1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TÂM lí học dạy học đại học và GIAO TIẾP sư PHẠM đại học

49 391 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tâm Lí Học Dạy Học Đại Học Và Giao Tiếp Sư Phạm Đại Học
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Sư Phạm
Thể loại Tài Liệu Bồi Dưỡng Kiến Thức Nghiệp Vụ Sư Phạm
Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 248 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN THỨ NHẤT TÂM LÍ HỌC DẠY HỌC ĐẠI HỌC VÀ GIAO TIẾP SƯ PHẠM ĐẠI HỌC (TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG) CHƯƠNG 1 TÂM LÍ HỌC LỨA TUỔI THANH NIÊN SINH VIÊN 1 1 Khái niệm lứa tuổi thanh niên sinh viên Thuật ngữ “sinh viên” có gốc từ tiếng Latinh “Students”, nghĩa là người làm việc, người tìm kiếm, khai thác tri thức Sinh viên là những người đang chuẩn bị cho một hoạt động mang lại lợi ích vật chất hay tinh thần của xã hội Các hoạt động họ.

Trang 1

TÂM LÍ HỌC DẠY HỌC ĐẠI HỌC

VÀ GIAO TIẾP SƯ PHẠM ĐẠI HỌC

(TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHOGIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG)

Trang 2

CHƯƠNG 1

TÂM LÍ HỌC LỨA TUỔI THANH NIÊN SINH VIÊN

1.1 Khái niệm lứa tuổi thanh niên sinh viên

Thuật ngữ “sinh viên” có gốc từ tiếng Latinh “Students”, nghĩa là người

làm việc, người tìm kiếm, khai thác tri thức Sinh viên là những người đangchuẩn bị cho một hoạt động mang lại lợi ích vật chất hay tinh thần của xã hội.Các hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học, sản xuất hay hoạt động xã hội của

họ đều phục vụ cho việc chuẩn bị tốt nhất cho hoạt động mang tính nghề nghiệpcủa mình sau khi kết thúc quá trình học trong các trường nghề,

Về tuổi sinh học, đa số sinh viên thuộc lứa tuổi thanh niên từ 17 đến 25tuổi, một số ít có tuổi đời thấp hoặc cao hơn tuổi thanh niên Vì vậy, sự pháttriển và trưởng thành về giải phẫu và sinh lí của tuổi thanh niên là đặc trưng cholứa tuổi sinh viên

Về phương diện xã hội, sinh viên cũng giống thanh niên học sinh là nhómngười chưa ổn định, còn phụ thuộc về địa vị xã hội do chưa thực sự tham giavào guồng máy sản xuất của xã hội Vì vậy, đặc điểm tâm lí của họ có phầnkhác so với thanh niên cùng lứa tuổi nhưng đã có việc làm ổn định và trưởngthành về nghề nghiệp

1.2 Hoạt động học tập nghề nghiệp của sinh viên

Hoạt động học tập là hoạt động chủ yếu của sinh viên Tuy nhiên, học tậpcủa sinh viên khác xa học tập của thanh niên học sinh cả về chức năng, đặcđiểm và động cơ học

1.2.1 Chức năng học của sinh viên

Học của sinh viên không đơn thuần lĩnh hội các tri thức khoa học phổthông mà là quá trình học tập nghề nghiệp Đối tượng học của sinh viên là trithức, kĩ năng và nhân cách nghề Ngay cả những sinh viên học tập trong cáclĩnh vực khoa học cơ bản như: Toán, Vật lí, Hóa học, Triết học… thì đó cũng làquá trình học mang tính nghề nghiệp, là quá trình chuẩn bị trở thành chuyên giatrong các lĩnh vực khoa học đó

Trang 3

1.2.2 Đặc điểm học tập của sinh viên

Do chức năng học tập mang tính nghề nghiệp cao nên đặc điểm học của sinhviên có nhiều điểm khác với phổ thông

+ Thứ nhất: Tính mục đích của việc học rất rõ ràng Học tập trong cáctrường đại học, cao đẳng hay trường nghề là quá trình học nghề, học để trởthành người lao động có kĩ năng cao và sáng tạo trong lĩnh vực nghề tương ứng + Thứ hai: Đối tượng học tập của sinh viên là hệ thống tri thức, kĩ năng cơbản có tính hệ thống và tính khoa học của một lĩnh vực khoa học công nghệnhất định Điều này khác với học trong trường phổ thông là những tri thức khoahọc có tính phổ thông và đã được sư phạm hóa cao

+ Thứ ba: Học tập của sinh viên mang tính nghiên cứu cao Ở phổ thông,học sinh chủ yếu làm việc với giáo viên, học theo kiến thức và chỉ dẫn của thầy

cô giáo Trong khi đó, ở đại học, sinh viên chủ yếu làm việc với các tài liệukhoa học, việc học của sinh viên chủ yếu mang tính tự nghiên cứu, tìm tòi trongcác tài liệu khoa học, các phương tiện thông tin, kĩ thuật, trên thư viện, phòngthực hành, thực nghiệm

Do sự khác biệt này nên các sinh viên mới nhập học (năm thứ nhất) thườnggặp bỡ ngỡ, khó khăn trong việc chuyển từ phương pháp học phổ thông sangphương pháp học đại học Vì vậy, nhiều sinh viên không đạt thành tích học tậpcao, mặc dù khi học phổ thông luôn là học sinh giỏi Ở đây những buổi trao đồi

về phương pháp học tập cho sinh viên mới vào trường thường mang ý nghĩathực tiễn to lớn, giúp cho họ nhanh chóng thích ứng với phương pháp học mới + Thứ tư: Học tập của sinh viên mang tính tự giác cao Học tập của học sinhphổ thông luôn có sự kiểm tra giám sát thường xuyên của tập thể lớp và củagiáo viên, bằng nhiều hình thức như: kiểm tra đầu giờ hay giữa tiết học, kiểmtra thường kì… Tức là việc học của học sinh phổ thông diễn ra trong kỉ luật của

tổ chức Ngược lại, việc học của sinh viên có tính độc lập, tự do cao Họ đượctoàn quyền quyết định việc học của mình theo yêu cầu của giảng viên Vì vậy,cốt lõi trong việc học của sinh viên là sự tự ý thức về việc học tập của họ, đặc

