1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp phát triển năng lực ngôn ngữ của HS lớp 2 khi dạy viết đoạn văn ngắn

22 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 388,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 MỤC LỤC A ĐẶT VẤN ĐỀ 2 1 Lí do chọn đề tài 2 2 Mục đích nghiên cứu 3 3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3 4 Phương pháp nghiên cứu 3 5 Thời gian nghiên cứu 3 B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 4 I Cơ sở lí luận 4 1 Phát triển năng lực ngôn ngữ khi dạy học viết đoạn văn 4 2 Tổng quan về chương trình dạy học viết đoạn văn ở lớp 2 5 II Thực trạng dạy học viết đoạn văn ở lớp 2 6 1 Thuận lợi 6 2 Khó khăn 6 3 Kết quả khảo sát 7 III Một số biện pháp phát triển năng lực ngôn ngữ của HS lớp 2 khi dạy học viết đoạn văn.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

Theo Chương trình giáo dục phổ thông (CTGDPT) được ban hành năm 2018, tất

cả các môn học và hoạt động giáo dục đều phải chú trọng phát triển các năng lực vàphẩm chất của học sinh Tiếng Việt là môn học công cụ tư duy và giao tiếp, hình thànhnăng lực ngôn ngữ (NLNN) cho HS Các em sử dụng thành thạo tiếng Việt thì mới có thểhọc tốt các môn học khác và có khả năng thích ứng tốt với sự phát triển của xã hội Dạyhọc môn Tiếng Việt là “dạy cách dùng tiếng Việt trong cả hai dạng ngôn ngữ (nói, viết),dạy cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, dạy HS cả lĩnh hội và sản sinh các ngôn bản bằngtiếng Việt” Trong quá trình học môn Tiếng Việt, HS được rèn kĩ năng viết chữ và kĩnăng viết văn bản Việc tạo lập văn bản theo đề tài tự chọn hoặc theo quy định yêu cầungười học phải có kĩ năng viết văn bản ở mức độ cao và có những năng lực cụ thể.CTGDPT năm 2018 đã nêu rõ mục tiêu cần đạt của chương trình môn Tiếng Việt ở tiểuhọc là: “Giúp học sinh bước đầu phát triển NLNN ở tất cả các kĩ năng đọc, viết, nói vànghe ở mức độ căn bản thông qua những kiến thức phổ thông sơ giản về tiếng Việt và vănhọc” và “góp phần phát triển năng lực thẩm mĩ cho HS chủ yếu thông qua cảm thụ,thưởng thức văn học.”

Việc dạy HS viết một đoạn văn ngắn là “dạy HS sử dụng được tiếng Việt để giaotiếp” Điều này góp phần rèn luyện tư duy, hình thành nhân cách và nuôi dưỡng tâm hồncho HS Tuy nhiên, việc dạy HS viết đoạn văn hiện nay ở các trường tiểu học còn tồn tạimột số bất cập Giáo viên (GV) còn lúng túng trong quá trình tổ chức lớp học, thiết kế bàihọc, luyện tập kĩ năng tạo lập văn bản cho HS Cách dạy viết văn máy móc, theo khuônmẫu đã hạn chế sự sáng tạo của HS GV chưa tạo được hứng thú học tập cho HS trongtiết học, chưa khơi gợi được các tình huống, nhu cầu giao tiếp để HS nảy sinh những ýtưởng riêng; các em còn thiếu cảm xúc và không tích cực suy nghĩ khi làm bài Hiệntượng sao chép văn mẫu còn tồn tại; HS nói và viết theo ý, lời của người khác hoặc trả lờicác câu hỏi gợi ý, các đoạn văn đều cùng chủ đề, na ná giống nhau Các em chưa hiểuđược ý nghĩa của việc làm văn, chỉ hoàn thành cho xong yêu cầu học tập Thêm vào đó,

Trang 3

việc đánh giá một đoạn văn là sản phẩm của HS có nhiều khó khăn do định tính hoặc cảmnhận riêng của người chấm.

Nhận rõ tầm quan trọng của nhiệm vụ phát triển NLNN của học sinh lớp 2 và từthực tế thấy được trong quá trình giảng dạy các tiết luyện viết đoạn văn ở lớp mình chủnhiệm, tôi luôn trăn trở, tìm tòi, học hỏi các phương pháp, kĩ thuật dạy học để tiết họctràn đầy hứng khởi hơn, giúp học sinh phát triển được NLNN Xuất phát từ những lí do

trên, tôi mạnh dạn viết đề tài: “Một số biện pháp phát triển năng lực ngôn ngữ của HS

lớp 2 khi dạy học viết đoạn văn”.

