1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay

20 38 27

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng Các Nguyên Tắc Phương Pháp Luận Của Phép Biện Chứng Duy Vật Trong Sự Nghiệp Đổi Mới Ở Nước Ta Hiện Nay
Tác giả Nguyễn Văn A
Trường học Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Khoa học Mác - Lênin
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 221 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phép biện chứng duy vật là linh hồn sống, là cái quyết định của chủ nghĩa Mác Lênin nói chung, của triết học Mác Lênin nói riêng bởi khi nghiên cứu những quy luật chung nhất, phổ biến nhất về sự vận động, phát triển của hiện thực khách quan và của nhận thức khoa học, phép biện chứng duy vật thông qua các nguyên lý, được cụ thể hóa bằng các cặp phạm trù và quy luật cơ bản, thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất giúp con ngời đề ra những nguyên tắc tương ứng, định hướng hoạt động lý luận và thực tiễn của mình. Do bản chất khoa học và cách mạng của nó quy định, phép biện chứng duy vật đã và đang khẳng định vai trò thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho chúng ta nhận thức và cải tạo thế giới. Phép biện chứng duy vật là cơ sở lý luận khoa học để chúng ta vận dụng trong nhận thức sự nghiệp đổi mới đất nước, đảm bảo cho nước ta phát triển vững mạnh trong giai đoạn hiện nay. Ngày nay cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang phát triển mạnh đặt ra những yêu cầu nhiệm vụ của sự nghiệp đổi mới, để sự nghiệp đổi mới ở nước ta luôn đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo phép biện chứng duy vật trong tiến trình sự nghiệp đổi mới. Chính vì vậy em xin chọn vấn đề vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay” làm đề tài tiểu luận của mình.

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

VIỆN TRIẾT HỌC

TIỂU LUẬN MÔN: ……

TÊN TIỂU LUẬN Vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật

trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay

Họ và tên học viên: Nguyễn Văn A

Mã số học viên: MP……

Lớp: cao học ngành……

Khóa học: K27 (2020 – 2022)

Địa điểm học: Học viện Chính trị khu vực II

NĂM 2021

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do lựa chọn đề tài 2

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Cơ sở lý luận thực tiễn và phương pháp nghiên cứu 2

5 Ý nghĩa của tiểu luận 2

6 Kết cấu của tiểu luận .2

NỘI DUNG 3

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 3

1.1 Định nghĩa phép biện chứng duy vật 3

1.2 Những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật 4

Chương 2 VẬN DỤNG CÁC NGUYÊN TẮC PHƯƠNG PHÁP LUẬN PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 9

2.1 Các nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật 9

2.2 Vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận phép biện chứng duy vật vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta 12

KẾT LUẬN 17

TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phép biện chứng duy vật là "linh hồn sống", là "cái quyết định" của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, của triết học Mác - Lênin nói riêng bởi khi nghiên cứu những quy luật chung nhất, phổ biến nhất về sự vận động, phát triển của hiện thực khách quan và của nhận thức khoa học, phép biện chứng duy vật thông qua các nguyên lý, được cụ thể hóa bằng các cặp phạm trù và quy luật cơ bản, thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất giúp con ngời đề ra những nguyên tắc tương ứng, định hướng hoạt động lý luận và thực tiễn của mình Do bản chất khoa học và cách mạng của nó quy định, phép biện chứng duy vật đã và đang khẳng định vai trò thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho chúng ta nhận thức và cải tạo thế giới Phép biện chứng duy vật là cơ sở lý luận khoa học để chúng ta vận dụng trong nhận thức sự nghiệp đổi mới đất nước, đảm bảo cho nước

ta phát triển vững mạnh trong giai đoạn hiện nay Ngày nay cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang phát triển mạnh đặt ra những yêu cầu nhiệm vụ của sự nghiệp đổi mới, để sự nghiệp đổi mới ở nước ta luôn đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo phép biện chứng duy vật trong tiến trình sự nghiệp đổi mới Chính vì vậy

em xin chọn vấn đề " vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay” làm đề tài tiểu luận

của mình

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích: Làm rõ giá trị ý nghĩa khoa học và cách mạng của phép biện chứng duy vật, các nguyên tắc phương pháp luận khoa học từ đó vận dụng nâng cao nhận thức trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay

Trang 4

- Nhiệm vụ: Luận giải bản chất khoa học và cách mạng của phép biện chứng duy vật, phân tích nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật và vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận này trong nhận thức sự nghiệp đổi mới

ở nước ta

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng: Nghiên cứu việc vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay

- Phạm vi: Nghiên cứu việc vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta từ năm 1986 đến nay

4 Cơ sở lý luận thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận của đề tài là quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, các văn kiện nghị quyết của Đảng Cơ sở thực tiễn của đề tài là thực tiễn vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận phép biện chứng duy vật trong nhận thức sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay

- Phương pháp nghiên cứu: Vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp như phân tích, tổng hợp, quy nạp, hệ thống cấu trúc v.v

5 Ý nghĩa của tiểu luận

Tiểu luận góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản của phép biện chứng duy vật và sự vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của phép biện chứng duy vật vào nhận thức sự nghiệp đổi mới, góp phần nâng cao nhận thức của Đảng, Nhà nước ta trong sự nghiệp đổi mới đất nước những năm tới

6 Kết cấu của tiểu luận gồm: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận và

danh mục tài liệu tham khảo

Trang 5

NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 1.1 Định nghĩa phép biện chứng duy vật

Trong lịch sử tư tưởng triết học, có hai quan điểm nhìn nhận về sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng trong thế giới Quan điểm siêu hình cho rằng, các sự vật, hiện tượng tồn tại độc lập, tách rời nhau, cái này bên cạnh cái kia, giữa chúng không có liên hệ gì với nhau và nếu có, thì đó cũng chỉ là liên hệ bên ngoài, ngẫu nhiên, không mang tỉnh tất yếu Quan điểm biện chứng coi thế giới như là một chỉnh thể thống nhất Các sự vật, hiện tượng cấu thành thế giới đó vừa tồn tại tách biệt, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyên hóa lẫn nhau

Khoa học đã chứng minh rằng, quan điểm biện chứng là quan điểm đúng đắn, vì các sự vật, hiện tượng trong thế giới luôn có sự tác động, liên hệ, phụ thuộc lẫn nhau, không có sự tồn tại độc lập, tuyệt đối

Biện chứng là phạm trù chỉ sự tác động, liên hệ, phụ thuộc, chuyển hóa giữa

các mặt, các yếu tố của một sự vật, một hiện tượng hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau

Phép biện chứng là hệ thống quan điểm, lý luận, học thuyết phản ảnh quy

luật về sự tác động, liên hệ, phụ thuộc, chuyển hóa giữa các mặt, các yếu tố của một sự vật, một hiện tượng hay giữa các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội

và tư duy

Cho đến nay, phép biện chứng có ba hình thức cơ bản:

Một là, phép biện chứng cổ đại (thế kỷ VI tr.CN), điển hình trong triết học

Hy Lạp, đại biểu tiêu biểu là Hêraclit;

Hai là, phép biện chứng trong triết học cổ điển Đức (thế kỷ XII-XVIII) đại

biểu tiêu biểu là Hêghen;

Ba là, phép biện chứng duy vật (thế kỷ XIX-XX) do C.Mác và PhĂngghen

sáng lập và được V.LLênin bổ sung, phát triển

Trang 6

Trong ba hình thức trên, phép biện chứng duy vật là phép biện chứng khoa

học Nói cách khác, phép biện chứng duy vật là khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, cửa xã hội loài người và của

tư duy.

1.2 Những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật

1.2.1 Hai nguyên lý cơ bản

+ Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

Thế giới có vô vàn các sự vật, hiện tượng nhưng chúng tồn tại trong mối liên

hệ trực tiếp hay gián tiếp với nhau; tức là chúng luôn luôn tồn tại trong sự quy định lẫn nhau, tác động lẫn nhau và làm biến đổi lẫn nhau Mặt khác, mỗi sự vật hay hiện tượng của thế giới cũng là một hệ thống, được cấu thành từ nhiều yếu tố, nhiều mặt… tồn tại trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau, chi phối và làm biến đổi lẫn nhau

Mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng rất đa dạng, muôn hình, muôn vẻ Có mối liên hệ bên trong là mối liên hệ giữa các mặt, các yếu tố trong một sự vật hay một hệ thống Có mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa vật này với vật kia, hệ thống này với hệ thống kia Có mối liên hệ chung, lại có mối liên hệ riêng Có mối liên hệ trực tiếp không thông qua trung gian lại có mối liên hệ gián tiếp, thông qua trung gian Có mối liên hệ tất nhiên và ngẫu nhiên; mối liên hệ cơ bản và không cơ bản.v.v…

Ý nghĩa của vấn đề: Khi nhận thức mỗi người phải có quan điểm toàn diện

và quan điểm lịch sử – cụ thể, xem xét kỹ các mối liên hệ bản chất, bên trong sự vật, hiện tượng; cần tránh cách nhìn phiến diện, một chiều, chung chung trong việc nhận thức, giải quyết mọi vấn đề trong thực tiễn cuộc sống và công việc

+ Nguyên lý về sự phát triển

Mọi sự vật, hiện tượng luôn luôn vận động và phát triển không ngừng Vận động và phát triển không đồng nghĩa như nhau Có những vận động diễn ra theo khuynh hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện Có khuynh hướng vận động thụt lùi, đi xuống nhưng nó là tiền đề,

là điều kiện cho sự vận động đi lên Có khuynh hướng vận động theo vòng tròn khép kín

Trang 7

Phát triển là khuynh hướng vận động từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức

tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện theo chiều hướng đi lên của sự vật, hiện tượng; là quá trình hoàn thiện về chất và nâng cao trình độ của chúng Phát triển là khuynh hướng chung của thế giới và nó có tính phổ biến, được thể hiện trên mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy

Trong tự nhiên có phát triển của giới vô sinh và hữu sinh Trong xã hội, có phát triển của tiến trình lịch sử xã hội loài người Xã hội loài người ở thời đại sau bao giờ cũng phát triển cao hơn, tiến bộ hơn xã hội thời đại trước về mọi mặt kinh

tế, chính trị, văn hóa…

Phát triển trong tư duy là nhận thức con người ngày càng rõ hơn, khám phá

ra những điều bí ẩn của thế giới vô cùng, vô tận Nhận thức của từng người là có hạn, nhận thức của con người là vô hạn Nhận thức của thế hệ sau, bao giờ cũng kế thừa, phát triển và có những biểu hiện cao hơn thế hệ trước

Nguyên nhân của sự phát triển là do sự liên hệ và tác động qua lại giữa các mặt, các yếu tố bên trong của sự vật, hiện tượng, không phải do bên ngoài áp đặt, càng không phải do ý muốn chủ quan của con người quy định Con người chỉ có thể nhận thức và thúc đẩy hiện thực phát triển nhanh hoặc chậm lại mà thôi

Ý nghĩa của vấn đề: Nguyên lý về sự phát triển giúp chúng ta nhận thức sự

vật, hiện tượng theo hướng vận động phát triển, tránh được cách nhìn phiến diện với tư tưởng định kiến, bảo thủ Mỗi thành công hay thất bại được xem xét khách quan, toàn diện để có tư tưởng lạc quan, tin tưởng tìm hướng giải quyết theo hướng tốt lên

1.2.2 Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật

+ Về nhận thức quy luật

Quy luật là những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, bên trong, có tính phổ biến

và được lặp đi lặp lại giữa các mặt, các yếu tố trong cùng một sự vật, hiện tượng, hay giữa các sự vật hiện tượng

Trong thế giới khách quan có nhiều quy luật khác nhau Có những quy luật chung, phổ biến tác động trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy Có những quy luật riêng, quy luật đặc thù chỉ tác động một hay một số mặt trong một lĩnh vực nào đó Dù là quy luật tự nhiên hay quy luật xã hội đều có tính khách quan

Trang 8

Quy luật tự nhiên diễn ra một cách tự phát, thông qua tác động của lực lượng

tự nhiên Quy luật xã hội, được hình thành và tác động thông qua hoạt động của con người Quy luật xã hội thường biểu hiện ra như một xu hướng, không biểu hiện theo quan hệ trực tiếp, có tính xác định với từng việc, từng người Các sự kiện trong đời sống xã hội nếu xảy ra trong thời gian càng dài, không gian càng rộng, lặp đi, lặp lại thì tính quy luật của nó biểu hiện càng rõ

