1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN GIỮA HK1 đề tài rối loạn căng thẳng sau sang chấn (posttraumatic stress disorder)

59 22 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rối Loạn Căng Thẳng Sau Sang Chấn (Posttraumatic Stress Disorder)
Người hướng dẫn Bác Sĩ Phan Thiệu Xuân Giang
Trường học Đại Học Quốc Gia Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Tâm lý học thần kinh
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 700,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM PTSD (8)
  • CHƯƠNG 2: TỶ LỆ LƯU HÀNH CỦA PTSD/ TÌNH HÌNH RỐI LOẠN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM (9)
    • 2.1. Trên thế giới (9)
    • 2.2. Ở Việt Nam (9)
  • CHƯƠNG 3: TRIỆU CHỨNG CỦA PTSD (14)
  • CHƯƠNG 4: CÁC TIÊU CHÍ CHẨN ĐOÁN (16)
    • 4.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn stress sau sang chấn theo DSM-5 (0)
    • 4.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn stress sau sang chấn theo ICD-10 (0)
    • 4.3. Chẩn đoán Phân biệt (0)
  • CHƯƠNG 5: CƠ CHẾ BỆNH SINH (22)
    • 5.1. Cơ chế bệnh sinh theo các học thuyết tâm lý học (22)
      • 5.1.1. Mô hình điều kiện hóa (0)
      • 5.1.2. Mô hình nhận thức (0)
        • 5.1.2.1. Mô hình nhận thức xã hội (0)
        • 5.1.2.2. Mô hình xử lý thông tin (0)
      • 5.1.2. Mô hình tâm lý-xã hội (0)
    • 5.2. Cơ chế bệnh sinh theo các học thuyết tâm lý học thần kinh (24)
      • 5.2.1 Nội tiết thần kinh (0)
      • 5.2.2. Hóa chất thần kinh (26)
      • 5.2.3. Cấu trúc não (28)
        • 5.2.3.1 Đối với hạch hạnh nhân (29)
        • 5.2.3.2. Đối với vỏ não trước trán (29)
        • 5.2.3.3. Đối với hồi hải mã (30)
  • CHƯƠNG 6: PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ (31)
    • 6.1. Tâm lý trị liệu (Psychotherapy) (31)
      • 6.1.1.3. Stress tiêm chủng đào tạo (Stress Inoculation Training – SIT) (0)
      • 6.1.1.4. Liệu pháp nhận thức (Cognitive therapy - CT) (36)
    • 6.2. Những loại can thiệp PTSD khác, không thuộc CBT (36)
      • 6.2.1. Liệu pháp giải mẫn cảm chuyển động nhãn cầu và tái xử lý thông tin (Eye (0)
      • 6.2.2. Liệu pháp tập trung hiện tại ( Present Centered Therapy – (PCT) (37)
    • 6.3. Điều trị bằng thuốc (Medication) (38)
      • 6.3.1. Thuốc chống trầm cảm (38)
      • 6.3.2. Các thuốc khác (40)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (43)
  • PHỤ LỤC (48)

Nội dung

KHÁI NIỆM PTSD

Rối loạn căng thẳng sau chấn thương tâm lý (PTSD) là một rối loạn tâm thần xảy ra ở những người đã trải qua hoặc chứng kiến các sự kiện đau thương như thiên tai, tai nạn nghiêm trọng, khủng bố, chiến tranh, hiếp dâm, hoặc những tình huống đe dọa đến tính mạng Theo Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ (APA), PTSD trước đây từng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như "sốc đạn pháo" trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và "mệt mỏi chiến đấu" sau Thế chiến thứ hai.

Người mắc PTSD trải qua những suy nghĩ và cảm xúc mạnh mẽ liên quan đến trải nghiệm đau thương, kéo dài lâu sau khi sự kiện kết thúc Họ có thể hồi tưởng lại sự kiện qua ác mộng hoặc ký ức, đồng thời cảm thấy buồn bã, sợ hãi hoặc tức giận Cảm giác tách biệt và xa lánh với người khác cũng thường xảy ra Những người này có xu hướng tránh né những tình huống hoặc người nhắc nhở họ về sự kiện đau thương, và có thể phản ứng mạnh mẽ với những yếu tố bình thường như tiếng ồn lớn hoặc va chạm bất ngờ.

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com

TỶ LỆ LƯU HÀNH CỦA PTSD/ TÌNH HÌNH RỐI LOẠN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

Trên thế giới

Trên toàn cầu, khoảng 350 triệu người đang mắc rối loạn PTSD, với tỷ lệ trọn đời trung bình là 7,3% và tỷ lệ mắc trong vòng 12 tháng dao động từ 1 đến 9% Tại Hoa Kỳ, nghiên cứu NCS-R cho thấy tỷ lệ mắc PTSD trọn đời là 3,6% ở nam và 9,7% ở nữ, trong khi tỷ lệ mắc trong vòng 12 tháng là 1,8% ở nam và 5,2% ở nữ Trẻ em và thanh thiếu niên có nguy cơ mắc PTSD cao hơn người trưởng thành, với tỷ lệ 3,7% ở nam và 6,3% ở nữ.

