Điều này đặt ra yêu cầu cần phải có một cuộc cải cách chính sách tiền lương toàn diện, đồng bộ, dựa trên nhu cầu thực tiễn, bằng chứng khoa học thuyết phục, tạo ra động lực thực sự để ng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀNG HOÁ SỨC LAO ĐỘNG VÀ VẤN ĐỀ TIỀN LƯƠNG, CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Tên sinh viên: Nguyễn Bảo Nhi
Lớp tín chỉ: TR115.6
Lớp hành chính: Anh 13 – KTĐN - KHOÁ 5 – K60
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
Mã sinh viên: 2114110241
Giáo viên hướng dẫn: ThS Đinh Thị Quỳnh Hà
HÀ NỘI, NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… 2 I.LÝ LUẬN CỦA C.MAC VỀ HÀNG HOÁ SỨC LAO ĐỘNG………… 3
1.Khái niệm hàng hoá sức lao động……… 4 2.Sức lao động và hai điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá…………4 3.Hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động……… 5
II.CẢI CÁCH CHÍNH SÁCH TIỀN CÔNG (TIỀN LƯƠNG) Ở VIỆT NAM HIỆN NAY……….7
1.Thực tiễn quá trình cải cách chính sách tiền công ở Việt Nam hiện nay……7 2.Những kết quả đạt được từ quá trình cải cách chính sách tiền công ở Việt Nam hiện nay……… 11 3.Những hạn chế trong cải cách chính sách tiền công (tiền lương) ở nước ta những năm gần đây – Nguyên nhân……… 12 4.Một số phương hướng, kiến nghị cơ bản để Nhà nước thực hiện có hiệu quả chính sách cải cách tiền công ở Việt Nam hiện nay……….15
KẾT LUẬN……….18 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 19
Trang 3MỞ ĐẦU
Nguồn nhân lực là vấn đề quan trọng quyết định sức mạnh của đất nước
đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hoá như hiện nay Nguồn tài nguyên thiên đang ngày càng cạn kiệt đất nước muốn giàu mạnh thì phải dựa vào bản thân, sức lao động sáng tạo của con người
Lý luận về hàng hoá sức lao động Chủ nghĩa Mác – Lênin đã có những luận điểm khoa học, toàn diện và biện chứng Trên cơ sở đó, tạo tiền đề vững chắc cho việc lý giải và áp dụng vào thực tiễn xã hội những giải pháp nhằm cải cách chính sách tiền lương ở Việt Nam hiện nay
Ở Việt Nam, thực tiễn cải cách chính sách tiền lương, nhất là từ giai đoạn
từ 1992 đến nay cho thấy những nỗ lực, cố gắng của cả hệ thống chính trị, cải cách chính sách tiền lương của nước ta đã đạt được nhiều kết quả tích cực Tuy nhiên, chính sách tiền lương của Việt Nam còn nhiều hạn chế và bất cập
so với nhu cầu của thực tiễn phát triển đất nước Điều này đặt ra yêu cầu cần phải có một cuộc cải cách chính sách tiền lương toàn diện, đồng bộ, dựa trên nhu cầu thực tiễn, bằng chứng khoa học thuyết phục, tạo ra động lực thực sự
để người lao động trong khu vực nhà nước và doanh nghiệp cống hiến, sáng tạo và phát triển đất nước bền vững
Qua đó, em xin được chọn đề tài “Hàng hoá sức lao động và vấn đề tiền lương, cải cách tiền lương ở Việt Nam hiện nay” để làm sáng tỏ hơn về vấn đề này
Trang 4I.LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VỀ HÀNG HOÁ SỨC LAO ĐỘNG:
1.Khái niệm hàng hoá sức lao động:
Để tìm hiểu về một vấn đề cụ thể nào đó, trước hết ta phải tìm hiểu khái niệm của nó Vậy “Hàng hoá sức lao động” là gì?
