TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNGKHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA LỢI NHUẬN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TƯ BẢN CHỦ NGHĨA Sinh vi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT
CỦA LỢI NHUẬN TRONG NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG TƯ BẢN CHỦ NGHĨA
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thu Thủy Anh MSV: 2114810002
Chuyên ngành: Kế toán – Kiểm toán Lớp tín chỉ: TRI115(GĐ1+2 – HK2 – 2122).6 Giảng viên hướng dẫn: ThS Đặng Hương Giang
Hà Nội, tháng 4 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
I NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT CỦA LỢI NHUẬN 4
1.1 Các quan điểm trước Mác về lợi nhuận 4
1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa trọng thương về lợi nhuận 4
1.1.2 Quan điểm của trường phái trọng nông 4
1.1.3 Quan điểm trường phái cổ điển Anh 5
1.2 Lý luận về lợi nhuận của Mác 5
1.2.1 Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa 6
1.2.2 Quá trình tạo ra giá trị thặng dư 6
1.2.3 Lợi nhuận 7
1.2.4 Sự che dấu quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa của phạm trù lợi nhuận 8
1.2.5 Tỷ suất lợi nhuận 9
1.2.6 Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân 9
1.3 Các hình thức của lợi nhuận 10
1.3.1 Lợi nhuận công nghiệp 10
1.3.2 Lợi nhuận thương nghiệp 10
1.3.3 Lợi nhuận ngân hàng 11
1.3.4 Lợi tức cho vay 11
1.3.5 Địa tô 11
II VAI TRÒ CỦA LỢI NHUẬN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TƯ BẢN CHỦ NGHĨA 12
2.1 Tiến hành phát triển của các hình thức tổ chức sản xuất 12
Trang 32.1.1 Quá trình chuyển từ kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng hoá 12
2.1.2 Quá trình chuyển từ kinh tế hàng hoá giản đơn sang kinh tế thị trường 13
2.2 Lợi nhuận trong cơ chế thị trường tư bản chủ nghĩa 15
2.2.1 Lợi nhuận là động lực chi phối hoạt động của doanh nghiệp 15
2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận 16
2.2.3 Ảnh hưởng của cơ chế thị trường đến việc thu lợi nhuận của doanh nghiệp 16
2.2.4 Các biện pháp để tăng lợi nhuận 18
KẾT LUẬN 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Đời sống xã hội loài người có nhiều mặt hoạt động khác nhau và có quan
hệ với nhau như: chính trị, văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo, khoa học – kỹthuật Xã hội ngày càng phát triển, các hoạt động ngày càng phong phú vàphát triển ở trình độ cao hơn Nhưng trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử,trước khi tiến hành các hoạt động đó loài người cũng phải sống Muốn sốngcon người cần có thức ăn, quần áo, nhà ở và các thiết bị khác Để có nhữngthứ đó thì phải tạo ra nó, nghĩa là sản xuất ra nó Hơn thế nữa, không phảisản xuất ra một lần mà phải sản xuất không ngừng với quy mô ngày càng
mở rộng và phải sinh lợi nhuận để xã hội loài người tồn tại và phát triểnhơn Ta thấy trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận chính là động lực chiphối hoạt động của kinh doanh, là mục đích của mọi ngành nghề, mọi nhàkinh doanh Nhà nước, doanh nghiệp, cá nhân khi bắt tay vào sản xuất kinhdoanh đều muốn thu lợi nhuận Lợi nhuận là phần thưởng cho sự lao động,sáng tạo, năng đông của con người trong quá trình sản xuất, kinh doanh.Lợi nhuận có vai trò nhất định trong nền kinh tế hiện nay Bởi vậy đề tài
này sẽ đề cập tới vấn đề “Phân tích nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận
trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa”.