Trang 4

biệt là trong môi trường học theo tích lũy tín chỉ, Trong điều kiện tính độc lập,

tự do cao thì sự tự ý thức và tình kỉ luật tự giác là nhân tố quyết định sự thànhcông của việc học Chỉ có sinh viên nào biết tổ chức quá trình học tập của mìnhmột cách khoa học, tự giác thì mới hi vọng mang lại kết quả cao Ngược lại, sẽdẫn đến hiện tượng học dồn, học ép và nảy sinh các hành vi tiêu cực khi sắp đếnngày thi

Những đặc điểm trên cho thấy học tập của sinh viên có sự căng thẳng cao vềtrí tuệ và nhân cách Đó là sự chuẩn bị trực tiếp các yếu tố tâm lí cần thiết đểbước vào môi trường lao động nghề nghiệp căng thẳng của tuổi trưởng thành

1.2.3 Động cơ học của sinh viên

Động cơ học của sinh viên có sự phân hóa và đa dạng hơn so với học phổthông

Trong quá trình học ở đại học, mỗi sinh viên thường có các động cơ học tậpnhằm thỏa mãn nhu cầu riêng của mình Có thể khái quát bốn nhóm động cơhọc phổ biến trong sinh viên:

+ Động cơ nhận thức khoa học: Sinh viên có động cơ này là học tập nhằmthỏa mãn nhu cầu tri thức khoa học Họ học vì say mê, hứng thú với các vấn đề

lí luận khoa học, vì sự khát khao khám phá tri thức mới…

+ Động cơ nghề nghiệp: Đa số sinh viên học tập vì nhu cầu nghề nghiệp saunày Họ học tập vì muốn tạo ra cơ sở vững chắc cho nghề nghiệp tương lai + Động cơ học vì giá trị xã hôi: Những sinh viên này học chủ yếu khôngphải vì nhu cầu kiến thức hay nghề nghiệp mà chủ yếu vì giá trị xã hội của việchọc mang lại Chẳng hạn, nhiều sinh viên học tập do ý thức trách nhiệm côngdân, mong muốn được cống hiến vì lợi ích của dân tộc, cộng đồng… Thuộc loạiđộng cơ này có cả những sinh viên vì lợi ích cá nhân cần bằng cấp để cần đảmbảo cho lợi ích khác

Trang 5

+ Động cơ khẳng định mình trong học tập: Đây là những sinh viên ý thứcđược năng khiếu, khả năng, sở trường của mình và mong muốn được khẳngđịnh chúng trước mọi người.

Những động cơ trên đểu có giá trị thúc đẩy hoạt động học tập của sinh viên.Tuy nhiên, tùy thời điểm và tùy loại sinh viên, các động cơ trên có sức mạnhthúc đẩy khác nhau

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới động cơ học của sinh viên như: nội dung trithức khoa học, phương pháp dạy học của giảng viên, ý thức của sinh viên về giátrị việc học…

1.3 Những đặc điểm tâm lí chủ yếu của thanh niên sinh viên

1.3.1 Sự phát triển trí tuệ

a Tính chủ định của các quá trình nhận thức

+ Quá trình quan sát có mục đích rõ ràng, mang tính hệ thống

+ Trí nhớ từ ngữ- lôgic chiếm ưu thế

+ Năng lực di chuyển và phân phối chú ý đã được hoàn thiện: vừa nghegiảng, vừa ghi chép, vừa có thể theo dõi nội dung suy nghĩ của mình, chống lại

có hiệu quả những kích thích làm phân tán chú ý

+ Tính độc lập, chủ động, sáng tạo của tư duy là một phẩm chất tâm lí đặctrưng của sinh viên

b Sự phát triển trí tuệ đạt được mức trưởng thành

+ Sự phát triển trí tuệ của sinh viên được đặc trưng bởi hai yếu tố: các thaotác trí tuệ và vốn tri thức mà sinh viên tiếp thu được Các thao tác trí tuệ có cấutrúc ổn định, sự nắm vững hệ thống khái niệm khoa học giúp cho hoạt động trítuệ của sinh viên bền vững và có hiệu quả hơn so với học sinh trung học phổthông

+ Thành phần cốt lõi trong cấu trúc trí tuệ của sinh viên là tư duy: tư duy líluận chiếm ưu thế, tư duy nghề nghiệp được hình thành phát triển mạnh

+ Biểu hiện của tư duy lí luận ở sinh viên:

Trang 6

- Các thao tác trí tuệ phát triển cao: khả năng phân tích, trừu tượng hóa, kháiquát hóa, và tổng hợp tài liệu lí luận

- Không dừng lại ở kinh nghiệm rời rạc mà luôn hướng tới xây dựng quy tắc,quy luật chung ngày một sâu rộng hơn

- Luôn sử dụng tri thức khái quát đã có để lí giải, dự đoán những sự vật, hiệntượng cụ thể

- Tự phản biện mình để đạt đến sự nhất quán về mặt lí luận, xác định đượcphạm vi ứng dụng của mỗi lí thuyết

+ Tư duy nghề nghiệp được hình thành và phát triển mạnh nhằm giải quyếtnhững bài toán thuộc lĩnh vực ngành đào tạo

Tư duy nghề nghiệp của sinh viên có đặc trưng:

b Khả năng tự đánh giá bản thân

+ Tự đánh giá có chủ kiến rõ ràng và có sự đối chiếu với các chuẩn mực của

xã hội

+ Sự phản tỉnh về các phẩm chất tâm lí của mình là một trong những đặc trưngđiển hình của tuổi sinh viên:

- Ý thức rõ được cái tôi, ý thức rõ địa vị xã hội của mình

- Nhu cầu tự phân tích bản thân, đặt ra yêu cầu cao đối với bản thân là tiền đềcủa sự tự giáo dục có mục đích của thanh niên và dấu hiệu để xác định sự pháttriển về mặt nhân cách của lứa tuổi thanh niên

- Đa số sinh viên có sổ tự tu dưỡng

+ Tự đánh giá có chiều sâu và khái quát hơn

Trang 7

Thanh niên không chỉ ý thức và đánh giá về “cái tôi” hiện thực, “cái tôi”lítưởng, “cái tôi” năng động (tôi sẽ cố gắng để trở thành người như thế nào trongtừng hoàn cảnh cụ thể) Sinh viên đánh giá khái quát bản thân dựa trên cơ sởphân tích và khái quát các đặc trưng riêng

+ Tự đánh giá của sinh viên dựa vào hai cách:

- So sánh mức độ kì vọng, mong muốn của mình với kết quả đạt được Đa sốsinh viên đánh gía cao năng lực của mình, sinh viên sẵn sàng cao khi làm nhữngcông việc khó khăn, mạo hiểm để thử thách kiểm tra sức mạnh và các phẩmchất tâm lí của mình Sự kì vọng về bản thân và tính sẵn sàng cao để khẳng địnhmình là đặc điểm tâm lí quý báu, là cơ sở của tính tích cực hoạt động của tuổisinh viên

- So sánh, đối chiếu với ý kiến đánh giá của người xung quanh về bản thân.Sinh viên rất nhạy cảm với ý kiến đánh giá của người xung quanh về bản thân

và thường coi đó là các tiêu chuẩn để đánh giá và đánh giá lại Các ý kiến đánhgiá của giảng viên rất được sinh viên coi trọng

Kết quả của hai cách đánh giá trên: Tự đánh giá đúng dẫn đến phát triểnmạnh tính tự trọng, khiêm tốn, trung thực Tự đánh giá cao dẫn đến phát triểnmạnh tính tự cao, ghen tị, nói dối Tự đánh giá thấp dẫn đến tính tự ti, thiếu tintưởng vào bản thân, chấp nhận hoặc không coi trọng các đánh giá không đúnghoặc xúc phạm đến gía trị nhân cách của mình, gặp khó khăn trong giao tiếp,thái độ tiêu cực đối với bản thân

1.3.3 Lí tưởng sống và xây dựng kịch bản đường đời

+ Hình mẫu lí tưởng không còn gắn liền với cá nhân cụ thể mà nó có tínhkhái quát cao về các phẩm chất tâm lí, nhân cách điển hình của nhiều cá nhântrong các lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp được thanh niên quí trọng và ngưỡng

mộ, noi theo

+ Khi vào các trường học nghế, hầu hết sinh viên đều có kịch bản riêng chomình về đường đời sẽ đi Đó là sự kì vọng về một tương lai gần và viễn cảnhcuộc đời Từ đó vạch ra một kế hoạch chi tiết nhằm đạt được kì vọng đó Đa sốsinh viên sử dụng kịch bản như một bản kế hoạch để tổ chức các hành động củamình trong quá trình học tập, thậm trí thay đổi cả định hướng giá trị nghề

Trang 8

+ Mặc dù nhân cách được hình thành và phát triển trong suốt cả đời người,nhưng trong thời kì học nghề là giai đoạn hình thành mạnh mẽ về xu hướngnhân cách người lao động Sự hình thành nhân cách nghề của sinh viên đượcdiễn ra theo các hướng cơ bản sau: xu hướng nghề và các năng lực cần thiết củanghề được hình thành củng cố và phát triển; hoạt động nhận thức, đặc biệt làquá trình nhận thức được “ nghề nghiệp hóa”; kì vọng đối với nghề nghiệp đượcphát triển; khả năng tự giáo dục, tự tu dưỡng được nâng cao; tính độc lập vàtâm thế sẵn sàng đối với nghề nghiệp được củng cố… Quá trình phát triển nhâncách của sinh viên diễn ra trong suốt quá trình học tập từ năm đầu đến năm cuối

ở trường nghề

1.3.4 Đặc điểm kiểu nhân cách của sinh viên

a Dựa vào bốn tiêu chí:

Thái độ của sinh viên đối với hoạt động học tập; tính tích cực chính trị, xãhội và khoa học của họ; trình độ văn hóa chung của sinh viên; tình thần học tậpcủa sinh viên Theo đó một số nhà tâm lí học chia thành sáu kiểu nhân cách sinhviên:

- Kiểu 1 : Sinh viên học xuất sắc cả về chuyên môn và các lĩnh vực khoa họcchung Họ là người có niềm tin chính trị rõ ràng, có nền tảng văn hóa chungcao, tích cực tham gia nghiên cứu khoa học và các hoạt động xã hội

- Kiểu 2: Sinh viên học khá Đây là các sinh việc coi việc học tập một lĩnhvực chuyên môn nhất định là mục đích tối cao Họ quan tâm tới khoa học vànghiên cứu khoa học trong khuôn khổ của chương trình đào tạo Nhiệt tìnhtham gia hoạt động xã hội và quan hệ tốt với bạn bè; gắn bó với tập thể bằngcác hứng thú học tập và nghề nghiệp

- Kiểu 3: Sinh viên học xuất sắc về lĩnh vực khoa học chuyên môn Nhữngsinh viên này hứng thú và hoạt động chủ yếu đối với lĩnh vực khoa học; gắn bóvới tập thể bằng hứng thú khoa học; không nhiệt tình với các hoạt động quầnchúng như các hoạt động Đoàn Thanh nhiên, Hội Sinh viên …

- Kiểu 4: Sinh viên học trung bình và khá Những sinh viên này quan tâmđến các vấn đề khoa học xã hội ngoài chương trình đào tạo, nhưng ít tham gia