Sự biến đổi giá trị của số tiền cần phải chuyển hoá thành tư bản không thể xảy ra trong bản thân số tiền ấy, mà chỉ có thể xảy ra từ hàng hoá mua vào (T-H) Hàng hoá đó không thể là một hàng hoá thông thường, mà phải là một hàng hoá đặc biệt, hàng hoá mà giá trị sử dụng của nó có đặc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị Thứ hàng hoá đó là sức lao động của nhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường
2.Sức lao động và hai điều hiện để sức lao động trở thành hàng hoá:
Theo C Mác, “Sức lao động, đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong
thân thế một con người, trong nhân cách sinh động của con người, thể lực và trí lực mà con người phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích”.
Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của sản xuất Nhưng không phải trong bất kỳ điều kiện nào, sức lao động cũng là hàng hoá Thực tiễn lịch sử cho thấy, sức lao động của con người nô lệ không phải hàng hoá, vì bản thân nô lệ phụ thuộc sở hữu của chủ nó, anh ta không có quyền bán sức lao động của mình Người thợ thủ công tự do tuy được tuỳ ý sử dụn sức lao động của mình, nhưng sức lao động của anh ta cũng không phải hàng hoá, vì anh ta có tư liệu sản xuất để làm ra sản phẩm nuôi sống mình chứ chưa buộc phải bán sức lao động để sống Sức lao động chỉ có thể trở thành hàng hoá trong những điều kiện lịch sử nhất định sau đây:
Trang 5Thứ nhất, người có sức lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được
sức lao động của mình và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hoá
Thứ hai, người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất,
để tồn tại buộc anh ta phải bán sức lao động của mình để sống
Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao động trở thành hàng hoá Sức lao động biến thành hàng hoá là điều kiện quyết định để tiền biến thành tư bản Tuy nhiên để tiền biến thành tư bản thì lưu thông hàng hoá
và lưu thông tiền tệ phải phát triển đến một mức độ nhất định
Trong các hình thái xã hội trước chủ nghĩa tư bản chỉ có sản phẩm của lao động mới là hàng hoá Chỉ đến khi sản xuất hàng hoá phát triển đến một mức
độ nhất định nào đó, các hình thái sản xuất xã hội cũ (sản xuất nhỏ, phường hội, phong kiến) bị phá vỡ, thì mới xuất hiện những điều kiện để cho sức lao động trở thành hàng hoá, chính sự xuất hiện của hàng hoá sức lao động làm cho sản xuất hàng hoá có tính chất phổ biến và đã báo hiệu cho sự ra đời của một thời đại mới trong lịch sử xã hội- thời đại của chủ nghĩa tư bản
3.Hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động:
Cũng giống như mọi hàng hoá khác, hàng hoá sức lao động cũng có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng
3.1.Giá trị hàng hoá sức lao động:
Giá trị hàng hoá sức lao động cũng do thời gian lao động xã hội cần thiết
để sản xuất và tái sản xuất sức lao động quyết định Nhưng sức lao động chỉ tồn tại như năng lực sống của con người Muốn tái sản xuất ra năng lực đó, người công nhân phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định về ăn, mặc, ở, học nghề,… Ngoài ra, người lao động còn phaiar thoả mãn những nhu
Trang 6cầu của gia đình và con cái của anh ta nữa Chỉ có vậy thì sức lao động mới được sản xuất và tái sản xuất một cách liên tục
Vậy thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động sẽ được quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt ấy; hay nói cách khác, giá trị hàng hoá sức lao động được đo gián tiếp bằng giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống người công nhân và gia đình anh ta
Là hàng hoá đặc biệt, giá trị hàng hoá sức lao động khác với hàng hoá thông thường ở chỗ nó cong bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử Điều đó
có nghĩa là ngoài những nhu cầu về vật chất, người công nhân còn có nhu cầu tinh thần, văn hoá… Những nhu cầu đó phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước trong từng thời kỳ, đồng thời nó cònn phụ thuộc cả vào điều kiện địa lý, khí hậu của nước đó
Tuy giá trị hàng hoá sức lao động bao hàm yếu tố tinh thần và lịch sử, nhưng đối với một nước nhất định và trong một thời lỳ nhất định, thì quy mô những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động là một đại lượng nhất định, do đó có thể xác định được lượng giá trị hàng hoá sức lao động do
những bộ phận sau đây hợp thành:
Một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để
tái sản xuất sức lao động, duy trì đời sống của bản thân người công nhân
Hai là, phí tổn đào tạo người công nhân.
Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết cho con
cái người công nhân
Để biết được sự biến đổi của giá trị sức lao động trong một thời kỳ nhất định, cần nghiên cứu hai loại nhân tố tác động đối lập nhau đến sự biến đổi của giá trị sức lao động Một mặt, sự tăng nhu cầu trung bình của xã hội về hàng hoá và dịch vụ, về học tập và nâng cao trình độ lành nghề đã làm tăng
Trang 7giá trị sức lao động; mặt khác, sự tăng năng suất lao động xã hội sẽ làm giảm giá trị sức lao động
3.2 Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động:
Hàng hoá sức lao động không chỉ giá trị, mà còn có giá trị sử dụng như bất
kỳ hàng hoá thông thường nào Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động cũng chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình lao động của người công nhân
Tuy nhiên, quá trình sử dụng hay tiêu dùng hàng hoá sức lao động khác với quá trình tiêu dùng hàng hoá thông thường ở chỗ: hàng hoá thông thường sau quá trình tiêu dùng hay sử dụng thì cả giá trị lẫn giá trị sử dụng của nó đều tiêu biến mất theo thời gian Trái lại, quá trình tiêu dùng hàng hoá sức lao động lại là quá trình sản xuất ra một hàng hoá nào đó, đồng thời là quá trình sáng tạo ra giá trị mới Mục đích của nhà tư bản là muốn giá trị mới được sáng tạo ra phải lớn hơn giá trị sức lao động và thực tế việc nhà tư bản tiêu dùng sưc lao động (thông quá hoạt động lao động của người công nhân) đã hàm chứa khả năng này Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản sẽ chiếm đoạt Như vậy, giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động có tính chất đặc biệt, nó là nguồn gốc sinh ra giá trị tức là nó có thể tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó Đó là chìa khoá để giải thích mâu thuẫn của công thức chung của tưu bản (T-H-T’) Chính đặc tính này đã làm cho sự xuất hiện của hàng hoá sức lao động trở thành điều kiện để tiền tệ chuyển hoá thành tư bản
Trang 8II.CẢI CÁCH CHÍNH SÁCH TIỀN CÔNG ( TIỀN LƯƠNG) Ở VIỆT NAM HIỆN NAY:
1.Thực tiễn quá trình cải cách chính sách tiền công ở Việt Nam hiện nay:
Chính sách tiền công (tiền lương) là một bộ phận đặc biệt quan trọng của
hệ thống chính sách kinh tế - xã hội, liên quan trực tiếp đến các cân đối lớn của nền kinh tế, thị trường lao động và dơid sống người lao động, góp phần xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phòng chống tham nhũng, lãng phí
Nước ta đã trải qua 4 lần cải cách chính sách tiền lương vào các năm 1960, năm 1985, năm 1993, năm 2003 Cụ thể như sau:
Cải cách tiền lương giai đoạn 1960-1984:
Sau hoà bình lập lại, những yêu cầu đặt ra trong việc sửa đổi chế độ tiền lương đối với người lao động tại miền Bắc Việt Nam lần đầu tiên được đưa ra vào năm 1957 và chính thức được triển khai vào năm 1960, sau khu hoàn thành cải tạo kinh tế xã hội chủ nghĩa Trong đợt cải cách này, mức tiền lương
cụ thể cho từng loại công việc, thời gian trả, hình thức trả lương, nâng bậc lương và các vấn đề khác liên quan đều do Nhà nước định sẵn thông qua hệ thống các bậc lương và phụ thuộc vào ngân sách nhà nước Vấn đề tiền lương tối thiểu được Chính phủ giới hạn trực tiếp bằng việc quy định cụ thể các mức lương trong các ngành