Trang 5NỘI DUNG
I NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT CỦA LỢI NHUẬN
1.1 Các quan điểm trước Mác về lợi nhuận
Lợi nhuận xuất hiện từ rất lâu cùng với sự phát triển của kinh tế hoàng hóa.Trước Mác có rất nhiều quan điểm của các trường phái khác nhau về vấn
đề lợi nhuận
1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa trọng thương về lợi nhuận
Chủ nghĩa trọng thương là tư tưởng kinh tế của giai cấp tư sản trong giaiđoạn phương thức sản xuất phong kiến tan rã và chủ nghĩa tư bản ra đời.Nguyên lý cơ bản trong học thuyết của những người trọng thương là lợinhuận được tạo ra trong lĩnh vực lưu thông, nó là kết quả của trao đổikhông ngang giá, do lừa gạt mà có Những người trọng thương cho rằng:Trong hoạt động thương nghiệp phải có một bên được một bên mất, dân tộcnày làm giàu thì dân tộc khác phải chịu thiệt thòi Tóm lại, theo học thuyếtkinh tế trọng thương: Lợi nhuận là do lĩnh vực lưu thông mua bán, trao đổisinh ra Nó là kết quả của việc mua ít bán nhiều, mua rẻ bán đắt mà có
1.1.2 Quan điểm của trường phái trọng nông
Trường phái trọng nông đã chuyển việc nghiên cứu các hiện tượng kinh tế
từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất Ủng hộ quan điểm “quy luậtsắt về tiền lương” cho rằng tiền lương của công nhân phải thu hẹp ở mức tưliệu sinh hoạt tối thiểu Nguyên nhân ở chỗ cung lao động luôn luôn lớnhơn cầu lao động Vì vậy công nhân cạnh tranh nhau để có việc làm, nhà tưbản có điều kiện trả lương ở mức tối thiểu nên sản phẩm lao động của côngnhân nông nghiệp bằng tổng của tiền lương và sản phẩm thuần Ở đây tiềnlương công nhân là thu nhập theo lao động, còn sản phẩm thuần túy là thunhập của nhà tư bản và gọi nó là lợi nhuận Vậy lợi nhuận là thu nhậpkhông lao động do công nhân tạo ra
Trang 61.1.3 Quan điểm trường phái cổ điển Anh
Trường phái cổ điển Anh cho rằng lợi nhuận được sinh ra từ lĩnh vực sảnxuất vật chất bằng cách bóc lột lao động sản xuất từ những người làm thuê.Giai cấp tư sản lúc này đã nhận thức được “Muốn giàu thì phải bóc lột laođộng, lao động làm thuê của những người nghèo là nguồn gốc làm giàu vôtận cho những người giàu” Adam Smith và David Ricardo, những tác giảtiêu biểu của trường phái cổ điển Anh, đều nêu lên quan điểm của mình vềlợi nhuận
Theo Adam Smith, lợi nhuận tham gia vào việc hình thành giá trị với tưcách một nhân tố hình thành giá cả nhưng chưa nêu được nguồn gốc của lợinhuận
David Ricardo đã đi xa hơn Adam Smith Theo ông lợi nhuận và tiền công
là 2 bộ phận của giá trị do lao động tạo nên Ông đã đưa ra một số kết quảquan trọng là: lợi nhuận và tiền công đối lập nhau Sự tăng hay giảm củamột trong hai yếu tố đó đều sẽ gây ra sự giảm hay tăng của yếu tố kia Từ
đó, Ricardo cũng khẳng định việc tăng hay giảm lợi nhuận hoặc tiền côngkhông có ảnh hưởng gì đến giá cả mà chỉ ảnh hưởng đến sự phân phối giátrị giữa công nhân và nhà tư bản Vậy Ricardo đã quy lợi nhuận về giá trịthặng dư Tuy nhiên, Ricardo vẫn không nêu ra được khái niệm giá trịthặng dư Khi nói đến năng suất lao động, ông không có ý định coi nó lànguyên nhân tồn tại của giá trị thặng dư, mà chỉ có ý định coi là nguyênnhân quyết định của lượng giá trị thặng dư mà thôi Như vậy, Ricardo đã bỏqua giá trị thặng dư mà chỉ quan tâm đến hình thái của nó: lợi nhuận, lợitức, lợi tô, những cái mà ông đã quy về nguồn gốc của chúng, về lao độngkhông được trả công