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất một số biện pháp phát triển NLNN khi dạy HS viết đoạn văn để giúp họcsinh viết được đoạn văn đúng chủ đề, kĩ năng diễn đạt tiến bộ hơn và vận dụng tốt các nộidung bài đã học vào học tập và cuộc sống, góp phần nâng cao chất lượng dạy học mônTiếng Việt

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: 47 học sinh lớp 2A11, trường Tiểu học Vĩnh Hưng,

Hoàng Mai, Hà Nội

- Phạm vi nghiên cứu: Các bài học luyện viết đoạn văn trong SGK Tiếng Việt (bộ

Kết nối tri thức với cuộc sống).

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp điều tra, phỏng vấn

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

5 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 9 năm 2021 đến tháng 4 năm 2022

Trang 4

Năng lực của HS được chia thành hai loại chính, năng lực cốt lõi và năng lực đặcthù Cụ thể:

- Năng lực cốt lõi là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kì ai cũng cần phải có để sống, họctập và làm việc hiệu quả Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học.Đây là loại năng lực được hình thành xuyên suốt chương trình giáo dục phổ thông Mỗinăng lực cốt lõi góp phần tạo nên kết quả có giá trị cho xã hội và cộng đồng, giúp cho các

cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của một bối cảnh xã hội rộng lớn và phức tạp Dạngnăng lực cơ bản này có thể không quan trọng với các chuyên gia, nhưng rất quan trọngđối với tất cả mọi người, bao gồm: Năng lực tự chủ và tự học; Năng lực giao tiếp và hợptác; Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

- Năng lực đặc thù là năng lực riêng được hình thành và phát triển do một lĩnh vực, mônhọc nào đó Đây là dạng năng lực chuyên sâu, góp phần giúp con người giải quyết cáccông việc chuyên môn, bao gồm: Năng lực ngôn ngữ; Năng lực tính toán; Năng lực khoahọc; Năng lực công nghệ; Năng lực tin học; Năng lực thẩm mĩ; Năng lực thể chất

Việc hình thành, phát triển NLNN nằm trong các năng lực đặc thù do môn TiếngViệt đảm nhận NLNN có tính bẩm sinh, hệ thống và sẵn sàng hoạt động khi được kíchhoạt trong môi trường tương tác Trong quá trình học tập, năng lực của HS sẽ được biểuhiện rõ nhất thông qua hành động và kết quả mà HS đạt được khi tham gia thực hiện hoạtđộng ấy và cách giải quyết trước các tình huống có vấn đề trong cuộc sống của HS.NLNN được thể hiện ở 4 kĩ năng chính là đọc - viết – nói – nghe và được xếp thành 2loại: năng lực tiếp nhận (đọc, nghe) và năng lực tạo lập (viết, nói)

Kĩ năng viết đoạn văn là một trong bốn kĩ năng cần hình thành và phát triển cho

HS trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt HS viết đoạn văn sẽ thể hiện khả năng tưduy, sản sinh ra ý tưởng và biết diễn đạt, trình bày ý tưởng đó một cách rõ ràng, rành

Trang 5

mạch, hay và có sức thuyết phục… Kĩ năng viết đoạn không chỉ yêu cầu HS biết viếtchữ, viết câu mà còn tạo ra được các kiểu loại văn bản

CTGDPT năm 2018 được xây dựng theo hướng phát triển năng lực của người học,vẫn coi trọng nội dung kiến thức nhưng cần thay đổi cách dạy, cách học theo hướng HSchủ động tham gia kiến tạo nội dung kiến thức, vận dụng tri thức vào cuộc sống và hìnhthành phương pháp tự học để có thể học tập suốt đời Quan điểm này chú trọng đến khảnăng vận dụng tổng hợp những gì đã học được vào việc giải quyết vấn đề thực tiễn trongcuộc sống của HS Người học được trang bị những kiến thức, kĩ năng ngôn ngữ thiết yếu(kĩ năng tiếp nhận và tạo lập) để ứng dụng vào trong cuộc sống Như vậy, sự vận dụngthành thạo các kĩ năng cơ bản nghe – nói – đọc – viết trong thực tiễn của HS chính làthước đo NLNN của người học