Tác động của quy luật xã hội phụ thuộc vào nhận thức và vận dụng của con người Con người là chủ thể của xã hội và của lịch sử Không có con người thì không có xã hội và do đó cũng không có quy luật của xã hội Quy luật của xã hội vừa là tiền đề, vừa là kết quả hoạt động của con người Con người không thể sáng tạo ra quy luật hay xoá bỏ quy luật theo ý muốn chủ quan của mình

Ý nghĩa của vấn đề: Việc con người nhận thức được quy luật sẽ có thể chủ

động vận dụng quy luật, tạo ra những điều kiện thuận lợi, hoặc hạn chế tác hại của quy luật để phục vụ nhu cầu lợi ích của mình

+ Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

Đây là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, vạch ra nguồn gốc động lực của sự phát triển và là hạt nhân của phép biện chứng duy vật

Mặt đối lập là những mặt có tính chất trái ngược nhau nhưng chúng tồn tại trong sự quy định lẫn nhau như cực âm và cực dương của mỗi dòng điện, đồng hóa

và dị hóa trong mỗi cơ thể sống, cung và cầu các hàng hóa trên thị trường

Sự vật, hiện tượng nào cũng là thể thống nhất của các mặt đối lập Từ mặt đối lập mà hình thành mâu thuẫn biện chứng- mâu thuẫn bao hàm sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Các mặt đối lập liên hệ với nhau, thâm nhập vào nhau, tác động qua lại lẫn nhau, làm tiền đề tồn tại cho nhau, bài trừ, phủ định lẫn nhau

Các mặt đối lập trong mỗi sự vật vừa thống nhất lại vừa đấu tranh tác động, bài trừ phủ định nhau Sự đấu tranh đó đưa đến sự chuyển hóa làm thay đổi mỗi mặt đối lập hoặc cả hai mặt đối lập, chuyển lên trình độ cao hơn hoặc cả hai mặt đối lập cũ mất đi, hình thành hai mặt đối lập mới Do đó, có thể nói: sự thống nhất

và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc và động lực cơ bản của mọi sự vận động và phát triển

Sự thống nhất các mặt đối lập là tương đối Bất cứ sự thống nhất nào cũng là

sự thống nhất có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, gắn với đứng im tương đối của sự

Trang 9

vật Đứng im là thời điểm các mặt đối lập có sự phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau Đây là trạng thái cân bằng giữa các mặt đối lập

Đấu tranh là tuyệt đối vì nó diễn ra liên tục không bao giờ ngừng, trong suốt quá trình tồn tại các mặt đối lập, từ đầu đến cuối Trong thống nhất có đấu tranh Đấu tranh gắn liền với vận động mà vận động của vật chất là tuyệt đối nên đấu tranh cũng là tuyệt đối

Ý nghĩa của quy luật: Muốn nhận thức được nguồn gốc và bản chất của mọi

sự vận động, phát triển thì cần phải nghiên cứu, phát hiện và sử dụng được sự thống nhất và đấu tranh của chúng Trong nhận thức và thực tiễn phải phát hiện được những mâu thuẫn của sự vật hiện tượng, biết phân loại mâu thuẫn, có các biện pháp để giải quyết mâu thuẫn thích hợp Phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi giải quyết mâu thuẫn

+ Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại

Mỗi sự vật, hiện tượng đều gồm hai mặt đối lập chất và lượng Chất là chỉ các thuộc tính khách quan, vốn có của các sự vật, hiện tượng; còn lượng là chỉ số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô tồn tại và tốc độ, nhịp điệu biến đổi của chúng

Trong mỗi sự vật, hiện tượng, chất và lượng tồn tại trong tính quy định lẫn nhau, không có chất hay lượng tồn tại tách rời nhau Tương ứng với một lượng (hay một loại lượng) thì cũng có một chất (hay loại chất) nhất định và ngược lại Vì vậy, những sự thay đổi về lượng đều có khả năng dẫn tới những sự thay đổi về chất tương ứng và ngược lại, những sự biến đổi về chất của sự vật lại có thể tạo ra những khả năng dẫn tới những biến đổi mới về lượng của nó Sự tác động qua lại

ấy tạo ra phương thức cơ bản của các quá trình vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng

Sự thống nhất giữa lượng và chất, được thể hiện trong giới hạn nhất định gọi

là độ Độ là giới hạn trong đó có sự thống nhất giữa lượng và chất mà ở đó đã có

sự biến đổi về lượng nhưng chưa có sự thay đổi về chất; sự vật khi đó còn là nó, chưa là cái khác Đến điểm nút, qua bước nhảy bắt đầu có sự thay đổi về chất Sự vật biến đổi hoàn toàn về chất thành sự vật khác

Chất là mặt tương đối ổn định, lượng là mặt thường xuyên biến đổi Lượng biến đổi mâu thuẫn, phá vỡ chất cũ, chất mới ra đời với lượng mới Lượng mới lại tiếp tục biến đổi đến giới hạn nào đó lại phá vỡ chất cũ thông qua bước nhảy Quá

Trang 10

trình cứ thế tiếp diễn tạo nên cách thức vận động phát triển thống nhất giữa tính liên tục và tính đứt đoạn trong sự vận động phát triển của sự vật

Ý nghĩa của quy luật: Con người nhận thức và hoạt động thực tiễn phải tích

lũy lượng để thực hiện biến đổi về chất (“tích tiểu thành đại”, “góp gió thành bão”) của các sự vật hiện tượng, khắc phục được khuynh hướng chủ quan, duy ý chí, muốn các bước nhảy liên tục Mặt khác, cần khắc phục tư tưởng hữu khuynh, ngại khó khăn, lo sợ không dám thực hiện những bước nhảy vọt khi có đủ điều kiện Trong hoạt động thực tiễn, cần tích cực chuẩn bị kỹ mọi điều kiện chủ quan Khi

có tình thế, thời cơ khách quan thì kiên quyết tổ chức thực hiện bước nhảy để giành thắng lợi quyết định

+ Quy luật phủ định của phủ định

Quy luật này vạch ra khuynh hướng vận động, phát triển của sự vật Thế giới vật chất tồn tại, vận động phát triển không ngừng Sự vật hiện tượng nào đó xuất hiện, mất đi, thay thế bằng sự vật, hiện tượng khác Sự thay thế đó gọi là phủ định

Phủ định biện chứng có đặc trưng cơ bản là sự tự phủ định do mâu thuẫn bên trong, vốn có của sự vật; là phủ định gắn liền với sự vận động phát triển Phủ định biện chứng là phủ định có sự kế thừa yếu tố tích cực của sự vật cũ và được cải biến

đi cho phù hợp với cái mới Không có kế thừa thì không có phát triển nhưng là kế thừa có chọn lọc Phủ định biện chứng là sự phủ định vô tận Cái mới phủ định cái

cũ, nhưng cái mới không phải là mới mãi, nó sẽ cũ đi và bị cái mới khác phủ định; không có lần phủ định nào là phủ định cuối cùng Phủ định biện chứng gắn với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể; mỗi loại sự vật có phương thức phủ định riêng Phủ định trong tự nhiên khác với phủ định trong xã hội, và cũng khác với phủ định trong tư duy

Sự vật nào vận động phát triển cũng có tính chu kỳ Sự vật khác nhau thì chu

kỳ, nhịp điệu vận động phát triển dài, ngắn khác nhau Tính chu kỳ của sự phát triển là từ một điểm xuất phát, trải qua một số lần phủ định, sự vật dường như quay trở lại điểm xuất phát nhưng cao hơn Mỗi lần phủ định là kết quả của sự đấu tranh

và chuyển hóa các mặt đối lập Phủ định lần thứ nhất làm cho sự vật trở thành cái đối lập với chính nó Phủ định lần thứ hai sự vật mới ra đời, đối lập với cái đối lập, nên sự vật dường như quay lại cái cũ, nhưng trên cơ sở cao hơn

Phép biện chứng duy vật khẳng định vận động phát triển đi lên, là xu hướng chung của thế giới, nhưng không diễn ra theo đường thẳng, mà diễn ra theo đường xoáy ốc quanh co phức tạp Trong điều kiện nhất định, cái cũ tuy đã cũ, nhưng còn

có những yếu tố vẫn mạnh hơn cái mới Cái mới còn non nớt chưa có khả năng

Ngày đăng: 27/05/2022, 15:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w