Bối cảnh: Trong dạy Toán ở tiểu học nói chung và dạy Toán lớp 1 nói riêng, giải toán có lời văn là một trong những nội dung dạy học quan trọng bậc nhất vì nó được coi là hoạt động nhằm
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
I Bối cảnh:
Trong dạy Toán ở tiểu học nói chung và dạy Toán lớp 1 nói riêng, (giải toán
có lời văn) là một trong những nội dung dạy học quan trọng bậc nhất vì nó được coi
là hoạt động nhằm hai mục tiêu: Thứ nhất giải toán có lời văn giúp học sinh củng
cố vận dụng những kiến thức giải toán, phát triển kỹ năng, kĩ sảo đã được hình thành Thứ hai, giải toán có lời văn giúp phát triển tư duy cho học sinh
Đối với học sinh lớp 1, các em thực sự là những mầm cây còn rất non nớt, để
có được một cây to, cây khoẻ, mỗi giáo viên dạy lớp 1 ngoài việc uốn nắn, buộc tỉa phải biết chăm sóc để các em được phát triển một cách toàn diện Làm tốt việc dạy
“Giải toán có lời văn” cho học sinh lớp 1 sẽ góp phần vô cùng quan trọng để phát triển trí tuệ cho các em một cách tổng hợp Từ đó các em sẽ có một nền tảng vững chắc để học các môn học khác và tiếp tục học lên các lớp trên
Môn Toán là một trong những môn học giữ vị trrí quan trọng trong chương trình đào tạo của bậc Tiểu học, môn học này góp phần to lớn trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện Đặc biệt là dạy học theo định hướng đổi mới phương pháp nhằm phát huy tính tích cực chủ động chiếm lĩnh kiến thức của học sinh
II Lý do chọn đề tài:
Bậc Tiểu học là bậc học quan trọng, bậc học nền móng trong hệ thống giáo dục quốc dân Muốn trở thành một học sinh giỏi, một công dân có ích phục vụ Tổ quốc phục vụ nhân dân thì ngay từ bậc Tiểu học các em phải có những kiến thức vững chắc để tiếp tục học lên các lớp trên
Là một giáo viên tiểu học tôi tự nhận thấy mình thật là vinh dự được làm
“nghề cao quý trong các nghề cao quý” nhưng cũng thấy trách nhiệm của mình thật lớn lao phải làm sao đào tạo cho đất nước những thể hệ mầm non – Người chủ tương lai của đất nước
Đặc biệt trong đời sống và khoa học kĩ thuật hiện đại, bậc Tiểu học góp phần đào tạo học sinh trở thành con người phát triển toàn diện, năng động, sáng tạo đáp ứng được mọi nhu cầu phát triển của khoa học công nghệ Trong xã hội thời kì đổi
mới thì càng đòi hỏi các lớp học sinh sau này phải thực sự có phẩm chất và năng
lực, trí tuệ để trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước
Giải toán có lời văn đối với học sinh lớp1 là loại toán khó mà trong quá trình học tập học sinh còn bộc lộ nhiều hạn chế trong giải toán cũng như khả năng diễn đạt khi giải toán Do đó việc dạy loại toán này đạt kết quả chưa cao vì:
- Giáo viên đã hướng dẫn học sinh giải toán nhưng chưa xác định được chuẩn kiến thức kĩ năng và mục tiêu của bài dạy Giáo viên chưa chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong giảng dạy Khi dạy chưa phân hoá đối tượng học sinh
Trang 2- Học sinh đọc bài toán chưa thông thạo, chưa hiểu nội dung bài toán, chưa xác định được yêu cầu của bài toán: Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì? Đa số học sinh chưa biết trình bày bài giải
Nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy học giải toán ở Tiểu học nhất là
khối lớp1 Khối đầu cấp nên tôi chọn đề tài: “Kinh nghiệm rèn kỹ năng giải toán
có lời văn cho học sinh lớp1”
Qua đề tài này, tôi mong muốn được góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy học môn Toán đặc biệt tìm ra phương pháp giúp học sinh có được
kĩ năng giải toán có lời văn tốt hơn
Cụ thể :
* Dạy cho học sinh nhận biết về cấu tạo của bài toán có lời văn
* Đọc hiểu - phân tích - tóm tắt bài toán