Một trong những điểm nhấn của chính sách cải cách tiền lương ở Việt Nam trong giai đoạn 1960-1984 là hướng tới mục tiêu chiếu cố toàn diện, cân nhắc
kỹ lưỡng giữa yêu cầu và kỹ năng, kết hợp nguyên tắc với thực tế để vận dụng đúng đắn nguyên tắc phân phối theo lao động vào tình hình thực tế đất nước (…), chống chủ nghĩa bình quân, phải chống xu hướng đòi công bằng hợp lý một cách tuyệt đối, không phù hợp với hoàn cảnh thực tế của đất nước
Trang 9Cải cách tiền lương giai đoạn 1985-1992:
Giai đoạn này được đánh dấu bằng việc ban hành Nghị quyết của Hội nghị
Trung ương 8 khoá V (tháng 6 – 1985) và Nghị định số 235/HĐBT ngày
18/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng về cải tiến chế độ tiền lương của công nhân, viên chức và các lực lượng vũ trang đã dẫn đến một cuộc cải cách lớn
về giá – lương – tiền, mở đầu cho thời kỳ đổi mới đất nước Nghị định số 235 quy định thang, bảng lương đối với công nhân, nhân viên, cán bộ quản lý xí nghiệp, công ty và bảng lương chức vụ đối với cán bộ, viên chức trong các tổ chức trong các tổ chức sự nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước Nguyên tắc hưởng lương là làm công việc gì, chức vụ gì thì hưởng lương theo công việc, chức vụ đó
Mặc dù còn nhiều hạn chế, tuy nhiên có thể khẳng định chính sách cải cách tiền lương của Việt Nam trong gia đoạn 1985-1992 đã có tiến bộ đáng kể trong việc quy định về tiền lương tối thiểu; đã có sự phân định về tiền lương tối thiểu đối với các doanh nghiệp trong nước và các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đảm bảo sự công bằng trong việc trả công cho người lao động
Cải cách tiền lương giai đoạn 1993-2002:
Giai đoạn này được đánh dấu bằng các văn bản: Nghị định số 26/CP quy định tạm thời chế độ tiền lương mới trong các doanh nghiệp; Nghị định số
25/CP quy định tạm thời chế độ tiền lương mới của công chức, viên chức
hành chính – sự nghiệp và lực lượng vũ trang của Chính phủ ban hành ngày
23/5/1993; Bộ luật Lao động (1994); Nghị định số 197/CP ngày 31/12/1994
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về
tiền lương; Thông tư số 11/LĐTBXH-TT ngày 3/5/1995 hướng dẫn Nghị
định số 197/CP…
Trang 10Mục tiêu của cải cách chính sách tiền lương của Việt Nam trong giai đoạn 1993-2000 là phải làm cho tiền lương trở thành thước đo giá trị sức lao động,
áp dụng ở mọi thành phần kinh tế có quan hệ lao động theo thị trường Đặc biệt, tiền lương tối thiểu phải thực sự là “lưới an toàn” cho người lao động, đảm bảo cho họ duy trì được mức sống tối thiểu cần thiết và tái sản xuất sức lao động; đáp ứng yêu cầu tiền tệ hoá tiền lương, dần thay thế và tiến tới xoá
bỏ chế độ phân phối hiện vật có tính chất tiền lương Những thành công và hạn chế của cải cách chính sách tiền lương giai đoạn 1993-2002 đặt nền móng cho việc hoàn thiện các quy định về tiền lương dựa trên cơ sở có quan hệ giữa chủ sử dụng lao động và người lao động: tạo sự cạnh tranh giữa những người lao động và điều kiện cho sự phát triển thị trường lao động; tách chế độ tiền lương với chính sách bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công Việc Quốc hội ban hành Bộ luật Lao động, (1994) đã xác lập: tiền lương tối thiểu