Theo khảo sát Sức khỏe Tâm thần Thế giới (WMH), tỷ lệ mắc PTSD trọn đời ở một số quốc gia được ghi nhận như sau: Nam Phi (2,3%), Tây Ban Nha (2,2%), Ý (2,4%), Nhật Bản (1,8%), New Zealand (6,1%), Đức (2,9%), Trung Quốc (1,3%) và Bắc Ireland với tỷ lệ cao nhất là 8,8%.

Theo Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ (APA), 1 trong 11 người sẽ được chẩn đoán mắc rối loạn stress sau sang chấn trong suốt cuộc đời Tỷ lệ mắc rối loạn này ở nữ giới cao gấp 2 lần so với nam giới, trong khi cựu chiến binh và những người xin tị nạn có nguy cơ mắc cao hơn gấp 10 lần so với những người bình thường.

Ở Việt Nam

Mặc dù gần đây, sự quan tâm của cộng đồng đối với sức khỏe tinh thần đã gia tăng và có nhiều cải thiện rõ rệt, nhưng các nghiên cứu vẫn chỉ ra rằng vấn đề này vẫn cần được chú trọng hơn nữa.

Tài liệu TIEU LUAN MOI có thể tải về qua địa chỉ skknchat@gmail.com Hiện tại, việc khảo sát các vấn đề tâm lý, bao gồm cả PTSD, vẫn chưa được thực hiện và công bố rộng rãi Nhóm nghiên cứu đã nỗ lực tìm kiếm và tiếp cận các số liệu từ những nguồn đáng tin cậy để cung cấp cái nhìn tổng quan về tỷ lệ lưu hành PTSD tại Việt Nam, từ đó tạo nền tảng cho các nghiên cứu và ý kiến trong tương lai.

Một nghiên cứu dịch tễ do Trung tâm Sức khỏe Tâm thần thực hiện năm 1998 tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy 0,56% dân số mắc PTSD Nghiên cứu năm 2001 chỉ ra rằng tỷ lệ này lên đến 6% ở nhóm người có nguy cơ cao, đặc biệt là những người từng sống ở các vùng chiến tranh.

Một nghiên cứu năm 2019, được thực hiện bởi Đại học Y tế Công cộng Hà Nội, Đại học Huế (Việt Nam) và Đại học Công nghệ Queensland (Australia), đã khảo sát 608 mẫu tại Huế về tỷ lệ mắc PTSD và các triệu chứng rối loạn lo âu khác, mang lại nhiều kết quả đáng chú ý.

Theo khảo sát, 6,9% người tham gia có triệu chứng PTSD, trong khi 14,8% những người đã trải qua chấn thương tâm lý mắc bệnh này Phụ nữ có xu hướng mắc PTSD nhiều hơn nam giới, nhưng tỷ lệ chênh lệch không quá lớn.

Bảng Tỷ lệ trầm cảm, lo âu và các triệu chứng PTSD theo giới tính ( Phơi

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiễm chấn thương và các vấn đề sức khỏe tâm thần ở người lớn ở miền Trung

Việt Nam: Điều tra ngẫu nhiên (2019)

Rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) từng là khái niệm xa lạ với nhiều người Việt Nam, nhưng sau đại dịch COVID-19, sức khỏe tinh thần trở nên được chú trọng hơn bao giờ hết PTSD ngày càng trở nên rõ ràng hơn ở những bệnh nhân COVID-19 vừa thoát khỏi tình trạng nguy kịch, những đứa trẻ mất cha/mẹ, các cặp vợ chồng phải chia ly vĩnh viễn, và cả những cảnh tượng đau thương như 'người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh' Đặc biệt, tình trạng này còn rất phổ biến ở các nhân viên y tế trực tiếp tham gia vào cuộc chiến chống dịch COVID-19.

Trong năm 2021, đã có một vài số liệu thống kê thể hiện tình trạng này.

Khảo sát thực hiện bởi Đại học Y Hà Nội trên 400 nhân viên y tế ở Bệnh viện

Trong khoảng thời gian từ khi bắt đầu tiếp nhận điều trị bệnh nhân nhiễm COVID-19, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình và Nhiệt đới Trung ương đã triển khai nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và đảm bảo an toàn cho bệnh nhân Các chuyên gia y tế tại hai cơ sở này đã phối hợp chặt chẽ trong việc chăm sóc và theo dõi sức khỏe của bệnh nhân, đồng thời áp dụng các phương pháp điều trị tiên tiến nhất để giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm và cải thiện tỷ lệ hồi phục.

