BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG Khoa: Lý luận Chính trị TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ Đề tài: Tiền tệ và các công cụ lưu thông, thanh toán như tiền tệ; vai trò của các c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Khoa: Lý luận Chính trị TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Đề tài: Tiền tệ và các công cụ lưu thông, thanh toán như tiền tệ; vai trò của các công
cụ này trong nền kinh tế thị trường Tên sinh viên: Phan Thị Kim Chi Lớp: Anh 03 Kinh Doanh Quốc Tế- TRI115.2
Khóa: K60 MSSV: 2114510012 Giáo viên hướng dẫn: Đinh Thị Quỳnh Hà
Hà Nội, năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN 4
I TIỀN TỆ 4
1 Nguồn gốc và bản chất của tiền tệ 4
2 Các chức năng của tiền tệ 5
II CÁC CÔNG CỤ LƯU THÔNG, THANH TOÁN NHƯ TIỀN TỆ 6
1 Khái niệm 6
2 Các công cụ lưu thông trên thị trường tiền tệ 6
3 Các công cụ thanh toán trên thị trường 9
4 Mục đích, ý nghĩa 9
CHƯƠNG II: VAI TRÒ CỦA CÁC CÔNG CỤ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 10
I XU HƯỚNG SỬ DỤNG CÔNG CỤ THANH TOÁN NHƯ TIỀN MẶT TRÊN THẾ GIỚI 10
II THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÔNG CỤ THANH TOÁN NHƯ TIỀN TỆ TẠI VIỆT NAM 10
III VAI TRÒ CỦA CÁC CÔNG CỤ THANH TOÁN NHƯ TIỀN TỆ 12
1 Đối với cá nhân 12
2 Đối với tổng thể kinh tế 12
CHƯƠNG 3: THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP CHO CÁC CÔNG CỤ LƯU THÔNG, THANH TOÁN NHƯ TIỀN TỆ 13
I THÁCH THỨC CỦA SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ THANH TOÁN, LƯU THÔNG NHƯ TIỀN TỆ 13
II GIẢI PHÁP CHO NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA TTKDTM 14
KẾT LUẬN 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta kể từ khi thành lập đến nay đã trải qua biết bao hình thái kinh tế xã hội, từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp quan liêu sang đến nền kinh
tế thị trường như hiện nay Mỗi một giai đoạn là sự phát triển, đổi mới không ngừng các chính sách của nhà nước nhằm đưa đất nước đi lên theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, biến nền kinh tế của nước ta trở thành một nền kinh tế vững chắc và hiện đại Và trong nền kinh tế đó, một nhân tố quan trọng không thể bỏ qua là tiền tệ Tiền tệ không chỉ là công cụ giúp hàng hóa được lưu thông, trao đổi mà bên cạnh đó, tiền tệ còn có một số chức năng khác như thước đo giá trị, phương tiện cất trữ Mỗi một chức năng của tiền tệ đều có vai trò nhất định trong nền kinh tế, góp phần thúc đẩy nền kinh tế ngày một phát triển hơn
Do đó, mục đích của bài tiểu luận này là nghiên cứu về chức năng của tiền tệ cũng như một số công cụ thanh toán, lưu thông như tiền tệ và chức năng của các công cụ đó trong nền kinh tế thị trường Qua đó ta có thể thấy được tầm quan trọng của tiền tệ và vai trò của nó trong nền kinh tế hiện nay Đặc biệt là khi đất nước đang bước vào quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa thì vai trò của các công cụ thanh toán ấy lại càng trở nên rõ ràng hơn Khi cuộc sống càng trở nên bận rộn, con người thường có xu hướng tìm kiếm những công cụ để tiết kiệm thời gian, và các công cụ thanh toán này chính là giải pháp hiệu quả nhất Vì vậy, bài tiểu luận này sẽ giúp ta có cái nhìn đúng đắn nhất về các chức năng của tiền