Trang 71.2 Lý luận về lợi nhuận của Mác
Mác đã kế thừa những hạt nhân hợp lý của kinh tế chính trị học tư sản cổđiển, phát triển nó một cách xuất sắc và thực hiện một cuộc cách mạngtrong lĩnh vực kinh tế chính trị học
1.2.1 Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa
Để tạo ra giá trị hàng hoá cần phải chi một số lao động nhất định là laođộng quá khứ và lao động hiện tại
Lao động quá khứ (lao động vật hoá) tức là giá trị của tư liệu sản xuất (c).Giá trị của tư liệu sản xuất nhờ lao động cụ thể của công nhân được bảo tồn
và di chuyển vào gía trị của sản phẩm mới
Lao động hiện tại (lao động sống) tức là lao động tạo ra giá trị mới (v+m).Giá trị mới này là do lao động trừu tượng của công nhân tạo ra trong quátrình lao động
Phần giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, nó bằng giá trị sức lao độngcộng thêm với giá trị thặng dư
Như vậy đứng trên quan điểm xã hội mà xét thì chi phí thực tế để sản xuất
ra hàng hoá (c+v+m)
Trên thực tế, nhà tư bản ứng tư bản để sản xuất hàng hoá tức là họ ứng ramột số tư bản để mua tư liệu sản xuất (c) và mua sức lao động (v) Do đónhà tư bản chỉ xem hao phí hết bao nhiêu tư bản chứ không tính xem haophí hết bao nhiêu lao động xã hội Mác gọi chi phí đó là chi phí sản xuất tưbản chủ nghĩa và ký hiệu bằng k (k=c+v)
Vậy chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là chi phí về tư bản mà nhà tư bản bỏ
ra để sản xuất hàng hoá
Khi xuất hiện chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa thì công thức giá trị hànghoá (gt=c+v+m) chuyển thành (gt=k+m)
Trang 81.2.2 Quá trình tạo ra giá trị thặng dư
Quá trình sản xuất tư bản là sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị
sử dụng với quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư Để tìm ra quá trình sảnxuất giá trị thặng dư ta đi vào phân tích quá trình sản xuất sợi của một nhà
tư bản cá biệt với các giả định:
Nhà tư bản cho công nhân sản xuất 8 giờ trong 1 ngày Như vậy 4 giờ laođộng công nhân chuyển giá trị của bông thành giá trị sử dụng của sợi là10USD, chuyển giá trị của máy móc sang giá trị của sợi là 2 USD Bằnglao trừu tượng công nhân chuyển sang sợi có giá trị là 3USD Giá trị 10 kgsợi là 15USD, khi bán sợi theo nguyên tắc ngang giá thì nhà tư bản thu về15USD (thu=chi)
Nếu ngừng sản xuất thì nhà tư bản chưa có giá trị thặng dư nhưng nhà tưbản đã mua sức lao động trong 8 giờ Vì vậy 4 giờ tiếp theo công nhân tạo
ra 10 kg bông có giá trị là 15USD, nhưng lúc này thu lớn hơn chi
15USD > 10USD bông + 2USD hao mòn máy
Vậy dôi ra là: 15 – 12 = 3USD Đây chính là giá trị thặng dư (m) do côngnhân tạo ra và nhà tư bản chiếm không mặc dù nhà tư bản mua theo nguyêntắc ngang giá Như vậy giá trị thặng dư là khoản dôi ra của giá trị mới docông nhân tạo ra sau khi đã trừ đi sức lao động là lao động không công củacông nhân làm thuê cho nhà tư bản
Lượng giá trị thặng dư có được do sự chênh lệch giữa giá trị mới và giá trịsức lao động Mà giá trị hàng hóa (w) gồm 2 phần: giá trị tư liệu và giá trịmới Vậy giá trị thặng dư chỉ được tạo ra khi ngày lao động vượt quá thờigian lao động cần thiết Sản xuất giá trị thặng dư chính là quá trình tạo ragiá trị do kéo dài thời gian lao động cần thiết – thời gian tạo ra giá trị mớibằng giá trị sức lao động