* Giải toán đơn về thêm (bớt) bằng một phép tính cộng (trừ)
* Trình bày bài giải gồm: câu lời giải + phép tính + đáp số
* Tìm lời giải phù hợp cho bài toán bằng nhiều cách khác nhau
III Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
* Phạm vi:
- Trong chương trình Toán 1
- Giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1C
- Từ tiết 81 cho đến tiết 108
- Là những bài tập thuộc mạch kiến thức “Giải toán có lời văn” trong chương trình lớp 1 ở Tiểu học
* Đối tượng:
- Học sinh lớp 1 Trường Tiểu học nơi tôi công tác và giảng dạy
IV Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu qua tình hình thực tế đối với học sinh của lớp tôi phụ trách và học sinh trên địa bàn trường tiểu học của chúng tôi Trên cơ sở nội dung môn Toán
ở tiểu học bao gồm 4 chủ đề kiến thức lớn Tôi đi sâu vào trình bày “Giải toán có lời văn”
* Dạy cho học sinh nhận biết về cấu tạo của bài toán có lời văn
* Đọc hiểu - phân tích - tóm tắt bài toán
* Giải toán đơn về thêm (bớt) bằng một phép tính cộng (trừ)
* Trình bày bài giải gồm: câu lời giải + phép tính + đáp số
* Tìm lời giải phù hợp cho bài toán bằng nhiều cách khác nhau
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
I Thực trạng của nội dung
1 Cơ sở lý luận:
Môn Toán góp phần quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ Suy luận giải quyết vấn đề góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo Góp phần quan trọng vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết, quan trọng của người lao động
Trong các môn học ở Tiểu học, cùng với môn Tiếng Việt thì môn Toán có vai trò quyết định vì các kiến thức, kĩ năng của môn toán ở Tiểu học có rất nhiều ứng dụng trong đời sống, rất cần thiết cho người lao động để học các môn khác ở Tiểu học và học tiếp môn Toán ở các cấp học trên hay còn nói môn toán ở Tiểu học là nền tảng, là chìa khóa, là kim chỉ nam cho các cấp học trên Người ta thường nói
“cấp tiểu học là nền, lớp 1 là móng, móng có chắc thì nền mới vững” Không chỉ vậy nhờ môn Toán mà học sinh có phương pháp nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh, biết cách hoạt động có hiệu quả trong thực tế đời sống
Dạy học toán phải chính xác, phải giúp học sinh thấy nguồn gốc thực tế của kiến thức, mối quan hệ giữa các kiến thức, tính thiết thực của kiến thức
Từ vị trí, vai trò của môn Toán ở Tiểu học thì phần “Giải toán có lời văn” được dạy ở Tiểu học mang ý nghĩa rất quan trọng cho việc học giải toán ở các lớp trên Vậy khả năng giải toán có lời văn chính là phản ánh năng lực vận dụng kiến thức của học sinh Học sinh hiểu về mặt nội dung kiến thức toán học vận dụng vào giải toán kết hợp với kiến thức Tiếng Việt để giải quyết vấn đề toán học
Giải toán có lời văn góp phần củng cố kiến thức toán, rèn luyện kỹ năng diễn đạt, tích cực góp phần phát triển tư duy, khả năng suy đoán, óc tưởng tượng và kĩ năng diễn đạt cho học sinh Tiểu học
2 Cơ sở thực tiễn.
a Đặc điểm tình hình lớp 1C:
Năm học 2020 - 2021, lớp 1C có tổng số 35 học sinh Trong đó có 17 học sinh nữ Gia đình các em đều làm nghề nông nghiệp, sự quan tâm kèm cặp còn hạn chế Tuy điều kiện khó khăn như vậy nhưng bản thân tôi cùng tập thể lớp 1C luôn
nỗ lực rèn luyện và phấn đấu đạt được nhiều thành tích trong các phong trào thi đua của nhà trường
b Tình hình dạy học toán ở lớp:
Qua nghiên cứu nội dung sách giáo khoa đối chiếu với việc giảng dạy ở trên lớp, kết hợp trao đổi với đồng nghiệp lâu năm, tôi rút ra nhận định chung như sau:
Với dạng toán: “Giải toán có lời văn ở lớp1” khi dạy học sinh còn có một số tồn tại:
Trang 4Học sinh chưa đọc kĩ yêu cầu của bài toán.
