1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất và các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay

17 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 388,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều đó là rất đúng đắn vì khi so sánh giữa các nguồn lực với tư cách là điều kiện để phát triển đất nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì nguồn nhân lực đóng vai trò nòng cố

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐẠI NAM KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

- -

BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

MÔN TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN

Đề tài 4:

“Vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất và các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay”

Họ và tên sinh viên : TẠ MAI QUỲNH

Mã sinh viên : 1574020086 Lớp : TCNH 1502

Hà Nội - 2022

Trang 2

M ỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

PHẦN NỘI DUNG 5

I.LÝ LUẬN 5

1.Phương thức sản xuất 5

2.Lực lượng sản xuất 5

3.Quan hệ sản xuất 5

4.Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất 6

5 Vai trò của nguồn nhân lực tại Việt Nam 7

II LIÊN HỆ THỰC TIỄN 9

1 Thực trang nguồn nhân lực tại Việt Nam ( sử dụng thông tin và số liệu của những năm 2019,2020) 9

2 Phát triển nguồn nhân lực để theo kịp cuộc cách mạng Công nghệ 4.0 và phát triển kinh tế 10

3 Quy mô nguồn nhân lực của Việt Nam 11

4 Liên hệ ngành nghề được đào tạo ( ngành Tài chính-Ngân hàng)… 12

III GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC 13

PHẦN KẾT LUẬN 16

TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

Hiện nay, đất nước ta đang trên đà phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Điều đó luôn đòi hỏi sự đáp ứng về nguồn nhân lực, vốn và tài nguyên thiên nhiên Đối với Việt Nam chúng ta, nguồn lực tài chính và tài nguyên thiên nhiên đều rất hạn hẹp Vì vậy, nguồn nhân lực có tầm quan trọng rất lớn So với các nước láng giềng, chúng ta có lợi thế là dân số đông Nhưng nếu không được đào tạo thì dù dân số đông vẫn khó đáp ứng nhu cầu của sự phát triển Còn với tiềm năng dân số đó, nếu được đào tạo bài bản sẽ trở thành nguồn nhân lực đầu tàu cho các ngành nghề, có ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế đất nước Văn kiện của Đại hội XIII đề cập và nhấn mạnh mô hình tăng trưởng kinh tế mới cần tận dụng tốt cơ hội của cuộc “Cách mạng công nghiệp” lần thứ tư, dựa trên tiến bộ khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo Cụ thể là:

“Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, chuyển mạnh nền kinh

tế sang mô hình tăng trưởng dựa trên tăng năng suất, tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực để nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Trong thực tế, để phát triển kinh tế xã hội phải phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và điều kiện, nhưng quan trọng nhất là phụ thuộc vào con người Điều đó là rất đúng đắn vì khi so sánh giữa các nguồn lực với tư cách là điều kiện để phát triển đất nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì nguồn nhân lực đóng vai trò nòng cốt Vì vậy nguồn lực con người giữ vị trí quan trọng hơn mọi nguồn lực khác phải có trong nền kinh tế xã hội nước ta Nó chiếm vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển Đây là nguồn lực của mọi nguồn lực và là nhân tố quan trọng hàng đầu đưa nước ta nhanh chóng trở thành nước công nghiệp Vậy nên, việc sử dụng và phát triển nguồn nhân lực là vấn đề chủ chốt trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Để có được nguồn nhân lực tốt, thì

ta cần phải có các hoạt động tích cực nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nước nhà Điều đầu tiên và cũng là điều rất quan trọng, đó chính là giáo dục, đào tạo Sự quan trọng của nó thể hiện qua việc, giáo dục và đào tạo mang đến lượng

Trang 4

kiến thức, kĩ năng và kinh nghiệm, ngoài ra còn hình thành nên phẩm chất đạo đức, từ đó tạo ra năng lực cho mỗi con người Chúng ta là đất nước đang trong thời kỳ phát triển, chỉ có đặt giáo dục lên hàng đầu mới có thể nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực Việt Nam, qua đó phát huy hết năng lực tiềm ẩn của đất nước ta Muốn thực hiện được chiến lược đó, chúng ta cần phải nghiên cứu

về một thực trạng để có thể tìm ra những giải pháp, từ đó nhằm nâng cao hiệu

quả nguồn nhân lực hiện nay Và đó cũng là lí do em chọn đề tài “ Vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất và các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay”