Trang 91.2.3 Lợi nhuận
Giữa gía trị hàng hoá và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn có mộtkhoảng chênh lệch, chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn nhỏ hơn chi phíthực tế hay giá trị của hàng hoá, (c+v) < (c+V+m), cho nên sau khi bánhàng hoá nhà tư bản không những bù đắp đủ số tư bản đã ứng ra mà cònthu được số tiền lời ngang bằng với gía trị thặng dư Số tiền này gọi là lợinhuận
Nếu ký hiệu lợi nhuận là P thì công thức:
gt = (c+v+m) = k+m) bây giờ sẽ chuyển thành gt = k+P (hay giá trị hànghoá bằng chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa cộng với lợi nhuận)
Giá trị thặng dư được so với toàn bộ tư bản ứng trước, được quan niệm làcon đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước sẽ mang hình thức chuyển hoá là lợinhuận
1.2.4 Sự che dấu quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa của phạm trù lợi nhuận
gt = c+v+m=k+m=k+P
Thoạt nhìn công thức ta thấy lợi nhuận và giá trị thặng dư chỉ là một hìnhthái thần bí hóa của giá trị thặng dư, hình thái mà phương thức sản xuất tưbản nghĩa tất phải đẻ ra Mặc dù m và p đều có chung một nguồn gốc là kếtquả lao động không công của công nhân làm thuê nhưng bản chất của m và
p hoàn toàn khác nhau, m phản ánh nguồn gốc sinh ra từ v còn p thì đượcxem như toàn bộ tư bản ứng trước đẻ ra, do đó p đã che dấu quan hệ bóc lột
tư bản chủ nghĩa che dấu nguồn gốc thực sự của nó Điều đó là do nhữngnguyên nhân sau:
Một là, sự hình thành chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xoá nhoà sựkhác nhau giữa c và v Chúng ta biết rằng v tạo ra m nhưng khi chi phí sảnxuất tư bản chủ nghĩa hình thành thì sự khác nhau giữa c và v biến mất nênviệc p được sinh ra trong quá trình sản xuất nhờ bộ phận v bây giờ trở
Trang 10thành con đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước Lao động là nguồn gốc của giátrị thì biến mất và giờ đây hình như toàn bộ chi phí sản xuất tư bản chủnghĩa sinh ra p.
Hai là, do chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn nhỏ hơn chi phí sản xuấtthực tế cho nên nhà tư bản chỉ cần bán hàng hoá với giá cao hơn chi phí sảnxuất tư bản chủ nghĩa là đã có lợi nhuận
Nếu nhà tư bản bán hàng với giá cao hơn giá trị thì m<p
Nếu nhà tư bản bán hàng với giá thấp hơn giá trị thì m>p
Nếu nhà tư bản bán hàng với giá bằng giá trị thì m = p
1.2.5 Tỷ suất lợi nhuận
Trên thực tế các nhà tư bản không chỉ quan tâm tới lợi nhuận và còn quantâm tới tỷ xuất lợi nhuận
Tỷ xuất lợi nhuận là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư và toàn
Việc theo đuổi tỷ suất lợi nhuận cao là động lực thúc đẩy các nhà tư bản làmục tiêu cạnh tranh của các nhà tư bản Tỷ suất lợi nhuận cao hay thấp cònphụ thuộc vào nhiều nhân tố khách quan: tỷ suất giá trị thặng dư; sự tiếtkiệm tư bản biến chất; cấu tạo hữu cơ của tư bản; tốc độ chu chuyển của tưbản
Trang 111.2.6 Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân
Tỷ suất lợi nhuận bình quân hình thành dưới ảnh hưởng của sự cạnh tranhgiữa các ngành thông qua việc tư bản di chuyển một cách tự phát từ ngành