Học sinh còn hổng kiến thức, giải toán có lời văn còn lơ mơ Học sinh chưa biết điền phần bài toán cho biết vào tóm tắt của bài toán
Trước thực trạng đó, tôi tiến hành kiểm tra khảo sát môn toán dạng bài: “Giải toán có lời văn lớp 1” Sau đây là kết quả khảo sát môn toán giữa học kỳ 2 Lớp1C năm học trước tôi đã giảng dạy
Lớp Sĩ số HS viết đúng
câu lời giải
HS viết đúng phép tính
HS viết đúng đáp số
HS giải đúng
cả 3 bước
c Nguyên nhân:
Học sinh mới bắt đầu làm quen với dạng toán này lần đầu, tư duy của các em còn mang tính trực quan là chủ yếu Mặt khác trong giai đoạn này nhiều em chưa đọc thông viết thạo, các em còn đánh vần, nên khi đọc xong bài toán rồi nhưng các
em không hiểu bài toán nói gì Vì vậy học sinh không làm đúng bài giải
Nếu giải quyết được các vấn đề nêu ở trên kết quả dạy giải toán cho học sinh lớp 1 sẽ tốt hơn rất nhiều Sau bao trăn trở suy nghĩ cùng với thực tế giảng dạy, tôi
đã mạnh dạn đúc kết kinh nghiệm dạy kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp1
II Nội dung.
1 Các biện pháp mới đã tiến hành để giải quyết vấn đề:
Đối với trẻ là học sinh lớp 1, môn Toán tuy có dễ nhưng để học sinh đọc,
hiểu bài toán có lời văn quả không dễ dàng, vả lại việc viết lên một câu lời giải phù hợp với câu hỏi của bài toán cũng là vấn đề không đơn giản
Không chỉ vậy cần làm thế nào để học sinh đọc, hiểu, giải được bài toán đúng theo yêu cầu bài Đó là điều mà tất cả các giáo viên đều quan tâm
Vậy làm thế nào để giáo viên nói - học sinh hiểu, học sinh thực hành - diễn đạt đúng yêu cầu của bài toán và nắm vững kĩ năng giải bài toán một cách chính xác nhất Đó là mục đích chính của đề tài này Vì vậy tôi áp dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp trắc nghiệm
- Phương pháp trực quan
- Phương pháp đàm thoại, gợi mở
Trang 5- Phương pháp luyện tập.
1.1 Nội dung nghiên cứu:
Để chuẩn bị tốt cho phần học: “Bài toán có lời văn” học sinh phải trải qua một số giai đoạn sau:
a Giai đoạn 1: Quan sát tranh, nêu phép tính phù hợp Mục đích cho học sinh
hiểu bài toán qua hình vẽ, suy nghĩ chọn phép tính phù hợp
+ Ở giai đoạn này học sinh thường xuyên làm quen với dạng toán quan sát tranh nêu phép tính thích hợp
VD1: Bài 5: Tiết Luyện tập (trang 46)
Với bài đầu tiên là vô cùng quan trọng nên tôi cho học sinh quan sát thật kĩ tranh và nhấn mạnh cho học sinh biết “Có mấy quả bóng ? Thêm mấy quả bóng ? Hỏi có tất cả mấy quả bóng ? “ Sau đó tôi giúp học sinh nêu thành bài toán với 1 phép tính cộng: “Lan có 1 quả bóng, Mai có 2 quả bóng Hỏi cả hai bạn có tất cả mấy quả bóng ? “ Cho học sinh nêu đi nêu lại nhiều lần bài toán theo ý hiểu của mình
Sau khi học sinh đã năm vững được cách nêu bài toán thì tôi nhấn mạnh vào
từ “có, thêm, có tất cả” để học sinh hiểu được “thêm” có nghĩa là “cộng” và cụm từ
“có tất cả” để học sinh nắm chắc được chúng ta sẽ thực hiện phép tính cộng vào ô trống Tôi cũng nhấn mạnh và gợi mở cho học sinh có thể nêu bài toán và phép tính theo ý hiểu của mình không nhất thiết phải theo ý giáo viên để các em phát huy cách sáng tạo của mình Có thể nêu: 1 + 2 = 3 hoặc 2 + 1 = 3 Rồi học sinh điền phép tính thích hợp vào ô trống
1 + 2 = 3
Trang 6VD 2: Bài 5 (b) trang 50 Viết phép tính thích hợp vào ô trống.
Cho học sinh quan sát tranh, nêu bài toán: Có 4 con chim đang đậu, 1 con nữa bay đến Hỏi có tất cả mấy con chim ?
Học sinh khác có thể nêu:
+ Có 1 con chim đang bay, 4 con đậu trên cành Hỏi có tất cả mấy con chim ?