Trang 9

các hoạt động nghiên cứu khoa học Văn hóa chung được giới hạn trong phạm

vi hứng thú nghề nghiệp; tích cực trong công tác xã hội

- Kiểu 5: Sinh viên học trung bình và khá, không tham gia nghiên cứu khoahọc Những sinh viên này thường không tích cực tham gia các hoạt động xã hội

Gắn bó với tập thể bởi các hứng thú có tính chất giải trí và văn hóa Có khảnăng sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật…

- Kiểu 6: Sinh viên học yếu, không tham gia nghiên cứu khoa học Học vìmốt, không yêu nghề, thụ động tham gia hoạt động xã hội Hứng thú trong cáchoạt động vui chơi, giải trí Gắn bó với tập thể bởi các hứng thú cùng được nghỉngơi, giao lưu…

Trên đây là các kiểu sinh viên điển hình, ngoài các kiểu trên còn có cáckiểu trung gian Việc phân loại các kiểu sinh viên tạo ra cơ sở khoa học để nhàtrường tổ chức các hoạt động giáo dục sinh viên trong quá trình học tại trường

b Xét mối quan hệ giữa hoạt động học tập và các hoạt động khác của sinh viên,

có ba kiểu nhân cách sinh viên sau:

- Kiểu 1: Sinh viên say mê học tập, đồng thời tích cực tham gia các hoạtđộng lao động, chính trị- xã hội, văn hóa Điều đó thể hiện sinh viên này có lốisống tích cực học tập và tham gia toàn diện các hoạt động Kiểu sinh viên nàychiếm1/3 tổng số các sinh viên được nghiên cứu

- Kiểu 2: Sinh viên chú ý vào hoạt động học tập và quan hệ gia đình cũngnhư bạn bè trong phạm vi hẹp Họ rất ít tham gia các hoạt động chính tri – xãhội và các sinh hoạt tập thể Ở họ thể hiện lối sống thiếu năng động, khó hòanhập vào đời sống xã hội Nhóm sinh viên này chiếm đa số sinh viên nghiêncứu

- Kiểu 3: Sinh viên rất hứng thú với hoạt động vui chơi, giải trí, thể hiện lốisống tiêu sài sành điệu… Phần nhiều họ đam mê với các hoạt động khác màkhông chú tâm vào hoạt động học tập, vì vậy kết quả học tập thường yếu Nhómsinh viên này cũng chỉ chiếm khoảng 1/3 tổng số sinh viên nghiên cứu

Trang 10

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ TÂM LÍ HỌC CỦA QUÁ TRÌNH DẠY HỌC Ở ĐẠI HỌC

2.1 Hoạt động học tập nghề nghiệp

2.1.1 Khái niệm hoạt động học tập nghề nghiệp

Hoạt động học tập nghề nghiệp là hoạt động do sinh viên thực hiện nhằmlĩnh hội hệ thống tri thức, kĩ năng và hình thành nhân cách nghề do hoạt độngdạy tổ chức

+ Đối tượng của hoạt động học tập nghề nghiệp là hệ thống tri thức khoahọc và kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp Đối tượng học bao gồm: khối tri thức đạicương; khối tri thức cơ bản; khối trí thức cơ sở; khối tri thức chuyên ngành;khối tri thức chuyên ngành hẹp; kiến tập và thực tập;

+ Hoạt động học tập nghề nghiệp không chỉ hướng vào tiếp thu tri thức,

kĩ năng và kĩ xảo mới mà còn hướng vào tiếp thu những tri thức của chính bảnthân hoạt động này

+ Chủ thể của hoạt động học là sinh viên Hoạt động học hướng vào thayđổi chỉnh chủ thể của hoạt động này

2.1.2 Cấu trúc của hoạt động học tập nghề nghiệp

2.1.2.1 Động cơ học tập

a Khái niệm động cơ học tập:

Động cơ học tập là tất cả những gì sinh viên học tập vì nó Dựa vào mụcđích học, động cơ học có hai loại:

+ Động cơ bên trong là đối tượng của hoạt động học tập mà kết quả làsau khi tiếp thu được đối tượng này, sinh viên thỏa mãn được nhu cầu nhậnthức, nhu cầu nghề nghiệp Động cơ bên trong bao gồm: động cơ nhận thứckhoa học và động cơ nghề nghiệp

Trang 11

+ Động cơ bên ngoài là động cơ thỏa mãn nhu cầu mà đối tượng của nóbám theo đối tượng học, kết quả là sau khi tiếp thu được đối tượng học, sinhviên thỏa mãn được nhu cầu đó Động cơ bên ngoài bao gồm: động cơ học vìgiá trị xã hội, động cơ tự khẳng định, động cơ vụ lợi.

Hai loại động cơ trên đều được hình thành ở mỗi sinh viên, chúng đượcsắp xếp theo thứ bậc, trong đó một loại động nào đó là chủ đạo Xét theo quanđiểm sư phạm thì động cơ bên trong có giá trị hơn

a Sự hình thành động cơ học tập:

Động cơ học không có sẵn ngay từ đầu mà được hình thành dần dầnchính trong quá trình sinh viên thực hiện hoạt động học Ứng với hai loại động

cơ học là hai tình huống học:

+ Tình huống học tập cưỡng bức có mục đích Ở tình huống này, động cơchủ yếu ở sinh viên là động bên ngoài

+ Tình huống học tập tự giác có mục đích Ở tình huống này, động cơ chủyếu ở sinh viên là động cơ bên trong

Nhiệm vụ của giảng viên là phát triển động cơ bên trong để luôn luôngiữ vai trò chủ đạo ở sinh viên

2.1.2.2 Nhiệm vụ học tập

a Khái niệm nhiệm vụ học tập:

Nhiệm vụ học là hình thức cụ thể hóa nội dung bài học thành mục đích

Trang 12

Quá trình sinh viên học là quá trình giải quyết nhiệm vụ học của các mônhọc do giảng viên hướng dẫn Để giải quyết được nhiệm vụ học, sinh viên phảihiểu nhiệm vụ học, nghĩa là phân tích để phát hiện các yếu tố và mối quan hệgiữa chúng có trong nhiệm vụ học Từ đó, sinh viên lập kế hoạch giải quyếtnhiệm vụ học Đây là giai đoạn định hướng hành động quyết định phần thựchiện hành động

Để đánh giá chất lượng phần định hướng hành động của sinh viên, căn cứvào 3 chỉ số:

+ Tính khái quát của sự định hướng

+ Tính đầy đủ của sự định hướng

+ Nguồn đưa ra định hướng

Tổng hợp 3 chỉ số trên, có 3 loại định hướng trong học tập:

+ Loại 1 Từng phần, không đầy đủ, sinh viên tự định hướng: trước khihành động sinh viên chỉ có các mẫu hành động và sản phẩm của nó, không cólời chỉ dẫn để thực hiện đúng hành động Sinh viên thực hiện hành động theo cơchế “thử và sai”

+ Loại 2 Từng phần, đầy đủ, giảng viên định hướng cho sinh viên: trướckhi hành động, sinh viên có cả mẫu hành động và sản phẩm của nó, lại vừa cócác chỉ dẫn để làm đúng hành động đó Sinh viên thực hiện hành động theo chỉdẫn và đạt đươc kết quả đúng Tuy nhiên chỉ dẫn này ứng với một hành động cụthể Khi chuyển sang hành động với vật liệu mới, giảng viên lại phải chỉ dẫncho sinh viên

+ Loại 3 Toàn bộ, đầy đủ, sinh viên tự định hướng: trước khi thực hiệnhành động cụ thể, sinh viên được huấn luyện phương pháp chung của hànhđộng Sinh viên vận dụng phương pháp chung để triển khai một hành động cụthể

Trên đây là ba loại định hướng cơ bản trong quá trình hình thành, huấnluyện các hành động trí tuệ (cũng tức là hành động học) của sinh viên Sự phântích đã chỉ ra cơ chế tâm lí của mỗi loại định hướng cụ thể Tác dụng thực tiễn

Trang 13

của sự phân chia này là quá đó, giảng viên có thể lựa chọn cách định hướngriêng cho mình trong quá trình hướng dẫn sinh viên học.

+ Nhiệm vụ của giảng viên là thiết kế các thao tác học cho sinh viên bằng

2 cách: phân giải đối tượng của hành động thành các đơn vị nhỏ nhất, mỗi đơn

vị ứng với một thao tác; hành động sử dụng bao nhiêu công cụ thì có bấy nhiêuthao tác

* Hành động học có ba hình thức (xét theo quá trình nhập tâm):

+ Khái niệm khoa học có ba hình thức (xét theo quá trình nhập tâm):

- Hình thức vật chất: ở hình thức này, khái niệm tồn tại ở vật thật hoặcđược “mã hóa” vào mô hình

- Hình thức ngôn ngữ: ở hình thức này, khái niệm được “mã hóa” vàongôn ngữ, đó là thuật ngữ, định nghĩa, công thức

- Hình thức trí óc: ở hình thức này, khái niệm được chuyển hẳn vào trongdưới dạng ngôn ngữ bên trong

+ Hành động học có ba hình thức (xét theo quá trình nhập tâm):

- Hình thức hành động vật chất: ở hình thức này, giảng viên hướng dẫnsinh viên tác động trực tiếp vào đối tượng học (ở dạng vật chất) theo đúngphương pháp làm ra khái niệm của nhà khoa học Từ đó, làm bộc lộ nội dungkhái niệm

Trang 14

- Hình thức hành động ngôn ngữ: ở hình thức này, giảng viên hướng dẫnsinh viên “mã hóa” nội dung khái niệm vào thuật ngữ, định nghĩa công thức quytắc.

- Hình thức hành động trí óc: ở hình thức này, khái niệm tồn tại trong đầusinh viên dưới dạng ngôn ngữ bên trong và sinh viên tiếp tục suy nghĩ để pháttriển khái niệm hoặc cụ thể hóa khái niệm

Thông qua ba hình thức của hành động học, sinh viên đã chuyển được cáivật chất thành cái tinh thần, chuyển khái niệm bên ngoài vào trong đầu óc củamình

a Các loại hành động học cơ bản:

* Hành động phân tích

Là hành động phân giải đối tượng học thành các yếu tố và mối quan hệgiữa chúng Mục tiêu của phân tích là phát hiện nguồn gốc, nội dung của trithức Bởi vậy, hành động phân tích là hành động tiên quyết của quá trình sinhviên tiếp thu tri thức

+ Phân tích được diễn ra ở cả ba hình thức của hành động: vật chất, ngônngữ, trí óc

+ Trình độ thực hiện hành động phân tích phụ thuộc vào trình độ nắmvững tri thức và các loại tri thức của sinh viên

+ Các sự vật, hiện tượng cùng loại có cùng bản chất ( khái niệm) Bởivậy, giảng viên hướng dẫn sinh viên phân tích một sự vật, hiện tượng cụ thể thì

có thể phát hiện và tiếp thu cái chung, cái bản chất (đó là khái niệm) Từ đó,hình thành và phát triển tư duy lí luận, năng lực khái quát cho sinh viên

* Hành động mô hình hóa

+ Khái niệm mô hình: mô hình là hình thức diễn đạt ngắn gọn đối tượng,thông qua mô hình, sinh viên nghiên cứu gián tiếp đối tượng học

Đối tượng là nguyên bản, là vật gốc, mô hình là bản sao, là vật thay thế

Mô hình có số đặc trưng sau:

- Mô hình phải diễn đạt cấu trúc, bản chất của đối tượng mà nó đại diện

- Mô hình mang tính cụ thể - trực quan

Trang 15

- Mô hình mang tính khái quát.