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG

I LÝ LUẬN

1 Phương thức sản xuất

- Theo Karl Marx, phương thức sản xuất là sự thống nhất giữa lực lượng

sản xuất với một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng

- Về mặt kết cấu, ta có thể công thức hóa như sau:

Lực lượng sản xuất + Quan hệ sản xuất => Phương thức sản xuất = Cách thức sản xuất vật chất Phép “+” ở đây không phải là phép cộng giản đơn, mà là biểu thị mối quan hệ biện chứng, gắn bó lẫn nhau giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

- Muốn sản xuất được, con người phải có những mối quan hệ và liên hệ nhất định với nhau, và quan hệ của họ đối với giới tự nhiên

Do vậy, phương thức sản xuất được hiểu là cách thức con người thực hiện đồng thời sự tác động giữa con người với tự nhiên và sự tác động giữa người với người để sáng tạo ra của cải vật chất phục vụ nhu cầu của con người và xã hội ở những giai đoạn lịch sử nhất định

2 Lực lượng sản xuất

- Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, tạo ra sức sản xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội

+ Người lao động là con người có tri thức, kinh nghiệm và năng lực sáng tạo nhất định trong quá trình sản xuất của xã hội Đây là nguồn lực cơ bản và là nhân tố giữ vai trò quyết định

+ Tư liệu sản xuất là điều kiện vật chất cần thiết để tổ chức sản xuất

3 Quan hệ sản xuất

Trang 6

- Quan hệ sản xuất là tổng hợp các quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất

- Quan hệ sản xuất gồm có:

+ Quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất

+ Quan hệ trong tổ chức quản lý và trao đổi hoạt động với nhau

+ Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động

- Quan hệ sản xuất hình thành một cách khách quan, là quan hệ đầu tiên, cơ bản chủ yếu, quyết định mọi quan hệ xã hội

4 Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Sự biến đổi của lực lượng sản xuất chính là bắt đầu của sự vận động và phát triển phương thức sản xuất Trong sự vận động của mâu thuẫn biện chứng

đó, lực lượng sản xuất quyết định quá trình phát triển của quan hệ sản xuất Tương ứng với một trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi phải có một quan hệ sản xuất phù hợp Do lực lượng sản xuất không ngừng phát triển ở một trình độ cao hơn nên quan hệ sản xuất cũng phải phát triển để tạo động lực cho lực lượng sản xuất Nhưng do lực lượng sản xuất luôn phát triển nhanh hơn quan hệ sản xuất nên đến một lúc nào đó sẽ mâu thuẫn với quan hệ sản xuất, đòi hỏi phải xuất hiện quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Mặt khác, do quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất có tính độc lập tương đối nên tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản xuất

Sự tác động trở lại này đi theo hai chiều hướng, đó là thúc đẩy và kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi quan hệ sản xuất phù hợp, thì nền sản xuất

sẽ được đi theo đúng hướng, từ đó tạo nên những thành tựu lợi ích của người lạo động cũng được đảm bảo và kết quả là lực lượng sản xuất phát triển Còn khi

Trang 7

quan hệ sản xuất không phù hợp sẽ gây kìm hại, thậm chí còn phá hoại lực lượng sản xuất

Trong thực tiễn, muốn phát triển kinh tế phải bắt đầu từ phát triển lực lượng sản xuất, trước hết là nguồn nhân lực (lực lượng lao động ) và công cụ lao động Và quan hệ sản xuất cũ sẽ được thay thế bằng quan hệ sản xuất mới nhằm thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất Quá trình đó lặp đi lặp lại tác động cho xã hội loài người trải qua những phương thức sản xuất từ thấp đến cao dẫn đến sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế – xã hội