đã được ghi nhận một cách đầy đủ, toàn diện trong văn bản pháp lý có hiệu lực cao là Bộ luật Bộ luật Lao động góp phần tạo nên trật tự cho các quan hệ
xã hội trong lĩnh vực lao động thay đổi theo hướng tích cực và hội nhập với thế giới
Cải cách tiền lương giai đoạn 2003-2020:
Điểm nhấn của cải cách chính sách tiền lương giai đoạn này là từ năm
2009, Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng dựa trên mức lương tối chung dành riêng cho khu vực doanh nghiệp tư nhân Đặc biệt, thực hiện Kết luận số 23-KL/TW ngày 29/5/2012 của Hội nghị Trung ương 5 và Kết luận số 63-KL/TW ngày 27/5/2013 của Hội nghị Trung ương 7 khoá XI, nước ta đã từng bước hoàn thiện cơ chế quy định mức lương tối thiểu vùng và chế độ tiền lương của khu vực doanh nghiệp theo yêu cầu phát triển kinh tế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước; đã thực hiện nguyên tắc chỉ điều chỉnh mức lương
Trang 11cơ sở và ban hành chính sách, chế độ mới đối với khu vực công khi đã bố trí
đủ nguồn lực; không ban hành mới các chế độ phụ cấp theo nghề, triển khai xây dựng danh mục vị trí việc làm tạo cơ sở cho việc trả lương Đồng thời từ năm 2013, tiền lương tối thiểu để tính lương cho người lao động ở khu vực công được đổi thành mức lương cơ sở Ngày 9/11/2016, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết về kế hoạch tài chính 5 năm, trong đó có nội dung tăng mức lương
cơ sở tối thiểu trung bình 7%/năm giai đoạn 2016-2020 Tính đến ngày
1/7/2018, mức lương cơ sở của người lao động trong khu vực công đạt
1.390.000 đồng/tháng Đối với khu vực doanh nghiệp, mức lương tối thiểu vùng I là 3.890.000 đồng/tháng; vùng II là 3.530.000 đồng/tháng; vùng IV là 2.760.000 đồng/tháng Đây là một trong những nội dung nổi bật của chính sách cải cách tiền lương giai đoạn 2003-2020
Có thể khẳng định từ năm 2004 đến nay, Việt Nam đã liên tục hoàn thiện chế độ tiền lương trên cơ sở mở rộng quan hệ tiền lương, thu gọn một bước hệ thống thanh, bảng, ngạch, bậc lương, đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Với quy trình thực hiện cải cách theo nhiều bước, các quy định về tiền lương của giai đoạn 2003-2020 có xu hướng đảm bảo cuộc sống của người lao động và gia đình họ; vừa không tạo ra gánh nặng cho quỹ lương của Nhà nước và người sử dụng lao động đảm bảo tính hợp lý và hài hoà lợi ích giữa các bên tham gia quan hệ lao động Tuy nhiên, thực chất của cải cách chính sách tiền lương trong giai đoạn vẫn dựa trên cách tính lương năm 1993, chỉ điều chỉnh tăng mức lương khu vực sản xuất kinh doanh với khu vực chi từ ngân sách nhà nước… Vì vậy, chính sách tiền lương của Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập so với nhu cầu của thực tiễn phát triển đất nước Điều này đặt ra yêu cầu cần một cuộc cải cách chính sách tiền lương toàn diện, đồng bộ; dựa trên nhu cầu của thực tiễn, bằng chứng khoa học thuyết phục