tệ và có cách sử dụng tiền tệ một cách hợp lí, hiệu quả
Trang 4CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1 Nguồn gốc và bản chất của tiền tệ
1.1 Nguồn gốc của tiền tệ
Lịch sử hình thành và phát triển của tiền tệ trải qua nhiều giai đoạn mà mỗi giai đoạn lại mang các đặc điểm khác nhau Trong lịch sử phát triển của loài người, lúc đầu con người sống thành bầy đàn, chưa có chiếm hữu tư nhân, chưa
có sản xuất và trao đổi hàng hóa nên chưa có tiền tệ Tuy nhiên ngay từ trong xã hội nguyên thủy đã xuất hiện mầm móng của của sự trao đổi Lúc đầu trao đổi mang tính chất đơn lẻ, ngẫu nhiên và được tiến hành trực tiếp vật này lấy vật khác Giá trị (tương đối) của một vật được xác định bởi giá trị sử dụng của một vật khác duy nhất đóng vai trò vật ngang giá Đây là hình thái sơ khai, C.Mac gọi là hình thái đơn giản hay ngẫu nhiên của giá trị Tương ứng với giai đoạn phát triển này của trao đổi là hình thái giá trị mở rộng Tham gia trao đổi bây giờ không phải là 2 loại hàng hóa mà là một loạt các loại hàng hóa khác nhau Đây là một bước phát triển mới, tiến bộ so với hình thái giá trị giản đơn
Phân công lao động xã hội và sản xuất phát triển thì hình thức trao đổi hàng hóa trực tiếp ngày càng bộc lộ các nhược điểm của nó Các hàng hóa chỉ được trao đổi với nhau khi các người chủ của nó có ý cùng muốn trao đổi, ý muốn trùng khớp Như vậy cùng với sự phát triển của sản xuất thì trao đổi trực tiếp ngày càng khó khăn và làm cho mâu thuẫn trong lao động, và phân hóa lao động ngày càng tăng Do đó đòi hỏi phải có một thứ hàng hóa đặc biệt đóng vai trò vật ngang giá chung có thể trao đổi được với nó Cuộc phân công lao động xã hội lần thứ hai xuất hiện thủ công nghiệp thoát khỏi nông nghiệp làm cho sản xuất hàng hóa phát triển và thị trường mở rộng Tình trạng nhiều hàng hóa có tác dụng vật ngang giá chung phát sinh mâu thuẫn với nhu cầu ngày càng tăng của thị trường, đòi hỏi phải thống nhất một vật ngang giá đơn nhất Khi vật ngang giá chung cố định ở một loại hàng hóa thì sinh ra hình thái tiền tệ Khi đó tất cả các loại hàng hóa được biểu hiện giá trị của nó trong một thứ hàng hóa, thứ hàng hóa đó trở thành vật ngang giá chung Như vậy tiền tệ xuất hiện sau một quá trình phát triển lâu dài của trao đổi và của các hình thái giá trị Tóm lại tiền tệ là một phạm trù lịch sử, nó là sản phẩm tự phát của nền kinh tế hàng hóa, sản phẩm của sự phát triển các hình thái giá trị Đồng thời cũng là sản phẩm của sự phát
Trang 5triển mâu thuẫn giữa lao động và phân công lao động xã hội trong sản xuất hàng hóa Sự ra đời và phát triển của tiền tệ gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa
1.2 Bản chất của tiền tệ
Như vậy, tiền, về bản chất, là một loại hàng hóa đặc biệt, là kết quả của quá trình phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa, tiền xuất hiện là yếu tố ngang giá chung cho thế giới hàng hóa Tiền là hình thái biểu hiện giá trị của hàng hóa Tiền phản ánh lao động xã hội và mối quan hệ giữa những người sản xuất và trao đổi hàng hóa