+ Hành động mô hình hóa là quá trình sinh viên xác lập mối quan hệ giữađối tượng và mô hình bằng phép tương ứng hay đẳng cấu Thông qua mô hình,sinh viên nghiên cứu gián tiếp đối tượng học

- Lập mô hình: sinh viên ghi lại kết quả của hành động phân tích dướidạng mô hình

- Sử dụng mô hình để suy luận, phán đoán, đánh giá và kết luận về đốitượng

+ Các loại mô hình: mô hình giống vật thật, mô hình biểu trưng, mô hình

ký hiệu, mô hình tâm lý

+ Nhiệm vụ của giảng viên là hướng dẫn sinh viên xây dựng mô hìnhtrên cơ sở hướng dẫn sinh viên phân tích đối tượng học Bắt đầu từ mô hìnhgiống vật thật đến mô hình biểu trưng, đến mô hình ký hiệu, đến mô hình tâm

* Hành động cụ thể hóa

Là quá trình sinh viên vận dụng kiến thức được thay thế bằng mô hình đểgiải các bài tập hình thành kĩ năng, kĩ xảo

Các bước của hành động cụ thể hóa:

+ Hiểu đúng mục đích, yêu cầu bài tập

+ Tái hiện kiến thức cũ liên quan đến bài tập

+ Xác lập mối quan hệ giữa kiến thức cũ với yêu cầu của bài tập Từ đó,xác định các bước giải

+ Trình bày các bước giải và trả lời đúng yêu cầu bài tập

2.2 Hoạt động dạy

2.2.1 Khái niệm hoạt động dạy

Hoạt động dạy là hoạt động của giảng viên nhằm tổ chức, điều khiển hoạtđộng học của sinh viên Trên cơ sở đó hình thành và phát triển nhân cách củasinh viên theo mục tiêu của ngành đào tạo

Đặc điểm của hoạt động dạy:

Trang 16

a Hoạt động dạy là hoạt động có đối tượng là hoạt động học, là các quan

hệ giao tiếp và do đó là nhân cách của sinh viên:

+ Chủ thể của hoạt động dạy là giảng viên, là tập thể sư phạm

+ Đối tượng của dạy không phải là tri thức, không sáng tạo tri thức mới,không nhằm tạo ra sự phát triển tâm lí của giảng viên

+ Hoạt động dạy tạo ra sự phát triển tâm lí, nhân cách của sinh viên Bởivậy, hoạt động dạy phải tuân theo qui luật phát triển tâm lí của sinh viên

b Hoạt động dạy là hoạt động tổ chức và điều khiển sinh viên thực hiệnhoạt động học:

+ Tổ chức và điều khiển hoạt động học:

- Giảng viên giao nhiệm vụ học cho sinh viên, nghĩa là giảng viên nêumục đích, yêu cầu của việc sẽ làm và những phương tiện để thực hiện việc làmđó

- Giảng viên định hướng cách làm (từng bước hoặc toàn bộ cả quá trình)với mục đích giúp sinh viên biết định hướng đúng để làm đúng

- Sinh viên thực hiện nhiệm vụ học được giao theo sự định hướng củamình và kết quả là mỗi sinh viên đều có sản phẩm học tập của mình Khi sinhviên làm việc, giảng viên cần theo dõi sinh viên để giúp đỡ và điều chỉnh hànhđộng của sinh viên

- Giảng viên tổ chức sinh viên tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau kết quảhọc tập Giảng viên nhận xét, đánh giá

+ Điều kiện để tổ chức, điều khiển:

- Nắm vững nội dung dạy học: hiểu đúng và nắm vững nội dung từng bàihọc và cách làm ra tri thức của từng bài học

- Nắm vững các phương pháp dạy học môn học và đặc điểm tâm lí sinhviên lớp mình giảng dạy

2.2.2 Mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học

Hoạt động dạy của giảng viên và hoạt động học của sinh viên luôn quan

hệ chặt chẽ với nhau; việc học tập của sinh viên diễn ra như thế nào phần lớnphụ thuộc vào phương pháp dạy của giảng viên Mối quan hệ giữa hoạt độngdạy và hoạt động học là mối quan hệ biện chứng, trong đó giảng viên đóng vai

Trang 17

trò chủ; là người tư vấn hướng dẫn sinh viên học tập một cách tự giác, tích cực.Đồng thời sinh viên là chủ thể của hoạt động học tập Họ luôn tự giác nhận thứcmục đích hoạt động học, tự xây dựng động cơ học tập đúng đắng, không thụđộng trong quá trình lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo tạo nền tảng vững chắc đểtrở thành những chuyên gia và nhà nghiên cứu trong tương lai Học ở đại họcchủ yếu là học phương pháp học nghề và học kĩ năng sống Chính vì vậy, việcđổi mới phương pháp dạy học của giảng viên sẽ kích thích sinh viên tư duy, tạocho họ giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống thực tế và sau này Nhưvậy, giảng viên luôn phải tạo nên những tình huống có vấn đề để kích thích sinhviên tư duy.