Thông qua các giờ học viết đoạn văn, HS sẽ sử dụng tổng hợp các hiểu biết vềluyện từ và câu, chính tả, khả năng nghe nói tiếng Việt, vốn kiến thức về xã hội và hiểubiết về đời sống cá nhân… để viết một đoạn văn, bài văn Mỗi bài TLV là sản phẩm củatừng HS trước một đề tài Sản phẩm này ít nhiều mang dấu ấn riêng từng em trong cáchsuy nghĩ, cách kể, cách tả, cách diễn đạt….Phát triển NLNN cho HS khi dạy viết đoạnvăn là quá trình GV hướng dẫn HS vận dụng những tri thức ngôn ngữ các em có được đểtạo lập văn bản ở từng ngữ cảnh cụ thể trong cuộc sống

2 Tổng quan về chương trình dạy học viết đoạn văn ở lớp 2

Đối với CTGDPT năm 2018, nội dung dạy học được xác định dựa trên các yêu cầucần đạt của mỗi lớp Đối với lớp 2, nội dung dạy viết đoạn văn ngắn bao gồm:

* Quy trình viết: HS xác định được nội dung bằng cách trả lời câu hỏi: “Viết về

cái gì?”; viết nháp; dựa vào hỗ trợ của giáo viên, chỉnh sửa được lỗi dấu kết thúc câu,cách viết hoa, cách dùng từ ngữ

* Thực hành viết:

- Viết được 4 - 5 câu thuật lại một sự việc đã chứng kiến hoặc tham gia dựa vàogợi ý

- Viết được 4 - 5 câu tả một đồ vật gần gũi, quen thuộc dựa vào gợi ý

- Viết được 4 - 5 câu nói về tình cảm của mình đối với người thân hoặc sự việcdựa vào gợi ý

- Viết được 4 - 5 câu giới thiệu về một đồ vật quen thuộc dựa vào gợi ý

- Biết đặt tên cho một bức tranh

Trang 6

- Biết viết thời gian biểu, bưu thiếp, tin nhắn, lời cảm ơn, lời xin lỗi.

Tùy thuộc từng bộ sách giáo khoa, đề bài và chủ đề viết đoạn sẽ khác nhau Trongkhuôn khổ phạm vi đề tài, tôi xin trình bày những biện pháp mình đã áp dụng khi dạy họccác bài luyện viết đoạn trong bộ sách giáo khoa Kết nối tri thức với cuộc sống của Nhàxuất bản Giáo dục

II Thực trạng dạy học viết đoạn văn ở lớp 2

- Đa số hăng hái tham gia vào các hoạt động học tập

- Một số học sinh được bố mẹ quan tâm nhiều đến việc học tập, tiếp thu bài tốt

- Được tích lũy vốn từ vựng từ lớp 1, biết nói thành câu và viết được câu văn đơn giảnđúng ngữ pháp

2 Khó khăn:

Giáo viên:

- Phân bố thời gian các hoạt động trong một giờ học chưa thực sự hợp lí

- Chưa biết cách hướng dẫn học sinh khắc phục khó khăn và phát triển NLNN một cách cụthể và rõ ràng

Học sinh:

Khi viết đoạn văn, HS còn mắc một số lỗi phổ biến sau đây:

- Lỗi về từ: dùng từ chưa đúng hoặc chưa phù hợp với ngữ cảnh dẫn đến câu chưa rõnghĩa, sai nghĩa Trong khi viết, HS còn lặp từ trong một câu hoặc dùng từ danh xưngchưa thống nhất trong đoạn

- Lỗi về dấu câu: thiếu dấu chấm, dấu phẩy hay dùng dấu chấm, dấu phẩy chưa phù hợptrong từng câu văn và trong cả đoạn văn HS hiếm khi sử dụng dấu chấm than hay dấuchấm hỏi trong bài viết Các kiểu câu còn đơn điệu

Trang 7

- Lỗi chính tả: đây là lỗi phổ biến mà hầu như các bài làm của HS đều mắc phải Các emthường mắc phải các lỗi về dấu thanh, phụ âm đầu (ch/tr, s/x) âm cuối (n/t) do phươngngữ hoặc nói thế nào viết thế ấy, một số HS chưa ghi nhớ các quy tắc chính tả.