5 Vai trò của nguồn nhân lực tại Việt Nam

Hoà mình vào xu thế hội nhập với kinh tế quốc tế, đất nước Việt Nam cũng đang từng bước trên con đường phát triển công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Ngoài việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ đất nước, thì vấn đề quan trọng không kém đó là phát triển kinh tế vững mạnh Vì sao? Vì đất nước ta còn nghèo

và lạc hậu so với các cường quốc trên thế giới, nếu kinh tế không phát triển thì

sẽ phải lệ thuộc, thậm chí thành thuộc địa của các nước lớn Vậy nên, để phát triển kinh tế đất nước thì ta cần tận dụng và phát huy rất nhiều nguồn lực: nguồn lực tự nhiên, nguồn nhân lực, nguồn vốn, khoa học kỹ thuật – công nghệ (KHKT-CN) tiên tiến hiện đại…

Ngoài những nguồn lực quan trọng như KHKT-CN hay nguồn vốn thì nguồn nhân lực cũng đóng vai trò quyết định đến sự nghiệp đổi mới nền kinh tế

- xã hội ở nước ta Chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định: “Con người không chỉ

là sản phẩm mà còn là chủ thể của mọi quá trình lịch sử, con người là yếu tố quan trong nhất cấu thành nên lực lượng sản xuất mà lịch sử loài người phát triển được” Con người còn là nguồn lực duy nhất biết tác động vào các nguồn lực khác để thúc đẩy các nguồn lực khác hoạt động, và con người cũng là cầu nối gắn kết chúng lại để tạo sức mạnh cho sự phát triển, nhưng nếu không có các nguồn lực khác thì nguồn nhân lực cũng không thể hoàn thành được vai trò của mình

Trang 8

Con người là trung tâm của mọi sự phát triển vì mọi sự phát triển đều hướng mục tiêu duy nhất là phục vụ nhu cầu của con người Vai trò của nguồn nhân lực tại Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá được Nghị quyết của Đại hội Đảng VIII khẳng định: “ Nâng cao dân trí và phát huy nguồn nhân lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi công nghiệp hoá, hiện đại hoá” Việt Nam chúng ta là đất nước đang phát triển, nhưng lại có lực lượng sản xuất có trình độ thấp Và khái niệm nền kinh tế tri thức đối với chúng ta vẫn còn rất mới mẻ Nên nhiều người cho rằng đất nước ta không thể thực hiện được quá trình hình thành nền kinh tế này Vậy nên, Việt Nam ta phải nhanh chóng tìm hiểu và quan tâm tới các lĩnh vực có thể tiếp cận, vì nếu chờ đến khi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá kết thúc mới tiến hành xây dựng nền kinh tế tri thức thì sẽ không theo kịp các nước trên thế giới

Việc xây dựng nền kinh tế tri thức đối với nước nông nghiệp như Việt Nam khá là khó khăn Bởi vì nền kinh tế này thực chất là sự tiếp tục của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ở một cấp độ cao hơn Vấn đề đặt ra ở đây là Việt Nam đang phát triển đất nước trong điều kiện trình độ lực lượng sản xuất thấp, đòi hỏi việc tiếp cận với nền kinh tế mới phải phù hợp với điều kiện tại Việt Nam Do vậy việc trang bị kiến thức cũng như điều kiện vật chất và con người để tiếp cận kinh tế tri thức chính là nhiệm vụ quan trọng của nước ta Để thực hiện nhiệm vụ này, điều cấp thiết nhất là nghiên cứu và chỉ ra được 1 cách khách quan điểm mạnh, điểm yếu của thực trạng và tìm ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Để có thể đảm bảo thành công trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, phải chú trọng vào việc phát triển nguồn nhân lực Vì chúng ta không thể thực hiện tiếp cận nền kinh tế tri thức nếu thiếu đội ngũ đông đảo những người thợ lành nghê, nhà doanh nghiệp tài giỏi, những nhà lãnh đạo có trách nhiệm và kĩ năng giỏi hay những nhà khoa học kỹ thuật……

Việt Nam hiện nay vẫn đang vững bước trên con đường hướng tới nền kinh tế mới theo định hướng chủ nghĩa xã hội, nhằm đảm bảo mục tiêu dân giàu,

Trang 9

nước mạnh, độc lập, tự do, hạnh phúc và an ninh quốc phòng vững chắc Nền kinh tế Việt Nam sẽ chỉ có sự đổi mới vượt trội và hiệu quả khi lấy việc giáo dục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực lên hàng đầu

II THỰC TIỄN NGUỒN NHÂN LỰC TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