31/05/2020 Số liệu cụ thể được thể hiện qua 2 bảng sau đây:

Stress sau sang chấn Có Không

Bảng 1: Phân bổ tỷ lệ stress sau sang chnn theo tronh đp chuyên môn cra nhân viên y tế

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com

Stress sau sang Bệnh viện đa khoa tỉnh Bệnh viện Nhiệt đới Tổng chấn Ninh Bonh trung ương n % n % n %

Bảng 2: Tỷ lệ stress sau sang chấn cra nhân viên y tế

Kết quả khảo sát cho thấy 17,5% nhân viên mắc rối loạn stress sau sang chấn, với tỷ lệ ở điều dưỡng cao hơn bác sĩ Thêm vào đó, một nghiên cứu của Học viện Quân y và Bệnh viện Quân y 103 trên 86 nhân viên tại trung tâm cách ly cho thấy tỷ lệ mắc PTSD là 5,81%, trong khi tỷ lệ mắc PTSD nghiêm trọng đạt 12,79%.

Trong thời gian chống dịch, nhân viên y tế phải chịu đựng khối lượng công việc lớn và áp lực nặng nề, đồng thời phải cách ly khỏi gia đình và xã hội Họ lo lắng về việc người thân có thể bị nhiễm bệnh và phải đối mặt với sự kỳ thị từ hàng xóm Cảm giác bất an khi theo dõi thông tin trên truyền thông càng làm tăng thêm áp lực Tất cả những yếu tố này đã dẫn đến việc stress sau sang chấn trở thành một vấn đề tâm lý nghiêm trọng đối với nhân viên y tế.

Không chỉ nhân viên y tế, mà cả bệnh nhân mắc Covid-19 và người thân của họ cũng phải đối mặt với những sang chấn tâm lý kéo dài sau đại dịch.

1 Theo nghiờn cứu của gần 48.000 bờ ênh nhõn sau khi hồi phục Covid-19, cú đến

55 triờ êu chứng vẫn cũn tồn tại lõu dài, trong đú cú cỏc triệu chứng của rối loạn stress sau căng thẳng (theo thành uỷ TP HCM).

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com

2 ThS.BS Bùi Văn San - Viện Sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai cho biết gần đây tỉ lệ bệnh nhân đi khám ngoại trú tại Viện Sức khỏe tâm thần tăng lên đáng kể, đạt khoảng 250 đến 300 người đi khám mỗi ngày, chủ yếu gặp những vấn đề về rối loạn lo âu, rối loạn giấc ngủ, căng thẳng lo lắng.

3 Theo GS.TS Huỳnh Văn Sơn - Hiệu trưởng ĐH Sư phạm TPHCM, đã có nghiên cứu tại một số quốc gia cho thấy, sau điều trị COVID-19 cứ 5 người thì có 1 người bị sang chấn và xuất hiện triệu chứng PTSD.

Các số liệu thống kê về tỷ lệ lưu hành của rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD) đã cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về tình trạng này Trong những phần tiếp theo, chúng ta sẽ khám phá một cách khoa học và chi tiết về cơ chế bệnh sinh cũng như các phương pháp điều trị hiệu quả cho PTSD.

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com

TRIỆU CHỨNG CỦA PTSD

PTSD như được định nghĩa hiện nay trong DSM-5, được đặc trưng bởi bốn cụm triệu chứng cốt lõi:

(1) Hồi ức tái diễn, không tự nguyện và xâm nhập về sự kiện

(2) Tránh các kích thích liên quan đến chấn thương,

(3) Thay đổi tiêu cực trong nhận thức hoặc tâm trạng liên quan đến sự kiện, hoặc tê liệt (hoặc cả hai)

(4) Thay đổi về kích thích và phản ứng, bao gồm cả mức độ nhạy cảm cao hơn đối với mối đe dọa tiềm ẩn

Các triệu chứng của PTSD được chia thành bốn loại Các triệu chứng cụ thể có thể khác nhau về mức độ nghiêm trọng (hình 3.1 phụ lục):

Xâm nhập (Intrusive) đề cập đến những ý nghĩ không mong muốn, như ký ức lặp đi lặp lại, giấc mơ buồn bã, hoặc hồi tưởng về những sự kiện đau thương Những hồi tưởng này có thể rất sống động, khiến người trải nghiệm cảm giác như đang sống lại những khoảnh khắc đau thương hoặc chứng kiến chúng ngay trước mắt.

Tránh nhắc nhở về sự kiện đau buồn thường liên quan đến việc xa lánh những người, địa điểm, hoạt động, đồ vật và tình huống có khả năng kích thích ký ức đau thương Nhiều người cố gắng không nhớ lại hoặc suy nghĩ về những sự kiện này, và họ có thể cảm thấy khó khăn khi nói về những gì đã xảy ra hoặc cảm xúc của mình liên quan đến chúng.