2 Các chức năng của tiền tệ Thông qua các chức năng của tiền tệ, bản chất của tiền tệ mới được hiểu một cách đầy đủ Theo C.Mac, tiền tệ có năm chức năng cơ bản sau đây:
2.1.Chức năng thước đo giá trị
Khi thực hiện chức năng thước đo giá trị, tiền được dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của tất cả các hàng hóa khác nhau Để đo lường giá trị của các hàng hóa, tiền cũn phải có giá trị Vì vậy để thực hiện chức năng thước đo giá trị người ta ngầm hiểu đó là tiền vàng Sở dĩ như vậy là vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hóa trong thực tế đã phản ánh lượng hao phí lao động xã hội nhất định
2.2.Phương tiện lưu thông
Khi thực hiện chức năng phương tiện lưu thông, tiền được dùng làm môi giới cho quá trình trao đổi hàng hóa Để phục vụ lưu thông hàng hóa, ban đầu nhà nước đúc vàng thành những đơn vị tiền tệ nhất định, sau đó là đúc tiền bằng kim loại Dần dần, xã hội nhận thấy, để thực hiện chức năng phương tiện lưu thông, không nhất thiết phải dùng tiền vàng, mà chỉ cần tiền ký hiệu giá trị Từ
đó tiền giấy ra đời và sau này là các loại tiền ký hiệu giá trị khác như tiền kế toán, tiền séc, tiền điện tử, gần đây với sự phát triển của thương mại điện tử, các loại tiền ảo xuất hiện( bitcoin) và đã có quốc gia chấp nhận bitcoin là phương tiện thanh toán Trong tương lai, có thể nhân loại sẽ phát hiện ra những loại tiền khác nữa để giúp cho việc thanh toán trong lưu thông trở nên thuận tiền
Tiền giấy ra đời giúp trao đổi hàng hóa được tiến hành dễ dàng, thuận lợi và ít
tốn kém hơn tiền vàng, tiền kim loại Tuy nhiên, tiền giấy chỉ là ký hiệu giá trị, bản thân chúng không có giá trị thực nên nhà nước phải in và phát hành số lượng
Trang 6tiền giấy theo yêu cầu của quy luật lưu thông tiền tệ, không thể phát hành tùy tiện Nếu in và phát hành quá nhiều tiền giấy sẽ làm cho giá trị của đồng tiền giảm xuống, kéo theo lạm phát xuất hiện
2.3.Phương tiện cất trữ
Tiền là đại diện cho giá trị, đại diện cho của cải nên khi tiền xuất hiện, thay
vì cất trữ hàng hóa, người dân có thể cất trữ bằng tiền Lúc này tiền được rút ra khỏi lưu thông,đi vào cất trữ dưới hình thái vàng, bạc và sẵn sàng tham gia lưu thông khi cần thiết
2.4.Phương tiện thanh toán
Khi thực hiện chức năng thanh toán, tiền được dùng để trả nợ, trả tiền mua chịu hàng hóa Chức năng phương tiện thanh toán của tiền gắn liền với chế độ tín dụng thương mại, tức mua bán thông qua chế độ tín dụng, thanh toán không dùng tiền mặt mà chỉ dùng tiền trên sổ sách kế toán, hoặc tiền trong tài khoản, tiền ngân hàng, tiền điện tử
2.5.Tiền tệ thế giới
Khi trao đổi hàng hóa mở rộng ra ngoài biên giới quốc gia, tiền làm chức năng tiền tệ thế giới Lúc này tiền được dùng làm phương tiện mua bán, thanh toán quốc tế giữa các nước với nhau Để thực hiện chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải là tiền vàng hoặc những đồng tiền được công nhận là phương tiện thanh toán quốc tế
II CÁC CÔNG CỤ LƯU THÔNG, THANH TOÁN NHƯ TIỀN TỆ
1 Khái niệm