1 Thực trạng nguồn nhân lực tại Việt Nam ( sử dụng thông tin và số liệu của những năm 2019, 2020)

Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay đang có những bước đột

phá và tiến triển vì Việt Nam đang nằm trong giai đoạn “dân số vàng” với nhiều lợi thế Tuy nhiên năng suất lao động Việt Nam vẫn chênh lệch nhiều so với thế giới và ngay cả trong khu vực Đông Nam Á

Về số lượng nguồn nhân lực: Việt Nam hiện có lực lượng lao động dồi

dào so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Tổng số dân của Việt Nam năm 2020 là 97.757.118 người, là quốc gia đông dân thứ ba trong khu vực Đông Nam Á, trong đó có 54,56 triệu người (chiếm gần 58% dân số) đang trong độ tuổi lao động Tỷ trọng dân số tham gia lực lượng lao động cao nhất ở nhóm tuổi 25-29

Về chất lượng nguồn nhân lực: chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam

đang ở mức thấp trong bậc thang năng lực quốc tế, thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao Lao động Việt Nam đã chỉ ra rằng chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đang ở mức thấp trong bậc thang năng lực quốc tế, thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao Số người có trình độ chuyên môn kỹ thuật chỉ có 11,39 triệu lao động (chiếm 20,87%) qua đào tạo có bằng/chứng chỉ (bao gồm các trình độ sơ cấp nghề, trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học), chiếm 20,92% tổng lực lượng lao động Trong 10 năm qua, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng mạnh nhưng vẫn còn 76,9% người tham gia lực lượng lao động chưa được đào tạo chuyên môn

Về đặc trưng vùng địa lý: Lực lượng lao động đã được đào tạo có bằng,

chứng chỉ (từ sơ cấp trở lên) ở khu vực thành thị cao gấp 2,5 lần khu vực nông

Trang 10

thôn Tỷ lệ lực lượng lao động đã qua đào tạo có bằng, chứng chỉ cao nhất ở vùng Đồng bằng sông Hồng (31,8%) và Đông Nam Bộ (27,5%); thấp nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long (13,6%)

Về năng suất lao động: Theo số liệu thống kê mà Bộ Kế hoạch – Đầu tư

năm 2019, năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 7,6% mức năng suất của Singapore; 19,5% của Malaysia; 37,9% của Thái Lan; 45,6% của Indonesia; 56,9% của Philippines, 68,9% của Brunei So với Myanmar, Việt Nam chỉ bằng 90% và chỉ bằng 88,7% Lào Trong khu vực Đông Nam Á, năng suất lao động của Việt Nam chỉ cao hơn Campuchia

2 Phát triển nguồn nhân lực để theo kịp cuộc cách mạng Công nghệ 4.0 và phát triển kinh tế

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0) là nền tảng để nền kinh tế chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình dựa vào tài nguyên, lao động chi phí thấp sang kinh tế tri thức; làm thay đổi cơ bản khái niệm đổi mới công nghệ, trang thiết bị trong các dây chuyền sản xuất Đồng thời nền công nghiệp 4.0 sẽ tạo ra những thay đổi lớn về cung - cầu lao động Các nhà kinh tế và khoa học cảnh báo, trong cuộc cách mạng này, thị trường lao động sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng giữa cung và cầu lao động cũng như cơ cấu lao động

Đối với Việt Nam, từ trước đến nay, nền kinh tế vẫn dựa nhiều vào các ngành sử dụng lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên thiên nhiên, trình độ của người lao động còn lạc hậu Đây là một trong những thách thức lớn nhất khi đối diện với cuộc CMCN 4.0 Những vấn đề cần quan tâm trong việc phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu của CMCN 4.0 cụ thể là:

Thứ nhất, CMCN 4.0 làm chuyển dịch cơ cấu lao động trong các ngành

kinh tế Với CMCN 4.0, những ngành nghề truyền thống sử dụng nhiều lao động

sẽ dần mất đi, đồng thời xuất hiện những ngành nghề mới CMCN 4.0 đã cho ra đời các hệ thống tự động hóa và robot thông minh Các hệ thống này sẽ thay thế dần lao động thủ công trong toàn bộ nền kinh tế gây áp lực lớn đối với thị

Ngày đăng: 26/05/2022, 22:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w