- Lỗi về nghĩa: HS viết sai nghĩa, lặp lại ý trong câu khá phổ biến trong bài làm của cácem

mà HS thường mắc phải khi viết đoạn văn Kết quả thu được như sau:

Bảng 2 Tần suất những lỗi mà HS thường mắc phải khi viết đoạn văn

Từ thực trạng trên chúng tôi nhận thấy: Sự hạn chế về kĩ năng viết đoạn văn của

HS lớp 2 chủ yếu là do vốn từ của các em còn ít, chưa hiểu rõ nghĩa của từ ngữ phù hợptrong từng ngữ cảnh Bên cạnh đó, HS viết ý trả lời theo các câu hỏi trong SGK hoặchướng dẫn của GV nên chưa có sáng tạo trong khi làm bài HS chưa biết liên kết các câutrong đoạn, lặp từ, lặp ý khi viết Sự thay đổi của chương trình và sách giáo khoa đã tácđộng đến quá trình dạy – học của GV và HS GV đã có ý thức đổi mới phương pháp dạyhọc tuy nhiên chưa có hệ thống

Trang 8

III Một số biện pháp phát triển năng lực ngôn ngữ của HS lớp 2 khi dạy học viết đoạn văn

Muốn phát triển NLNN cho HS thông qua dạy học viết đoạn văn, GV cần cónhững biện pháp dạy học phù hợp nhằm khai thác được vốn ngôn ngữ sẵn có của HS vàcung cấp cho các em những kiến thức và cách vận dụng những kiến thức đó vào quá trìnhtạo lập văn bản.Việc phát triển NLNN của HS lớp 2 khi dạy học viết đoạn văn phải dựavào những điều HS đã có, đã biết để từ đó giúp HS phát triển và tiếp nhận những tri thức,

kĩ năng mới Tổ chức dạy học viết đoạn văn theo hướng phát triển NLNN nhằm thực hiệncác hoạt động để giúp HS phát triển tư duy NLNN và rèn kĩ năng viết đoạn cho HS,hướng tới hình thành và phát triển các năng lực sử dụng tiếng Việt cho người học trongmôi trường học tập và đời sống theo lứa tuổi

Theo phần cơ sở lí luận và thực trạng dạy học viết đoạn văn đã trình bày ở trên, tôiquyết định đưa ra một số biện pháp như sau:

- Biện pháp 1: Rèn kĩ năng quan sát của HS lớp 2.

- Biện pháp 2: Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng viết đoạn văn cho HS lớp 2 nhằm phát triển năng lực ngôn ngữ.

- Biện pháp 3: Xây dựng quy trình dạy viết đoạn văn nhằm phát triển năng lực ngôn ngữ cho HS lớp 2.

1 Biện pháp 1: Rèn kĩ năng quan sát của HS lớp 2

Một yêu cầu cơ bản để viết được một đoạn văn kể chuyện, thuật lại hay miêu tả đó

là học sinh phải có kĩ năng quan sát HS phải biết cách quan sát và chọn lọc các chi tiếtquan sát được Mọi kết quả quan sát được thể hiện trong bài văn của các em Quan sáttinh vi, thấu đáo sẽ khiến bài viết đặc sắc, hấp dẫn Quan sát hời hợt, phiến diện sẽ khiếnbài viết khô khan Kĩ năng quan sát không phải là thuộc tính cá nhân của từng HS mà chủyếu được hình thành trên cơ sở luyện tập Thông thường, học sinh đã sử dụng kĩ năng nàynhiều lần và thường là không tự giác, vì thế những thông tin thu được sơ lược đơn giản.Như vậy, GV cần giúp HS khi học văn phải biết tự giác, chủ động có định hướng, mụcđích khi quan sát

Khó khăn lớn nhất của HS khi quan sát đó là quan sát một cách không chủ định,vốn từ ngữ chưa phong phú nên không thể diễn đạt mạch lạc điều muốn nói Vì vậy,nhiệm vụ rèn luyện kĩ năng quan sát cho HS cần phải được dạy một cách thường xuyênthông qua các cách thức: Sử dụng các giác quan vào quan sát, quan sát theo một trình tựhợp lí

Ví dụ 1: Để rèn cho HS kĩ năng luyện tập sử dụng các giác quan khi quan sát, GV

tổ chức cho HS thực hiện các bài tập sau:

Bài 1 Đọc đoạn văn sau:

Trang 9

Ôi chao! Chú chuồn chuồn nước mới đẹp

làm sao! Màu vàng trên lưng chú lấp lánh Bốn

cái cánh mỏng như giấy bóng Cái đầu tròn và

hai con mắt long lanh như thủy tinh Thân chú

nhỏ và thon vàng như màu vàng của nắng mùa

thu Chú đậu trên một cành lộc vừng ngả dài

trên mặt hồ Bốn cánh khẽ rung rung như còn

đang phân vân.

a) Em hãy tìm từ ngữ chỉ đặc điểm từng bộ phận chú chuồn chuồn nước và ghi vàobảng dưới đây:

Đôi mắtCái đầuBốn cánhThân chú

b) Tác giả đã quan sát những bộ phận của chuồn chuồn nước bằng giác quan nào(nhìn hay nghe)?