Học sinh viết: 1 + 4 = 5
+ Có 5 con chim, bay đi 1 con Hỏi còn lại mấy con chim ?
Học sinh viết: 5 – 1 = 4
+ Có 5 con chim, bay đi 4 con Hỏi còn lại mấy con chim ?
Học sinh viết: 5 – 4 = 1
Sau khi học sinh nêu xong giáo viên chốt có rất nhiều cách để nêu và giải một bài toán Tôi thường xuyên khuyến khích và động viên học sinh tìm ra các cách nêu và giải bài toán Với bài 5 (b) tôi sẽ hướng dẫn học sinh có thể viết được như sau:
Viết: 1 + 4 = 5 hoặc 4 + 1 = 5 nhưng phải viết phép tính phù hợp với tình huống bài toán đặt ra
Qua giai đoạn 1 tôi thấy học sinh đã hình thành tốt kĩ năng khi làm dạng bài tập như trên
b Giai đoạn 2: (Từ tiết 62 trang 87 đến hết tiết 83 trang 113) Giai đoạn này học
sinh không quan sát tranh để nêu phép tính thích hợp nữa mà chuyển sang “Viết phép tính thích hợp” dựa vào tóm tắt bài toán
Bài 3 (b): trang 87
Có : 10 quả bóng
Cho : 3 quả bóng
Còn : … quả bóng?
Tương tự giai đoạn 1 tôi cho học sinh đọc nhiều lần tóm tắt bài toán rồi căn
cứ vào từ “cho, có, còn”để hướng dẫn học sinh như “cho” là bớt đi và từ “còn” là chúng ta phải thực hiện phép tính trừ vào ô trống
10 - 3 = 7
Ở giai đoạn này học sinh đã quen dần với cách nêu bài toán, câu trả lời bằng miệng Rèn luyện thành thạo kĩ năng này sẽ rất thuận lợi khi học sinh bước vào giai đoạn học : “Giải toán có lời văn”
c Giai đoạn 3: Từ tiết 84 trang 115 đến cuối năm học sinh chính thức học rèn
luyện giải toán có lời văn
- Đối với học sinh lớp1việc giải toán gồm:
Trang 7+ Giới thiệu bài toán đơn.
+ Giải bài toán đơn về phép cộng, phép trừ Chủ yếu là bài toán thêm, bớt một số
đơn vị
- Các em mới làm quen với môn toán, với các phép tính cộng, trừ lại tiếp xúc với việc giải toán có lời văn, nên không tránh khỏi có những bỡ ngỡ
- Để giúp học sinh dần dần phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức mới giúp học sinh yêu thích say mê giải toán Tôi đã lựa chọn được một số biện pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh
Điều chủ yếu của việc dạy học giải toán là giúp học sinh tự tìm hiểu được mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm trong điều kiện của bài toán mà thiết lập các phép tính số học tương ứng, phù hợp Có thể coi dạy học giải toán là "hòn
đá thử vàng" của dạy học toán Nhờ việc dạy học giải toán mà học sinh biết cách giải bài toán theo đúng phương pháp và yêu cầu Học sinh phải biết suy nghĩ năng động, sáng tạo để tìm ra cách giải và kết quả đúng mà bài toán yêu cầu
Để tiến hành được điều đó việc dạy toán diễn ra theo 3 mức độ:
- Mức độ thứ nhất: Hoạt động chuẩn bị của giáo viên
- Mức độ thứ hai: Hoạt động làm quen với việc giải toán
- Mức độ ba: Hoạt động hình thành kĩ năng giải toán
1.2 Các bước tiến hành:
Để học sinh nắm vững được các bước của quá trình giải toán Tôi đã tiến hành như sau:
a) Hoạt động của giáo viên.
Trước mỗi giờ toán, chúng tôi thường nghiên cứu kĩ bài dạy Tìm xem đồ dùng nào phù hợp với bài dạy như: Nhóm đồ vật, mẫu hình, tranh vẽ
Mỗi học sinh có một bộ đồ dùng học toán theo yêu cầu của giáo viên Học sinh được rèn luyện các thao tác trên các nhóm đồ vật hoặc mẫu hình
Phần lớn các bài toán đều có chủ đề liên quan tới các đại lượng và mối quan
hệ giữa các đại lượng trong bài toán Vì thế việc rèn luyện kĩ năng thao tác qua việc học về phép đo đại lượng rất cần thiết cho việc giải toán
b) Hoạt động làm quen với việc giải toán tiến hành theo 4 bước.
