Mâu thuẫn này biểu hiện ra thành các mâu thuẫn sau: - Mâu thuẫn giữa tính tổ chức, tính kế hoạch trong từng xí nghiệp rất chặt chẽ và khoa học với khuynh hướng tự phát vô chính phủ trong
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TOÀN CẦU: NGUYÊN NHÂN, HẬU
QUẢ, CÁCH KHẮC PHỤC
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Tú Anh
Lớp tín chỉ: : TRIE115.4
Mã sinh viên : 2114410022
Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Ngọc Lan
Hà Nội 2022
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU……… 1
NỘI DUNG……… 3
PHẦN I: NGUYÊN NHÂN CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ……….3
1 Gia tăng lãi suất……… 4
2 Gia tăng bất ổn……… 5
3 Tác động của thị trường cổ phiếu đối với tài sản……… 5
4 Các vấn đề nảy sinh trong hệ thống ngân hàng……… 6
5 Mất cân bằng tài khóa của chính phủ……… 7
PHẦN II: HẬU QUẢ CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TOÀN CẦU……… 8
1 Phá hoại lực lượng sản xuất và làm rối loạn lĩnh vực lưu thông……… ………….8
2 Đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung TB là điều kiện để dẫn tới độc quyền……….……… 10
3 Cùng với quá trình tích tụ và tập trung tư bản là việc gia tăng khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn và làm mâu thuẫn giữa tư bản và người lao động ngày càng gay gắt…… 11
PHẦN III: CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI………11
1 Chính sách tài khóa……… 12
2 Chính sách tài chính tiền tệ……… 13
3 Các biện pháp khác……… 15
Trang 3
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế xã hội nói chung và nền kinh tế tư bản nói riêng, không phải lúc nào cũng tiến hành một cách trôi chảy Giữa các ngành mà trong quá trình cạnh tranh khốc liệt với nhau thì trong phạm vi xã hội khó
có thể đảm bảo được sự cân bằng Trong những điều kiện như vậy tỉ lệ chỉ
có thể hình thành lên một cách tự phát, qua việc chuyển từ ngành nọ sang ngành kia theo tỷ suất lợi nhuận cho nên hiện tượng tỉ lệ giữa các ngành chỉ là hiện tượng ngẫu nhiên, tạm thời Còn mất tỉ lệ mới là hiện tượng thường xuyên, mới là quy tắc chung của tái sản xuất tư bản chủ nghĩa Không phải tái sản xuất tư bản chủ nghĩa vấp phải những hiện tượng mất cân đối cục bộ thường xuyên xảy ra như trên mà cứ khoảng trên dưới
10 năm Giống như có một sức manh nào xui khiến toàn bộ sản xuất tư bản chủ nghĩa lại bỗng nhiên dừng lại: hiệu buôn phá sản, ngân hàng vỡ nợ, nhà máy đóng cửa, sản xuất thụt lùi sản xuất hàng hoá quá thừa, hiện tượng đổ vỡ này gọi là khủng hoảng kinh tế
Trong thời gian khủng hoảng kinh tế, có thể dễ thấy những tình trạng như sản xuất trì trệ, hàng hóa tồn đọng, doanh nghiệp phá sản, thất nghiệp cao, kéo theo tình trạng lạm phát, Và theo xu hướng toàn cầu hóa, mọi nước đều theo luật chơi toàn cầu, khủng hoảng kinh tế vượt xa khỏi phạm
vi quốc gia, khu vực mà ảnh hưởng đến toàn thế giới
Nguyên nhân do đâu? Từ khi nào? Ảnh hưởng tiêu cực của nó đến những mặt nào? Phải làm sao để hạn chế hậu quả? Khi trả lời được câu hỏi
Trang 4đó, mỗi quốc gia phải tìm cho mình hướng đi đúng đắn, phù hợp với thời đại để không những giúp đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh
tế, mà còn đưa đất nước đi lên
Hiểu được tầm quan trọng của nghiên cứu về khủng hoảng kinh tế,
em xin trình bày chủ đề : “ Khủng hoảng kinh tế toàn cầu: Nguyên nhân, hậu quả, cách khắc phục” Song với vốn kiến thức còn chưa được hoàn