Bài 2 Đọc đoạn văn sau:

Cái cặp của em lại có quai chắc để em xách cho đỡ mỏi tay Thích nhất là nó có hai

ổ khóa bằng sắt mạ kền sáng loáng để đóng vào, mở ra Mặt khóa lấp lánh như gương Mỗi lần em đóng cặp, khóa kêu tanh tách nghe rất vui tai.

(Theo Trần Mạnh Hưởng)

a) Tìm những từ ngữ chỉ đặc điểm của cái cặp

b) Viết tên các giác quan mà người viết đã dùng để quan sát vào chỗ chấm trongmỗi câu sau:

Để nhìn thấy ổ khóa của cặp được làm bằng sắt mạ kền sáng loáng, người viết đãquan sát bằng………

Trang 10

- Để nhìn thấy ổ khóa mới, mặt khóa sáng lấp

lánh, người viết đã quan sát bằng

………

………

- Để nghe thấy tiếng kêu “tanh tách” của khóa

khi mở ra mở vào, người viết đã lắng nghe

bằng………

Bài 3 Đọc đoạn văn sau:

Trong các loại quả em thích nhất là quả chuối Quả chuối dáng cong cong, màu

vàng xuộm trông thật thích mắt Bóc lượt vỏ đi, ruột chuối màu trắng ngà hiện ra mới hấp dẫn làm sao! Cắn nhẹ một miếng, ta thấy vị ngọt mát lan tỏa.

Em hãy viết tên các giác quan được tác giả dùng để quan sát vào chỗ chấm trongmỗi ô sau:

Ví dụ 2: Để hướng dẫn HS nắm được trình tự quan sát, GV có thể tổ chức HS thực

hiện các bài tập rèn kĩ năng quan sát sau:

Bài 1 Quan sát tranh, trả lời câu hỏi: (Tả đồ dùng học tập/đồ dùng ở nhà)

Trang 11

Bài 2 Quan sát tranh và trả lời câu hỏi:

(Giới thiệu/tả một con vật)

a) Tranh vẽ con gì?

b) Con vật đó có bộ lông màu gì?

c) Hai cái tai nó trông thế nào?

d) Nó đang làm gì?

b) Bàn được sơn màu gì?

c) Mặt bàn hình gì?

d) Trên mặt bàn có vẽ những gì?

Bài 3 Quan sát tranh và trả lời câu hỏi:

(Giới thiệu/tả một con vật)

a) Tranh vẽ con gì?

b) Những bộ phận nào của con vật làm em chú ý?

c) Bộ lông của nó có màu gì?

d) Mào nó như thế nào?

e) Nó thường làm gì vào mỗi buổi sáng?

Những nhiệm vụ, bài tập tôi đưa ra trên đây đã kích thích sự say mê, hứng thú củacác em trong quá trình học tập để nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học viết đoạn văn Từ

đó, HS sẽ có những kiến thức vững chắc về ngôn ngữ và sử dụng chúng như một công cụđắc lực trong quá trình học tập

2 Biện pháp 2: Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 2

nhằm phát triển năng lực ngôn ngữ.

Để phát triển năng lực ngôn ngữ cho HS khi dạy học viết đoạn văn, tôi đi từ việc xây dựng hệ thống bài tập thực hành nhằm giúp HS phát triển vốn từ, luyện viết câu văn đến hướng dẫn HS tìm ý, liên kết đoạn và thực hành viết đoạn

Việc xây dựng các bài tập nhằm phát triển vốn từ, liên kết câu trong dạy học viếtđoạn văn không phải là hoạt động trọng tâm cùa tiết Tuy nhiên, thông qua thực hành làmbài tập, HS được phát triển NLNN từ đó vận dụng vào việc viết đoạn văn, luyện tậpthành thạo kĩ năng viết Các bài tập đưa ra dưới đây không phải là những dạng bài tập

Ngày đăng: 27/05/2022, 12:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ GD và ĐT, Chương trình giáo dục phổ thông tổng thế, 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông tổng thế
2. Bộ GD và ĐT, Chương trình giáo dục phổ thông môn Toán, 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông môn Toán
3. Bùi Mạnh Hùng (Tổng chủ biên), SGK Tiếng Việt 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Tiếng Việt 2
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
5. Đỗ Xuân Thảo, Phan Thị Hồ Điệp, Chiến thuật viết văn tiểu học (Tập 1), NXB Đại học Sư phạm, 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến thuật viết văn tiểu học (Tập 1)
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
4. Dương Thị Hương (Chủ biên), 35 đề ôn luyện Tiếng Việt 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2021 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w