, người dạy học phải thật tâm huyết với sự nghiệp giáo dục nên mới: "Hối nhân bất quyện" (dạy người không chán) Khổng Tử được tôn xưng là: "Vạn thế sư biểu" nên những học thuyết về giáo dục, học vấn trên đây cho đến ngày nay vẫn còn có nhiều điều rất phù hợp

để chúng ta áp dụng học theo Như vậy, triết học nho gia đặc biệt là triết học

Trang 9

Khổng Tử là triết học bàn về về con người Vì những quan niệm về thế giới, về chính trị- xã hội, về luân lý đạo đức cũng đều tập trung phản ánh dời sống và bản chất con người, thể hiện những cố gắng và ước mong ổn định trật tự đẳng cấp danh phận trong xã hội thời đó nhằm xây dựng một xã hội lý tưởng lấy nhân nghĩa làm gốc Để làm được điều đó Khổng tử chủ trương phải giáo hóa con người, phải giáo dục con người để con người sống với nhau tốt hơn, không còn

áp bức, chiến tranh để ai ai cũng được sống trong một xã hội bình đẳng, an nhàn hạnh phúc Từ quan điểm đức trị như vậy và cùng với niềm tin vào sự giáo hóa con người mà Khổng Tử đưa ra quan điểm của mình về giáo dục Ông chủ trương mọi người đều phải học, phải tự học mà trước hết là học đạo đức Phải

“tu thân, tề gia, trị quốc bình thiên hạ”

Có thể nói những tư tưởng của ông về mục đích, đối tượng, nội dung, và phương pháp giáo dục không những có ý nghĩa đối với xã hội đương thời mà cho đến ngay nay vẫn còn có nhiều điều rất phù hợp để chúng ta áp dụng học theo Tất cả những gì mà Khổng Tử đã làm xứng đáng để ông trở thành nhà giáo dục lớn của xã hội đương thời và kinh nghiệm giáo hóa dân của ông luôn là những bài học để mọi thế hệ quan tâm Song quan điểm giáo dục của Khổng Tử chủ yếu dừng lại ở giao tiếp, lễ nghi chứ chưa hẳn mở mang dân trí nói chung Khổng Tử cũng đã bứt tri thức ra khỏi lao động sản xuất- lĩnh vực quan trong nhất của đời sống xã hội và nhất là mục đích giáo dục của ông đã bộc lộ hoàn toàn quan điểm của một ông thầy chủ nô quý tộc đang truyền đạo để cũng cố địa

vị thống trị của giai cấp mình Nghiên cứu hệ thống triết học Khổng Tử ta thấy

sỡ dĩ có những hạn chế đó là do bị điều kiện lịch sử và lợi ích giai cấp chi phối

Vì toàn bộ hệ thống triết học của Khổng Tử luôn chứa đựng những mâu thuẩn

và tính chất hai mặt đan xen giữa yếu tố duy vật vô thần với yếu tố duy tâm tôn giáo, giữa tư tưởng tiến bộ và quan điểm bảo thủ lạc hậu Điều đó phản ánh tâm trạng giằng xé của ông trước sự chuyển biến của thời cuộc Khi phản ánh đúng

xu thế phát triển của lịch sử phát triển của lịch sử và vượt qua được giới hạn đẳng cấp danh phận, tư tưởng của Khổng Tử hàm chứa cái nhân hợp lý mang giá

Trang 10

trị nhân loại phổ quát, đó là mặt tích cực, tiến bộ trong triết học của ông Nhưng khi bị ràng buộc bởi điều kiện lịch sử và lợi ích giai cấp, tư tưởng của ông lại lộ

rõ tính bảo thủ, lạc hậu Chẳng hạn, một mặt ông cho rằng tri thức bẩm sinh là tri thức cao nhất nhưng mặt khác ông lại khẳng định tri thức bắt nguồn từ học tập, quan sát và suy lý Khổng Tử vừa thể hiện tính chất của chũ nghĩa duy tâm vừa thể hiện quan điểm của chũ nghĩa duy vật tầm thường và khi ông công nhận

cả hai loại tri thức trên cùng song song tồn tại thì ông rơi vào tính chất của chủ nghĩa nhị nguyên Tính không nhất quán ấy trở thành cơ cho các thế hệ sau khai thác phát triển theo hai khuynh hướng khác nhau, phù hợp với điều kiện lịch sử mới và quyền lợi của họ Nhưng dù sao với những đóng góp của mình, nhất là trong lĩnh vực chính trị, đạo đức, luân lý giáo dục, Khổng Tử vẫn xứng đáng với lòng suy tôn của nhân dân Trung Hoa là “vạn biểu thế sư”

Nghiên cứu tư tưởng của Khổng Tử nói chung và tư tưởng về giáo dục của ông nói riêng trên tinh thần “gạt đục khơi trong” chúng ta thấy có những giá trị hợp lý cho đến ngày nay vẫn còn có nhiều điều rất phù hợp để chúng ta áp dụng học theo Như Hồ Chí Minh đã từng nói “tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết Khổng Tử có nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học” Trước hết, Khổng Tử rất coi trọng giáo dục, ông coi giáo dục là động lực phát triển xã hội Thông qua giáo dục ông ước mong ổn định trật tự đẳng cấp danh phận trong xã hội và đó cũng là biện pháp để đào tạo những mẫu người lý tưởng như quân tử nhằm xây dựng một xã hội lý tưởng mà

ở đó con người sống với nhau bằng đạo đức, bằng nhân nghĩa Có lẽ ước mơ này không chỉ riêng Khổng Tử mà còn là ước mơ ngàn đời của mỗi con người, của

toàn thể nhân loại Bác Hồ chúng ta đã từng nói “ Học thuyết Khổng Tử là tu dưỡng đạo đức cá nhân, tôn giáo Giê-su có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả, chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng, chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta Khổng Tử, Giê-su, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải có điểm chung đó sao? Họ đều muốn

Ngày đăng: 27/05/2022, 15:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w