2.2.3 Dạy khái niệm cho sinh viên

2.2.2.1.Khái niệm về khái niệm

Khái niệm có hai hình thức tồn tại: hình thức bên ngoài (tồn tại tronghiện thực khách quan), hình thức này gọi là dạng vật chất của khái niệm đó làmối quan hệ bản chất giữa các yếu tổ tạo nên sự vật, hiện tượng Hình thức bêntrong (là sản phẩm của quá trình tư duy) là dạng tinh thần của khái niệm, là hìnhảnh bản chất của sự vật hiện tượng

+ Nội dung khái niệm là cái vốn có trong sự vật, là cái tồn tại kháchquan, nội dung khái niệm không mang một thuộc tính chủ quan nào, nó khôngphụ thuộc vào con người có nhận thức được hay không Vì bất cứ sự vật nàocũng được tạo nên từ những yếu tố nhất định, các yếu tố ấy tham gia vào nhữngmỗi liên hệ qua lại với nhau, trong đó có những mối quan hệ tất nhiên tương đối

ổn định Những mỗi liên hệ này tạo nên bản chất của sự vật Bản chất của sự vậttồn tại khách quan

+ Không đồng nhất sự vật, hiện tượng với khái niệm Vì trong một sự vật,hiện tượng có nhiều mối liên hệ: có những mối liên hệ bản chất và không bảnchất, nghĩa là sự vật, hiện tượng có nhiều khái niệm Tùy thuộc vào nhu cầu vàtrình độ mà con người phát hiện ở sự vật và hiện tượng những khái niệm khácnhau

+ Mối liên hệ bản chất giữa các yếu tố tạo nên khái niệm gọi là cấu trúclôgic khái niệm Hay nói cách khác mỗi khái niệm được xác định bởi lôgic nội

Trang 18

tại của riêng nó gọi là nội hàm khái niệm (Phân biệt nội hàm và ngoại diên của

khái niệm)

2.2.2.2 Bản chất tâm lí của quá trình hình thành khái niệm ở sinh viên

a Quá trình phát hiện khái niệm của nhà khoa học:

+ Bằng hành động của mình, nhà khoa học tác động trực tiếp vào đốitượng (khái niệm) từ đó làm bộc lộ nội dung khái niệm, nhà khoa học dùng cáchình thức khác nhau của ngôn ngữ để chuyển nội dung khái niệm vào bản thânmình Nói một cách hình ảnh, bằng hành động của mình, nhà khoa học đã buộc

khái niện phải “chuyển chỗ ở” từ đối tượng sang đầu óc của mình (từ ngoài vàotrong, từ vật chất thành tinh thần) Quá trình “chuyển chỗ ở” chính là quá trìnhhình thành khái niệm ở nhà khoa học Marx: “Cái tình thần chẳng qua là cái vậtchất được di chuyển vào trong đầu óc của con người và được cải biến đi ở trongđó”

+ Sau khi được phát hiện, khái niệm có thể có nhiều hình thức tồn tại:

- Hình thức tồn tại vật chất

- Hình thức “nhân tạo”: mô hình, hình vẽ, kí hiệu, lời nói chữ viết

- Hình thức tinh thần trong tâm lí của con người

+ Muốn phát hiện nội hàm khái niệm, chủ thể phải hành động trực tiếpvới sự vật, hiện tương (hoặc là vật thay thế) nơi có khái niệm Tuy nhiên hànhđộng phải phù hợp với logic của khái niệm Các sự vật hiện tượng cùng loại

(khái niệm) gọi là ngoại diên của khái niệm., thì những sự vật, hiện tượng đó được coi là một đối với khái niệm đó

b Quá trình hình thành khái niệm ở sinh viên:

Giảng viên tổ chức và điều khiển, học viên thực hiên các hành động học

mà khởi đầu là hành động phân tích (phân tích vật chất trên vật thật hoặc vậtthay thế) tác động vào đối tượng học (khái niệm) theo đúng quy trình phát hiệnkhái niệm của nhà khoa học Từ đó, làm bộc lộ nội hàm khái niệm, giảng viênhướng dẫn học viên sử dụng mô hình để chuyển nội dung khái niệm vào bảnthân mình

Sinh viên lĩnh hội khái niệm có ba điều kiện:

Trang 19

+ Thời gian ( tiết học, học kì).

+ Qui trình hình thành khái niệm đã được tinh chế, khái quát hóa bởi các

nhà sư phạm

+ Tổ chức, điều khiển của giảng viên

2.2.2.3 Những nguyên tắc và các bước tổ chức sinh viên tiếp thu khái niệm

- Phải tổ chức tốt cả hai pha quá trình hình thành một khái niệm: phachiếm lĩnh mối quan hệ tổng quát của khái niệm (nội hàm) Pha cụ thể hóa nộihàm khái niệm (ngoại diên)

b Các bước tổ chức sinh viên lĩnh hội khái niệm:

+ Bước một: giảng viên đưa ra bài toán ( nhiệm vụ học), cung cấpphương tiện cho sinh viên

+ Bước hai: giảng viên tổ chức, điều khiển sinh viên thực hiện hành độngphân tích để giải bài toán

- Giảng viên hướng dẫn để sinh viên hiểu bài toán

- Hướng dẫn sinh viên lập kế hoạch giải quyết nhiệm vụ học

- Sinh viên thực hiện kế hoạch giải quyết nhiệm vụ học Bằng nhữnghành động của mình, sinh viên làm bộc lộ được nội hàm khái niệm (lời giải bàitoán)

Trang 20

+ Bước ba: giảng viên hướng dẫn sinh viên thực hiện hành động mô hìnhhóa.

- Hướng dẫn sinh viên xác lập mối quan hệ giữa nội dung khái niệm và

- Bước năm: hành động cụ thể hóa

Hướng dẫn sinh viên vận dụng khái niệm được thay thế bằng mô hình đểgiải bài tập (xác định ngoại diên khái niệm)

Tóm tắt về bản chất tâm lí của quá trình hình thành kkái niệm ở sinh viên:

1 Khái niệm A tồn tại trong hiện thực, bởi những mối liên hệ bên trongcủa nó

2 Nhà khoa học A đã nghiên cứu và xác lập A theo trật tự phát triển của

nó, dưới hình thức chuỗi logic:

A: A1→ A2→A3….→ An

3 Giảng viên dạy khái niệm A phải căn cứ vào chuỗi logic cuối cùng của

A do nhà khoa học A xác lập, mà sự chênh lệch được quy định trong phạm vitính chuẩn mực

4 Giảng viên căn cứ vào chuỗi logic của A để thiết kế quá trình hànhđộng của sinh viên bằng một chuỗi việc làm (nhiệm vụ học)