có tỷ suất lợi nhuận thấp sang ngành có tỷ suất lợi nhuận cao Việc bìnhquân hoá tỷ suất lợi nhuận làm cho hàng hoá không bán theo giá trị mà bántheo giá cả sản xuất Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong quá trình cạnh tranhgiữa các nhà tư bản nó thể hiện lợi ích chung của giai cấp nhà tư bản trongviệc tăng cường bóc lột nhân dân lao động Cùng với sự phát triển của nềnsản xuất tư bản chủ nghĩa cấu tạo hữu cơ của tư bản tăng lên, do đó tỷ suấtlợi nhuận bình quân có xu hướng giảm xuống Bằng cách bóc lột công nhânnhà tư bản ra sức ngăn cản sự giảm xuống của tỷ suất lợi nhuận Phạm trù
tỷ suất lợi nhuận bình quân còn che dấu hơn nữa quan hệ bóc lột, che dấuhơn nữa nguồn gốc thực sự trong việc làm giàu của nhà tư bản Mác làngười đầu tiên phân tích một cách khoa học phạm trù tỷ suất lợi nhuận bìnhquân, ông đã vạch trần những luận điệu giả dối của các nhà kinh tế học tưsản cho rằng lợi nhuận không phải là kết quả của sự bóc lột và chỉ rõ rằnglợi nhuận là hình thức của giá trị thặng dư và vạch ra những mâu thuẫn giaicấp gắn liền với tham vọng theo đuổi lợi nhuận lớn nhất của nhà tư bản
1.3 Các hình thức của lợi nhuận
1.3.1 Lợi nhuận công nghiệp
Lợi nhuận công nghiệp là phần giá trị thặng dư do công nhân tạo ra tronglĩnh vực công nghiệp và bị nhà tư bản chiếm không Thời gian lao độngtrong ngày của công nhân chia làm hai phần: một phần thời gian lao độngtrong ngày công nhân tạo ra một lượng giá trị ngang bằng với giá trị sức laođộng Phần còn lại của ngày là phần lao động thặng dư, lao động trongkhoảng thời gian này là lao động thặng dư Phần lao động thặng dư củacông nhân thuộc về nhà tư bản Khi hàng hoá được bán trên thị trường thì
Trang 12phần giá trị thặng dư này mang hình thức là lợi nhuận Lợi nhuận cao luôn
là mục đích của nhà tư bản cho nên nhà tư bản tìm ra hai phương pháp đểlàm tăng lợi nhuận đó là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất giátrị thặng dư tương đối
1.3.2 Lợi nhuận thương nghiệp
Lợi nhuận thương nghiệp là một phần giá trị thặng dư được tạo ra tronglĩnh vực sản xuất mà nhà tư bản công nghiệp nhường cho nhà tư bảnthương nghiệp Lợi nhuận thương nghiệp có nguồn gốc từ trong lĩnh vựcsản xuất, nó là số chênh lệch giữa giá bán và giá mua hàng hoá Nhưngđiều đó không có nghĩa là nhà tư bản thương nghiệp bán hàng hoá cao hơngiá trị của nó,
mà là nhà tư bản thương nghiệp mua hàng hoá thấp hơn giá trị và khi bánthì anh ta bán đúng giá trị của nó
1.3.3 Lợi nhuận ngân hàng
Ngân hàng tư bản chủ nghĩa là tổ chức kinh doanh tư bản tiền tệ làm môigiới giữa người đi vay và người cho vay Trong nghiệp vụ nhận gửi ngânhàng trả lợi tức cho người gửi tiền vào, còn trong nghiệp vụ cho vay ngânhàng thu lợi tức cho người đi vay Lợi tức nhận gửi bao giờ cũng nhỏ hơnlợi tức cho vay
Lợi nhuận ngân hàng là chênh lệch giữa lợi tức cho vay và lợi tức nhận gửitrừ đi các khoản chi phí cần thiết về nghiệp vụ ngân hàng cộng với cáckhoản thu nhập khác về kinh doanh tiền tệ
1.3.4 Lợi tức cho vay
Có nhà tư bản cần tư bản để hoạt động bởi vì họ chưa có đủ vốn Một sốnhà tư bản có tiền nhưng chưa cần sử dụng vốn Vì vậy nhà tư bản cần vốn
để hoạt động sẽ đi vay còn nhà tư bản chưa sử dụng đến sẽ cho vay Nhà tưbản đi vay tiền để sản xuất kinh doanh nên thu được lợi nhuận Nhà tư bảncho vay đã nhượng quyền sử dụng tư bản của mình cho người khác trong
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)