- Tìm hiểu nội dung bài toán
- Tìm cách giải bài toán
- Thực hiện các bước giải bài toán
- Kiểm tra cách giải bài toán
Các bước này cũng chính là quy trình chung để giải một bài toán có lời văn ở Tiểu học
Trang 8c) Hoạt động hình thành kĩ năng giải toán.
Mục tiêu của mức độ này mà giải toán cần đạt tới đó là hình thành được ở học sinh năng lực khái quát và kỹ năng giải toán, rèn luyện năng lực sáng tạo
trong học tập, có thể tiến hành như sau:
Giải các bài toán trong đó phải xét đến nhiều khả năng xảy ra để lựa chọn một khả năng thoả mãn điều kiện của bài toán
* Vậy phương pháp dạy học giải toán có lời văn ở lớp1với các bước sau:
Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán.
Việc tìm hiểu nội dung bài toán (đề toán) thường thông qua việc đọc đề toán (Dù bài toán cho dưới dạng lời văn hoàn chỉnh, hoặc bằng dạng tóm tắt sơ đồ) Học sinh cần phải đọc kĩ, hiểu rõ bài toán cho biết gì, cho biết điều kiện gì ,bài toán hỏi
gì ? Khi đọc bài toán học sinh phải hiểu thật kĩ một số từ, thuật ngữ quan trọng chỉ
rõ tình huống toán học được diễn đạt theo ngôn ngữ thông thường như : “đem biếu”
“bay đi”, “ bị vỡ”…
Nếu trong bài toán có thuật ngữ nào học sinh chưa hiểu rõ, tôi hướng dẫn học sinh hiểu từ đó và hiểu nội dung ý nghĩa của từ đó trong bài toán đang làm Sau
đó học sinh thuật lại vắn tắt bằng lời mà không cần đọc lại bài toán đó
Bước 2: Tìm ra cách giải toán.
Hoạt động tìm tòi cách giải bài toán gắn liền với việc phân tích các dữ liệu, điều kiện và câu hỏi của bài toán, nhằm xác định mối quan hệ giữa chúng và tìm được các phép tính số học thích hợp
Bước 3: Trình bày cách giải bài toán.
- Trong bước này tôi để học sinh tự nêu câu lời giải, sau đó giúp học sinh chọn câu lời giải thích hợp nhất Thông qua việc tự nêu câu lời giải giúp các em rèn luyện khả năng nói đủ ý, đặc biệt là đối với học sinh lớp 1
- Tôi hướng dẫn học sinh để học sinh nắm vững được các việc cần thiết khi
trình bày bài giải, bao gồm: Ghi câu lời giải, phép tính và ghi đáp số.
Bước 4: Kiểm tra kết quả bài toán.
- Các biện pháp dạy học giải các bài toán về "Tìm tổng"; "Thêm một số đơn vị"; "Bớt một số đơn vị" nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh:
- Rèn năng lực giải các bài toán nên thông qua việc giải bài tập trong SGK
- Trong các giờ luyện tập giải các bài toán nâng cao về các dạng "Tìm tổng”,
"Thêm","Bớt" như: Giải toán theo tóm tắt, tự đặt bài toán và tự giải các bài toán đó
- Khi dạy tôi để học sinh tự tìm ra cách giải trên cơ sở đã hiểu nội dung bài toán, không nên làm thay hay chỉ rõ để học sinh tìm ra kết quả
- Đối với việc giải các bài toán đơn việc thực hiện phép tính giải và tìm
Trang 9ra kết quả phép tính nhiều khi dễ dàng hơn nhiều so với việc đặt lời giải cho bài toán
Bài toán đơn về thêm:
* Hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài toán
- Giáo viên cho học sinh xem tranh (nếu có) rồi đọc bài toán và trả lời câu hỏi của bài toán Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì ?
* Hướng dẫn học sinh tìm lời giải của bài toán
* Hướng dẫn học sinh trình bày bài giải
- Viết câu lời giải (Dựa vào câu hỏi của bài toán)
- Viết phép tính (Tên đơn vị viết vào trong dấu ngoặc đơn)
- Viết đáp số
* Hướng dẫn học sinh kiểm tra kết quả của bài toán qua tranh vẽ, hoặc mẫu vật thật Liên hệ với thực tế cuộc sống Sau đó viết phép tính và kết quả đúng
a Bài toán mẫu:
Nhà An có 5 con gà Mẹ mua thêm 4 con gà Hỏi nhà An có tất cả mấy con
gà ?