I A: A1→ A2→ A3….→ An

↓ ↓ ↓ ↓ ↓

II V: V1→ V2→ V3….→ Vn

Trang 21

5 Sinh viên thực hiện chuỗi việc làm V

I V: V1→ V2→ V3….→ Vn

↓ ↓ ↓ ↓ ↓

II A: A1→ A2→ A3….→ An

Kết quả là từ việc làm của sinh viên, đối tượng A được nảy sinh và hìnhthành một lần nữa, không phải trong hiện thực mà trong giáo dục: “việc làm làmột quá trình hiện thực trong đó chủ thể hành động và đối tượng hành động

“gặp gỡ” thống nhất với nhau với tư cách là các yếu tố đối lập” (Hồ Ngọc Đại)

2.2.4 Dạy kĩ năng và kĩ xảo cho sinh viên

2.2.4.1 Khái niệm kĩ năng học tâp

Kĩ năng học tập là khả năng của sinh viên thực hiện một cách có kết quảtốt các hành động học bằng cách lựa chọn và thực hiện các phương thức hànhđộng cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh nhất định trong quá trình học tập

+ Kĩ năng có nội dung là những quá trình tâm lí: hiểu mục đích hànhđộng, biết cách thức đi đến kết quả, hiểup những điều kiện cần thiết để thựchiện cách thức đó

+ Kĩ năng học tập là tổ hợp cách thức hành động được sinh viên nắmvững thể hiện năng lực học tập của sinh viên

+ Kĩ năng luôn luôn gắn với một hành động cụ thể

b Khái niệm kĩ xảo học tâp

Kĩ xảo là loại hành động được tự động hóa một cách có ý thức nghĩa làđược tự động hóa nhờ luyện tập

2.2.4.2 Các giai đoạn hình thành kĩ năng và kĩ xảo học tập

+ Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động + Hành động thử

Trang 22

+ Cần làm cho sinh viên hiểu cách thức luyện tập.

+ Cần phải chỉ dẫn kịp thời những sai sót để sinh viên sửa chữa + Phải tiến hành luyện tập có hệ thống và liên tục

+ Phải kiểm tra và đánh giá kết quả luyện tập

+ Phải củng cố những kĩ năng, kĩ xảo thói quen đã được hình thành

Trang 23

CHƯƠNG 3

TÂM LÍ HỌC VỀ VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN

3.1 Một số khái niệm cơ bản

3.1.1 Khái niệm đạo đức

Đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con người

tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích cộng đồng, xã hội

+ Các loại hành vi: hành vi được định hướng bởi hệ chuẩn mực phápluật; hành vi được định hướng bởi hệ chuẩn mực đạo đức; hành vi được địnhhướng bởi hệ chuẩn mực thẩm mỹ

3.1.3 Khái niệm hành vi đạo đức

Hành vi đạo đức là một hành động tự giác được thúc đẩy bởi một động

cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức Tiêu chuẩn để đánh giá hành vi đạo đức:

+ Tính tự giác của hành vi

+ Tính có ích của hành vi

+ Tính không vụ lợi

3.1.4 Khái niệm phẩm chất đạo đức

Phẩm chất đạo đức là sự thống nhất giữa cấu trúc tâm lý và hệ thốnghành vi ổn định của cá nhân Trong cấu trúc tâm lí của cá nhân thì động cơ đạođức là yếu tố chủ đạo

+ Hành vi giống nhau nhưng do những động cơ đạo đức khác nhau thúcđẩy thì sẽ tạo nên những phẩm chất khác nhau

+ Những động cơ giống nhau có thể được thực hiện một cách khác nhautrong hành vi

Trang 24

3.2 Cấu trúc tâm lí của hành vi đạo đức

3.2.1 Tri thức và niềm tin đạo đức

+ Tri thức đạo đức là sự hiểu biết của cá nhân về những chuẩn mực đạođức quy định hành vi của họ trong mối quan hệ với người khác và với xã hội

Trình độ lĩnh hội các chuẩn mực đạo đức:

- Trình độ 1: Sinh viên nhận biết, ghi nhớ các chuẩn mực đạo đức, quytắc hành vi nhưng chưa có hành động bộc lộ những chuẩn mực đó

- Trình độ 2: Sinh viên không chỉ nhận biết, ghi nhớ những chuẩn mực

mà còn thực hiện hành động phản ánh bản chất những chuẩn mực đó Lúc đầu,sinh viên thực hiện theo yêu cầu, sau đó là hành động xuất phát từ nhu cầu bảnthân

+ Niềm tin đạo đức là sự tin tưởng một cách sâu sắc của cá nhân vào tínhđúng đắn, tính khác quan của các chuẩn mực đạo đức mà cá nhân đã tiếp thuđược và sự thừa nhận tính tất yếu thực hiện đầy đủ các chuẩn mực ấy

Sự hình thành niềm tin đạo đức: Những tri thức đạo đức được suy nghĩđộc lập, được chỉnh lý một cách có phê phán, được vận dụng vào mọi lúc, mọinơi Những tri thức đó trở thành niềm tin đạo đức Nghĩa là sinh viên không chỉghi nhớ, hành động, có thái độ phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội mà còn

có niềm tin về hành động, thái độ của mình

3.2.2 Động cơ và tình cảm đạo đức

+ Động cơ đạo đức là động cơ bên trong đã được cá nhân ý thức, nó trởthành động lực chính làm cơ sở cho những hành động của cá nhân trong mốiquan hệ với người khác và xã hội, biến hành động của cá nhân thành hành viđạo đức

Động cơ đạo đức vừa bao hàm ý nghĩa về mặt mục đích vừa bao hàm ýnghĩa về mặt nguyên nhân của hành động

+ Tình cảm đạo đức là những thái độ cảm xúc ổn định của cá nhân đốivới hành vi của người khác và hành vi của chính mình trong quá trình quan hệgiữa cá nhân với người khác và với xã hội

Ngày đăng: 27/05/2022, 09:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w