thiện, bài tiểu luận của em không thể tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy em rất mong nhận được sự góp ý chân thành từ cô để bài tiểu luận của em hoàn chỉnh hơn Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5NỘI DUNG
PHẦN I : NGUYÊN NHÂN CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ
Trong thị trường tự do tư bản chủ nghĩa, lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của mọi hành vi kinh tế Mỗi khi tính toán cho thấy có lợi nhuận, các nhà
tư bản sẵn sàng lao vào vòng xoay: vay tiền - đầu tư - sản xuất - bán hàng
ra thị trường Nhưng khi lượng hàng hóa quá nhiều, vượt quá khả năng tiêu dùng sẽ dẫn đến tình trạng sản xuất thừa - căn nguyên của khủng hoảng
Để bảo đảm cho lợi ích của mình, giới chủ tư bản đã bằng mọi giá thúc đẩy tư nhân hóa các doanh nghiệp và tự do hóa thị trường, giảm thiểu tối đa
sự can thiệp của nhà nước vào sự vận hành nền kinh tế Lợi ích của các tập đoàn tư bản là động lực, mục đích chủ yếu và tạo thành các điều kiện, sức mạnh chi phối chính sách phát triển của các nhà nước tư bản chủ nghĩa Chính vì thế, nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế bắt nguồn từ chính mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản Đó là mâu thuẫn giữa trình độ xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội Mâu thuẫn này biểu hiện ra thành các mâu thuẫn sau:
- Mâu thuẫn giữa tính tổ chức, tính kế hoạch trong từng xí nghiệp rất chặt chẽ và khoa học với khuynh hướng tự phát vô chính phủ trong toàn xã hội Vì mục đích lợi nhuận, các nhà tư bản một mặt tìm cách hợp lí hóa sản xuất để giảm chi phí; mặt khác , chỉ đầu tư vào các ngành có lợi nhuận cao Kết quả, đến một lúc nào đó có sự mất cân đối giữa các ngành sản xuất, cung – cầu hàng hóa bị rối loạn, điều này phát triển đến một mức nào đó thì khủng hoảng kinh tế nổ ra
Trang 6- Mâu thuẫn giữa khuynh hướng tích lũy, mở rộng không có giới hạn của tư bản với sức mua ngày càng eo hẹp của quần chúng do
bị bần cùng hóa Để có được lợi nhuận siêu ngạch, các nhà tư bản
ra sức mở rộng sản xuất, cải tiến kĩ thuật, tăng sức cạnh tranh… Kết quả là của cải sản xuất ngày càng nhiều, nhưng sức mua nói chung của người tiêu dung không theo kịp dẫn đến hàng hóa “ thừa” trên thị trường
- Mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp tư bản và giai cấp lao động làm thuê Giai cấp công nhân là người trực tiếp làm ra của cải vật chất , nhưng do người tư bản là người nắm giữ tư liệu sản xuất nên sản phẩm làm ra hầu hết thuộc về nhà tư bản Sự tách rời tư liệu sản xuất và sức lao động, sự thống trị một cách tuyệt đối của quy luật giá trị thặng dư làm cho khủng hoảng kinh tế dưới chủ nghĩa tư bản trở thành hiện thực
Xét về khía cạnh kinh tế toàn cầu, có năm nhóm nguyên nhân có thể gây bùng phát khủng hoảng kinh tế như sau:
1 Gia tăng lãi suất
2 Gia tăng bất ổn
3 Tác động thị trường cổ phiếu đối với tài sản
4 Các vấn đề nảy sinh trong hệ thống ngân hàng
5 Mất cân bằng tài khóa của chính phủ
1) Gia tăng lãi suất
Những tổ chức và cá nhân có các dự án đầu tư rủi ro cao nhất chính
là những người sẵn sàng trả lãi suất cao nhất Nếu lãi suất trên thị trường