Với bài toán mẫu, giáo viên hướng dẫn học sinh tỉ mỉ, rõ ràng rút ra cách giải của bài toán
- Học sinh xem tranh hoặc mẫu vật thật
- Học sinh đọc đề toán:
- Phân tích đề toán ? Bài toán cho biết gì? (Có 5 con gà, mua thêm 4 con gà) ? Bài toán hỏi gì? Hỏi (Có tất cả mấy con gà ?)
Khi học sinh trả lời, giáo viên ghi lên bảng tóm tắt nội dung của bài toán Vài học sinh nhìn vào tóm tắt nêu nội dung bài toán
- Giáo viên hướng dẫn học sinh giải bài toán
- Giáo viên nêu câu hỏi để học sinh trả lời:
? Bài toán này cho biết gì ? (Có 5 con gà, mua thêm 4 con gà)
? Muốn biết nhà An có tất cả mấy con gà ta làm thế nào ? (Ta phải làm phép tính cộng Lấy 5 cộng 4 bằng 9)
? Tên đơn vị trong bài là gì ? (con gà)
? Như vậy nhà An có mấy con gà ? (9 con gà)
Cho vài học sinh nhắc lại
- Cho học sinh quan sát tranh vẽ hoặc mẫu vật để kiểm tra kết quả
- Hướng dẫn học sinh trình bày bài giải của bài toán
+ Viết chữ “Bài giải” ở giữa trang giấy
+ Viết câu lời giải (Dựa vào câu hỏi của bài toán)
Khuyến khích học sinh tìm được nhiều câu lời giải khác nhau Lựa chọn câu
Trang 10lời giải thích hợp nhất Học sinh có thể nêu các câu lời giải như: “ Nhà An có số con gà là:”, “Số con gà nhà An có là:” hoặc “ Nhà An có tất cả số con gà là:” Các câu lời giải này đều đúng, các en có thể lựa chọn một trong các câu lời giải này, chẳng hạn; Nhà An có tất cả số con gà là:
+ Viết phép tính: 5 + 4 = 9 (con gà)
Giáo viên gợi ý: 9 ở đây chỉ 9 con gà nên viết “con gà” trong dấu ngoặc đơn
+ Viết đáp số: 9 con gà
Giáo viên cho vài học sinh đọc lại bài giải
* Hướng dẫn học sinh kiểm tra cách giải của bài toán Học sinh nhìn tranh hoặc
mô hình vật thật để kiểm tra kết quả
Giáo viên chỉ vào từng phần của bài giải nhấn mạnh các bước khi giải bài toán:
- Khi giải bài toán cần tiến hành theo 3 bước:
Bước 1: Viết câu lời giải (dựa vào câu hỏi của bài toán)
Bước 2: Viết phép tính (Tên đơn vị viết vào trong dấu ngoặc đơn)
Bước 3: Viết đáp số
Giáo viên cho vài học sinh nhắc lại để khắc sâu nội dung bài Giáo viên nhấn mạnh: Đây là bài toán thuộc dạng toán đơn về “ thêm” ta thực hiện bằng phép tính cộng
b Bài luyện tập:
Để học sinh giải thành thạo dạng toán này, giáo viên đưa ra một số bài tập giải toán có lời văn giúp học sinh tự tìm ra cách giải
Bài 1: Lúc đầu tổ em có 6 bạn, sau đó thêm 3 bạn nữa Hỏi tổ em có tất cả mấy bạn?
Bài 2: Đàn vịt có 5 con ở dưới ao và 4 con ở trên bờ Hỏi đàn vịt có tất cả mấy con ?
Đối với bài toán mẫu Giáo viên cho học sinh tìm hiểu kĩ bài toán và khắc sâu cách giải Nên khi đưa ra bài luyện tập 1 các em vận dụng vào các bước giải của bài toán và giải rất tốt Ở bài luyện tập hai học sinh nhận thức tốt sẽ tự giải được bài toán Còn học sinh nhận thức chậm hơn còn vướng mắc, giáo viên gợi mở
để học sinh trả lời: Muốn biết đàn vịt có tất cả mấy con ta phải làm như thế nào ? (lấy số vịt ở trên bờ cộng với số vịt ở dưới ao) Sau khi gợi mở như vậy học sinh dễ dàng giải được bài toán
Bài toán đơn về bớt:
Các bước tiến hành tương tự như bài toán đơn về thêm Các em đã nắm được