Các công cụ lưu thông, thanh toán trên thị trường như tiền tệ là các công cụ thanh toán thông qua các phương tiện khác không phải dùng tiền mặt như tài sản, chứng chỉ có giá trị tương đương
Nghĩa là người tiêu dùng có thể sử dụng các giấy tờ có giá trị( chứng khoán, chứng chỉ tiền mặt), tài sản hữu hình( không phải vàng, bạc) để thanh toán, nhưng chủ yếu thông qua các tổ chức tín dụng thay vì người tiêu dùng và người bán trao đổi trực tiếp như hiện nay
2 Các công cụ lưu thông trên thị trường tiền tệ
Các công cụ lưu thông trên thị trường tiền tệ có đặc điểm chung là kỳ hạn thanh toán ngắn, tính thanh khoản cao và độ rủi ro thấp Chúng bao gồm các loại chủ yếu sau:
2.1 Tín phiếu kho bạc
Trang 7Tín phiếu kho bạc là giấy vay nợ ngắn hạn của Chính phủ do Kho bạc nhà nước phát hành để bù đắp cho những thiếu hụt ngân sách tạm thời của Nhà nước Tín phiếu kho bạc thuộc lại chứng khoán chiết khấu Đó là loại chứng khoán không được nhà phát hành trả lãi song lại được bán với giá chiết khấu tức là giá thấp hơn mệnh giá Khi đến hạn, nhà đầu tư được nhận lại đủ mệnh giá, vì vậy phần chênh lệch giữa mệnh giá chứng khoán và giá mua chứng khoán chính là lãi của nhà đầu tư
Tín phiếu kho bạc được xem là công cụ tài chính có độ rủi ro thấp nhất trên thị trường tiền tệ bởi hầu như không có sự vỡ nợ từ người phát hành, tức là không có chuyện Chính phủ không có khả năng thanh toán khoản nợ khi đến kỳ hạn, tuy nhiên mức lãi suất của nó thường thấp hơn các công cụ lưu thông khác trên thị trường tiền tệ
Tín phiếu kho bạc được phát hành theo lô theo phương pháp đấu giá Người mua chủ yếu là ngân hàng và các công ty Tín phiếu kho bạc được xem là có tính lỏng cao nhất
2.2 Các chứng chỉ tiền gửi có thể chuyện nhượng được
Do các ngân hàng phát hành, cam kết trả lãi định kỳ theo khoản tiền gửi và sẽ hoàn trả vốn gốc cho người gửi tiền khi đến ngày đáo hạn Lúc đầu, các chứng chỉ tiền gửi không được phép bán lại và nếu người gửi tiền rút vốn trước hạn sẽ phải chịu phạt Tuy nhiên sau này các ngân hàng đã cho phép các chứng chỉ tiền
có mệnh giá lớn được phép bán lại, thậm chí bán cho các nhà phát hành Khi đó chúng được gọi là các chứng chỉ có thể chuyển nhượng (NCDs) NCDs thường được các ngân hàng dùng để gọi vốn từ các công ty, quỹ hỗ trợ, tổ chức
2.3 Thương phiếu
Thương phiếu (commercial paper) là những giấy nhận nợ do các công ty có uy tín phát hành để vay vốn ngắn hạn từ thị trường tài chính Thương phiếu được phát hành theo hình thức chiết khấu, tức là được bán với giá thấp hơn mệnh giá Chênh lệch giữa giá mua và mệnh giá thương phiếu chính là thu nhập của người
sở hữu thương phiếu
Những thương phiếu nguyên thuỷ (commercial bill) chỉ xuất hiện trong các hoạt động mua bán chịu hàng giữa các công ty kinh doanh với nhau Nó có thể
do người bán chịu hay người mua chịu hàng hoá phát hành nhưng bản chất vẫn
là giấy xác nhận quyền đòi tiền khi đến hạn của người sở hữu thương phiếu
Trang 8Ngày nay, thương phiếu được phát hành không chỉ trong quan hệ mua bán chịu hàng hoá mà còn được phát hành để vay vốn trên thị trường tiền tệ
2.4 Chấp phiếu ngân hàng