Trang 7được nâng lên một cách đáng kể do nhu cầu tín dụng gia tăng hoặc là do sụt giảm về cung tiền, thì những khách hàng có rủi ro tín dụng thấp (good credit risk) khó có khả năng mong muốn được vay, trong khi những khách hàng khác có độ rủi ro tín dụng cao (bad credit risk) lại vẫn sẵn sàng đi vay
Do có hệ quả là gia tăng khả năng hiện tượng lựa chọn ngược, những đơn
vị cho vay sẽ không còn muốn cho vay vốn nữa Sự sụt giảm lớn về cho vay sẽ dẫn tới sự sụt giảm lớn về đầu tư và hoạt động chung của nền kinh tế
2) Gia tăng bất ổn
Một sự tăng lên đáng kể trong tính bất ổn của thị trường tài chính có thể là do sự đổ vỡ của các tổ chức tài chính hoặc phi tài chính hàng đầu, hoặc là sự suy thoái, hoặc sự sụp đổ của thị trường chứng khoán; tất cả đều khiến cho người cho vay phải soi xét phân biệt tín dụng tốt và tín dụng xấu
Sự bất lực của những người cho vay trong việc giải quyết vấn đề lựa chọn cho vay để tránh tình trạng hiện tượng lựa chọn ngược khiến cho họ không còn sẵn sàng cho vay nữa; và điều đó dẫn tới sự sụt giảm trong cho vay, đầu tư, cũng như hoạt động kinh tế chung
3) Tác động thị trường cổ phiếu đối với tài sản
Bảng cân đối kế toán, bao gồm tài sản, của một công ty có những ý nghĩa quan trọng đối với vấn đề bất đối xứng thông tin trong hệ thống tài chính Một sự sụt giảm trên thị trường chứng khoán là một nhân tố có thể gây ra một sự suy thoái nghiêm trọng trong bảng cân đối kế toán của một công ty; và nó có thể làm tăng hiện tượng lựa chọn ngược và hiện tượng rủi
ro đạo đức trên thị trường tài chính và gây ra khủng hoảng tài chính Sự đi xuống của thị trường chứng khoán có nghĩa rằng giá trị tài sản ròng của các công ty đã sụt giảm, bởi vì giá cả của cổ phiếu là sự đánh giá về giá trị ròng của một công ty Việc giảm sút giá trị ròng do hậu quả của suy thoái thị
Trang 8trường cổ phiếu khiến cho người cho vay không sẵn sàng cho vay nữa bởi
vì giá trị ròng của công ty đóng một vai trò tương tự như tài sản thế chấp Khi giá trị của tài sản thế chấp giảm, có nghĩa người cho vay ít có sự bảo
vệ hơn, đồng nghĩa với sự mất mát về vốn cho vay có khả năng nghiêm trọng hơn Do những người cho vay bây giờ ít được bảo vệ hơn trước những hậu quả của hiện tượng lựa chọn ngược, họ giảm cho vay, từ đó gây
ra đầu tư và tổng sản lượng sụt giảm Bên cạnh đó, sự sụt giảm trong giá trị ròng công ty do hậu quả của thị trường cổ phiếu xuống dốc làm tăng thêm hiện tượng rủi ro đạo đức bằng cách tạo thêm những động lực cho các công
ty đi vay thực hiện những khoản đầu tư rủi ro, bởi vì họ sẽ không còn gì để mất nếu khoản đầu tư trở nên tồi tệ Việc gia tăng hiện tượng rủi ro đạo đức khiến cho việc cho vay kém hấp dẫn hơn-là một lý do khác giải thích tại sao một sự đi xuống của thị trường cổ phiếu và kéo theo là suy thoái trong giá trị tài sản ròng sẽ dẫn đến việc cho vay và hoạt động kinh tế giảm sút
4) Các vấn đề nảy sinh trong hệ thống ngân hàng
Các ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính bởi
vì họ được đặt đúng trong một vị trí liên quan vào những hoạt động sản xuất thông tin mà nó tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư hiệu quả trong nền kinh tế Trạng thái bảng cân đối kế toán của ngân hàng có một tác động quan trọng đối với hoạt động cho vay của ngân hàng Nếu các ngân hàng hứng chịu sự suy thoái trong bảng cân đối kế toán và vì thế bị giảm sút mạnh về vốn của mình, họ sẽ có ít nguồn lực hơn để cho vay, và hoạt động cho vay ngân hàng vì thế sẽ giảm Việc giảm sút cho vay tiếp theo dẫn tới suy giảm chi tiêu đầu tư, làm gián đoạn hoạt động kinh tế
Nếu suy thoái trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng là nghiêm trọng, các ngân hàng sẽ bắt đầu thất bại, và sự sợ hãi có thể lan rộng từ
Trang 9ngân hàng này sang ngân hàng khác, làm cho thậm chí các ngân hàng lớn cũng rơi vào trường hợp tương tự
5) Mất cân bằng tài khóa của chính phủ
Tại các nước mới nổi (Argentina, Brazil, Thổ Nhĩ Kỳ), mất cân bằng tài khóa của chính phủ có thể gây ra những lo ngại vỡ nợ chính phủ Kết quả là, chính phủ có thể gặp rắc rối trong viêc thuyết phục người dân mua trái phiếu của mình và vì thế họ có thể buộc các ngân hàng mua chúng Nếu khoản nợ khi đó sụt giảm về giá cả, là hiện tượng sẽ xảy ra khi khả năng vỡ
nợ của chính phủ là có thể - điều này có thể chủ yếu làm suy yếu bảng cân đối kế toán của ngân hàng và dẫn tới sự co lại về cho vay vì những lý do nói trên Lo lắng về vỡ nợ chính phủ cũng có thể làm bùng phát một khủng hoảng ngoại hối trong đó giá trị của đồng nội tệ giảm đi nhanh chóng bởi vì các nhà đầu tư rút tiền của mình ra khỏi đất nước Sự suy giảm trong giá trị đồng nội tệ sau đó sẽ dẫn tới sự hủy hoại bảng cân đối kế toán của các công
ty có lượng tiền lớn được định giá bằng ngoại tệ Vấn đề bảng cân đối kế toán dẫn tới một sự tăng lên của hiện tượng lựa chọn ngược và hiện tượng rủi ro đạo đức, sụt giảm cho vay, và suy thoái hoạt động kinh tế
PHẦN 2: HẬU QUẢ CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TOÀN CẦU
1) Phá hoại lực lượng sản xuất và làm rối loạn lĩnh vực lưu thông
- Phá hoại lực lượng sản xuất: phá hủy các tư liệu sản xuất, hàng hóa tiêu dùng
Khủng hoảng năm 1929 -1933 là một ví dụ rõ nét mà mỗi lần nhắc lại nhiều người còn ám ảnh : 13 vạn công ty phá sản , sản lượng thép sụt 76% , sản lượng sắt sụt 79,4% , sản lưọng ôtô sụt 80% Phá huỷ một khối lượng khổng lồ các các phương tiện sản xuất và hàng
Trang 10hoá tiêu dùng Năm 1931 , ở Mĩ người ta đã phá huỷ những lò cao
có thể sản xuất ra 1 triệu tấn thép trong một năm , đánh đắm 124 tàu biển ( trọng tải khoảng 1 triệu tấn ) , phá bỏ ¼ tổng diện tích trồng bông, giết và không sử dụng 6,4 triệu con lợn Còn ở Braxin năm 1933: 22 triệu bao cà phê bị liệng xuống biển và ở Xâylan gần 100
triệu kg chè bị đốt vv ( Số liệu sách lịch sử 11 – NXB Giáo Dục )
- Sản xuất công nghiệp: sản xuất công nghiệp của thế giới trung bình giảm 38 % , riêng Mĩ giảm 46%, Đức chịu tốc độ âm 47%, riêng ở
Mĩ đã có 13 vạn công ty bị phá sản
- Tài chính: hàng nghìn nhà băng bị đóng cửa Riêng ở Mĩ 10 vạn công ngân hàng phá sản chiếm 40% tổng số ngân hàng của thế giới
- Nông nghiệp: Hàng triệu ha cây trồng đã bị phá Riêng ở Mĩ có 75% nông trại đã bị phá sản, người ta đã giết hàng triệu con gia súc và
đổ xuống biển hàng trăm triệu lít sữa
- Cuộc khủng hoảng kinh tế đã đẩy nền kinh tế tư bản bước vào tình trạng tiêu điều và gây nên những hậu quả cực kì nghiêm trọng:
● Hàng chục triệu công nhân bị thất nghiệp Ở Mỹ, năm 1929 có 3% thất nghiệp trong tổng số người lao động, đến năm 1933
đã lên tới 25% Hàng triệu nông dân bị phá sản, đời sống của những người lao động hết sức cùng cực Số người có việc làm thì bị giới chủ tăng ngày làm việc, giờ làm và bị giảm lương
Hệ quả của điều đó là sự phản kháng của họ và làm bùng nổ phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân
● Từ năm 1929 - 1932: trong 15 nước tư bản đã có tới 18 nghìn cuộc bãi công của công nhân với sự tham gia của 8,5 triệu người
Trang 11● Khủng hoảng kinh tế đã đe dọa nền thống trị của chủ nghĩa tư bản ở các nước vì vậy đòi hỏi các nước phải tìm con đường để giải quyết hậu quả của khủng hoảng kinh tế
● Đối với các nước có nhiều thuộc địa như Anh, Pháp, Mĩ thì tìm cách đưa hàng sang các nước thuộc địa hoặc rút vốn đầu
tư ở các thuộc địa
● Đối với các nước có ít thuộc địa như Đức, Nhật thì tìm cách phát xít hóa bộ máy chính quyền, tăng cường chạy đua vũ trang gây lại Chiến tranh thế giới (ở Đức năm 1933, Hít-le lên cầm quyền thiết lập chế độ phát xít Ở Nhật năm 1936 chính quyền phát xít cũng được thiết lập) Sự ra đời của trục phát xít Ber-lin - Rôma -Tôkyô đã làm cho mâu thuẫn của chủ nghĩa
đế quốc ngày càng gay gắt làm bùng nổ nguy cơ của cuộc đại chiến thế giới thứ hai
- Làm rối lọan lĩnh vực lưu thông: hàng hóa dư thừa, phải phá hủy trong khi nhu cầu không được đáp ứng, lạm phát
Cùng với viêc phá huỷ như vậy, cuộc sống của người lao động cũng ngày càng khó khăn Sau 7 năm tính từ cuộc khủng hoảng 1929 -1933, mà tỉ lệ thất nghiệp của Mĩ vẫn ở mức 14,6% , mấy năm kế tiếp tuy có giảm nhưng vẫn còn ở mức rất cao
Mặt khác khủng hoảng kinh tế đã gây ra nạn lạm phát Khủng hoảng 1974-1975 và khủng hoảng 1980- 1982 làm cho khu vực Tây Âu phải đối đầu với tỉ lệ lạm phát ở mức 2 con số Tỉ lệ lạm phát ở Tây Đức tuy tháp nhất nhưng cũng là từ 2,6 ( năm 1960) lên 6,5 (từ năm 1974-1975 ) Pháp
từ 4,1 lên 12,7 , Anh từ 4 lên 20,1 , Italia 3,9 lên 18 ( Tài liệu sách tham khảo “ kinh tế các nước công nghiệp chủ yếu sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 ).
Trang 122) Đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung TB là điều kiện để dẫn tới độc quyền
Trong thời kỳ khủng hỏang, cùng với sự phá sản của các nhà tư bản nhỏ là sự lớn mạnh của các công ty khổng lồ Việc phá sản và việc sát nhập của các liên doanh, tập đoàn , công ty đã làm cho qúa trình tập trung
tư bản ngày càng cao
Truớc khủng hoảng 29-33 , Mĩ chỉ có 49 xí nghiệp có quy mô từ một vạn người trở lên thì sau khủng hoảng con số này lên tới 343 Cũng ở Mĩ , đầu thế kỉ 20 chỉ có một công ty có số vốn 1 tỷ USD thì đến đầu 1950 là 2 công
ty ; năm 1974 có 24 trong số 49 công ty quốc tế có số vốn 5tỷ
Lợi nhuận của 500 tổ chức siêu độc quyền của Mĩ năm 1972 là 27,8 tỷ USD , năm 1973 là 38,7 tỷ USD còn năm 1974 là năm khủng hoảng thì đã lên tới 43,6 tỷ USD Tỷ suất lợi nhuận của 12 công ty “toàn cầu” của Mĩ
tăng từ 11% năm 1970 sau khủng hoảng là 41% ( năm 1975) ( Sách tham khảo “ kinh tế các nước công nghiệp chủ yếu sau chiến tranh thế giới thứ 2 – NXB Chính trị quốc gia )
3) Cùng với quá trình tích tụ và tập trung tư bản là việc gia tăng khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn và làm mâu thuẫn giữa tư bản và người lao động ngày càng gay gắt.
Khi tư liệu sản xuất tập trung hầu hết vào tay các ông chủ tư bản thì việc bóc lột và bần cùng hoá công nhân càng diễn ra ráo riết hơn , mạnh mẽ hơn Lợi dụng thất nghiệp do nhiều nhà máy đóng cửa, các ông chủ tư bản hạ thấp tiền luơng nguời công nhân, tăng cuờng độ làm việc… Sự tập trung tư liệu sản xuất vào tay tư bản càng cao nên càng tăng thêm sự đối lập lợi ích ,