Chấp phiếu ngân hàng (Banker's Acceptances) là giấy cam kết của một ngân hàng trả một khoản tiền nhất định cho người nắm giữ chấp phiếu vào một ngày nhất định được ghi rõ trên chấp phiếu
Chấp phiếu ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc tài trợ cho các giao dịch mua bán chịu hàng hóa quốc tế Khi mà các đối tác chưa biết rõ về nhau, chấp phiếu ngân hàng là một phương tiện đảm bảo chắc chắn khoản tiền thanh toán tiền hàng của bên bán sẽ được ngân hàng bên mua đảm bảo trả thay cho khách hàng của mình Vì vậy chấp phiếu ngân hàng còn được gọi là thuận nhận ngân hàng
Chấp phiếu ngân hàng sau khi được phát hành cho đến khi đáo hạn có thể được giao dịch trên thị trường tiền tệ thông qua phương thức chiết khấu, tương
tự như tín phiếu kho bạc hay thương phiếu
2.5 Hợp đồng mua lại
Hợp đồng Repo (Repurchase Agreement) hay còn gọi là thỏa thuận mua lại
là hợp đồng mua bán chứng khoán với cam kết của người bán sẽ mua lại chứng khoán đó từ người mua với một mức giá cụ thể vào một ngày cụ thể trong tương lai
Cả giá bán và giá mua (mua lại) đều được xác định trong hợp đồng Về mặt bản chất, thỏa thuận mua lại là một khoản vay có tài sản thế chấp, trong đó tài sản thế chấp là các công cụ thị trường tiền tệ, chứng khoán kho bạc, các chứng khoán bảo đảm bằng hợp đồng thế chấp, các chứng khoán bảo đảm bằng tài sản, thậm chí là các loại cổ phiếu
Chênh lệch giữa giá mua lại và giá bán chính là tiền lãi của khoản vay Việc xác định giá mua lại căn cứ trên lãi suất repo được thỏa thuận với khách hàng
2.6 Quỹ liên bang
Các quỹ liên bang (FEDERAL FUNDS) là những khoản vay không được bảo đảm bởi các quỹ có sẵn từ số dư vượt mức trong các tài khoản dự trữ giữ tại Ngân hàng Dự trữ Liên bang, về mặt kỹ thuật, các quỹ Fed không phải là khoản vay mượn nhưng là việc mua các khoản dự trữ của ngân hàng Một ngân hàng tạm ứng quỹ Fed dự trữ vượt mức; một ngân hàng nhận các quỹ Fed mua khoản
dự trữ từ ngân hàng bán Mặc dù hầu hết việc mua bán quỹ Fed được thực hiện
Trang 9trên cơ sở qua đêm, nhưng một số mua bán được thương lượng với các kỳ hạn dài hơn như các quỹ Fed Kỳ hạn Thuật ngữ các quỹ liên bang cũng để cập đến
số tiền mà một đối tác dành cho bên kia để sử dụng ngay Một vài thương vụ được mô tả như “phải trả trong quỷ liên bang” Ngược với quy trung tâm thanh toán bù trừ
3 Các công cụ thanh toán trên thị trường
3.1.Thanh toán sử dụng giấy ủy nhiệm chi
Đây là hình thức thanh toán qua ngân hàng bằng giấy ủy nhiệm Giấy ủy nhiệm là một lệnh chi/thu theo mẫu của ngân hàng, yêu cầu ngân hàng đó chi hoặc thu cho người được ghi trên giấy ủy nhiệm một số tiền nhất định
3.2 Thanh toán sử dụng séc
Séc là chứng từ thanh toán ghi nhận lệnh trả tiền của chủ tài khoản hoặc người đại diện, của chủ tài khoản được lập trên mẫu in sẵn theo thể thức luật đinh Theo đó, tổ chức quản lý tài khoản trích một khoản tiền từ tài khoản tiền gửi thanh toán vô điều kiện để trả cho người thụ hưởng có tên ghi trên séc
3.3 Thanh toán qua thẻ ngân hàng
Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán được tích hợp nhiều tính năng gồm chuyển tiền, rút tiền, thanh toán hóa đơn, tiết kiệm và thực hiện các giao dịch liên kết với các ứng dụng điện tử
Khách hàng có thể dùng thẻ ngân hàng để thanh toán khi mua hàng mà không cần dùng tiền mặt Thẻ ngân hàng được chia làm 3 loại: thẻ trả trước, thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ
3.4.Thanh toán trực tuyến
Hình thức thanh toán trực tuyến hiện nay vô cùng đa dạng và phong phú bao gồm một số hình thức chủ yếu như internet banking, mobile banking, ví điện tử (zalo pay, vietel pay, momo, shopee pay,…), mobile money,…
4 Mục đích, ý nghĩa
Bản chất của các công cụ lưu thông, thanh toán như tiền tệ là hạn chế lượng tiền mặt lưu thông trong nền kinh tế, giảm thiểu chi phí xã hội Hoạt động này sẽ trực tiếp làm giảm số tiền mặt đang lưu hành trên thị trường
Người tiêu dùng có thể sử dụng các dịch vụ thu chi, thẻ ngân hàng, thanh toán trực tuyến mà không làm thay đổi giá trị tiền mặt tương đương Có sự xuất hiện của tiền mặt hay không chính là sự khác biệt lớn nhất giữa tiền tệ và các laoij công cụ lưu thông, thanh toán khác
Trang 10Hoạt động này sẽ mang lại lợi ích cho người tham gia: người tiêu dùng, người bán hàng, tổ chức tín dụng và tổng thể nền kinh tế
CHƯƠNG II: VAI TRÒ CỦA CÁC CÔNG CỤ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
TRÊN THẾ GIỚI
Nhờ sự phổ biến của internet và điện thoại thông minh, cùng với sự tác động mạnh mẽ của Covid-19 đã đẩy nhanh việc áp dụng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) khi hầu như các nhà bán lẻ đã chuyển sang thanh toán không tiếp xúc Theo nghiên cứu của Futurist Group, khoảng 38% người tiêu dùng hiện đang xem việc không tiếp xúc là một tính năng cơ bản của việc thanh toán Báo cáo của Juniper Research cho biết một nửa dân số thế giới
sẽ sử dụng ví điện tử vào năm 2024
Trong khi đó, theo thống kê của Capgemini, với tốc độ tăng trưởng gần 25%, châu Á - Thái Bình Dương dẫn đầu xu hướng TTKDTM trên toàn cầu với khối lượng kỷ lục là 243,6 tỷ USD vào năm 2019, do sự gia tăng nhanh chóng của điện thoại thông minh, sự bùng nổ mạnh mẽ của thương mại điện tử
(TMĐT), việc áp dụng ví điện tử cùng với thanh toán di động và mã QR Khối lượng TTKDTM của châu Âu đã tăng hơn 12% từ năm 2018 -2019 Các nước không thuộc Liên minh châu Âu đã tăng hơn 19% Trung Đông và châu Phi (MEA) tăng trưởng 19% Châu Mỹ Latinh tăng 18%, trong khi tốc độ tăng
trưởng của Bắc Mỹ ổn định ở mức 6%
Cùng với sự bùng nổ của xu hướng TTKDTM, doanh số của TMĐT cũng
có sự gia tăng đáng kể, bất chấp ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 Theo đó, doanh số TMĐT toàn cầu đã tăng từ 3.535 tỷ USD năm 2019 lên ước tính 4.206
tỷ USD vào năm 2020 Xu hướng này dự kiến sẽ tăng thêm 700 tỷ USD vào năm
2021 (theo thống kê của VpnMentor)
II THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÔNG CỤ THANH TOÁN NHƯ TIỀN TỆ TẠI VIỆT NAM
Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước và Công ty Cổ phần Thanh toán quốc gia Việt Nam, trong hoạt động thanh toán, đặc biệt là TTKDTM và thanh toán dịch vụ công trong quý 3/2020 tiếp tục xu hướng tăng trưởng mạnh