Các triệu chứng của sự kích thích và phản ứng tăng cao có thể bao gồm cảm giác cáu kỉnh và bộc phát tức giận, hành vi thiếu thận trọng hoặc tự hủy hoại bản thân, quan sát quá mức xung quanh một cách nghi ngờ, dễ bị giật mình, cũng như gặp khó khăn trong việc tập trung hoặc ngủ.

Nhiều người trải qua các triệu chứng tương tự như những gì đã nêu sau khi tiếp xúc với một sự kiện đau buồn Những cảm xúc này có thể kéo dài trong vài ngày sau sự kiện.

Đối với những người được chẩn đoán mắc PTSD, các triệu chứng cần kéo dài hơn một tháng và gây ra đau khổ hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động hàng ngày Thông thường, triệu chứng phát triển trong vòng ba tháng sau chấn thương, nhưng cũng có thể xuất hiện muộn hơn, kéo dài trong nhiều tháng hoặc thậm chí nhiều năm PTSD thường đi kèm với các tình trạng khác như trầm cảm, lạm dụng chất kích thích, vấn đề về trí nhớ và các vấn đề sức khỏe thể chất và tinh thần khác.

Những thay đổi trong nhận thức và tâm trạng sau sự kiện đau buồn có thể bao gồm việc không nhớ được các khía cạnh quan trọng, dẫn đến những suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực như niềm tin sai lệch về bản thân hoặc người khác, ví dụ như “Tôi tồi tệ” hay “Không ai có thể tin cậy được” Điều này cũng có thể gây ra những suy nghĩ lệch lạc về nguyên nhân và hậu quả, dẫn đến việc đổ lỗi không đúng cho bản thân hoặc người khác Người trải qua sự kiện này thường cảm thấy sợ hãi, kinh hoàng, tức giận, tội lỗi hoặc xấu hổ, cùng với việc giảm sự quan tâm đến các hoạt động từng yêu thích Họ có thể cảm thấy tách biệt với mọi người xung quanh và không thể tận hưởng những cảm xúc tích cực, dẫn đến khoảng trống trong hạnh phúc và sự thỏa mãn.

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com

CÁC TIÊU CHÍ CHẨN ĐOÁN

Chẩn đoán Phân biệt

5.1.1 Mô honh điều kiện hóa:

Theo lý thuyết 2 yếu tố của Mowrer, PTSD được coi là một phản ứng cảm xúc có điều kiện cổ điển Lý thuyết này chỉ ra rằng khi gặp phải những kích thích tương tự như những chấn thương trong quá khứ, việc né tránh hồi tưởng hoặc nhớ lại những sang chấn đó giúp cá nhân giảm thiểu lo lắng và căng thẳng.

Gồm hai loại: mô hình nhận thức xã hội và mô hình lý thuyết xử lý thông tin

5.1.2.1 Mô honh nhận thức xã hpi: Được phát triển bởi Horowitz, dựa theo lý thuyết phân tâm học của Freud.

Mô hình này nhấn mạnh việc lặp lại các sự kiện sang chấn để tích lũy kinh nghiệm vào thế giới quan cá nhân Theo Horowitz, PTSD xuất hiện khi cá nhân trải qua những sự kiện kinh hoàng không thể chấp nhận, kích hoạt các cơ chế phòng vệ như chối bỏ và đàn áp để bảo vệ bản thân khỏi tổn thương Tuy nhiên, những cơ chế này phải đối mặt với xu hướng hoàn thiện, xu hướng này giữ lại thông tin về sang chấn trong trí nhớ Nếu xu hướng hoàn thiện vượt qua cơ chế phòng vệ, nó có thể dẫn đến sự tích lũy và hiểu biết sâu sắc hơn về những trải nghiệm đau thương.

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com

CƠ CHẾ BỆNH SINH

Cơ chế bệnh sinh theo các học thuyết tâm lý học

5.1.1 Mô honh điều kiện hóa:

Dựa trên lý thuyết hai yếu tố của Mowrer, PTSD được hiểu như một phản ứng cảm xúc có điều kiện cổ điển Lý thuyết này chỉ ra rằng khi gặp lại những kích thích tương tự với chấn thương trước đó, việc né tránh hoặc hồi tưởng về những sang chấn đó giúp cá nhân giảm bớt lo lắng và căng thẳng.

Gồm hai loại: mô hình nhận thức xã hội và mô hình lý thuyết xử lý thông tin

5.1.2.1 Mô honh nhận thức xã hpi: Được phát triển bởi Horowitz, dựa theo lý thuyết phân tâm học của Freud.

Mô hình này nhấn mạnh việc lặp lại các sự kiện sang chấn để tích lũy kinh nghiệm trong thế giới quan cá nhân Theo Horowitz, PTSD xuất hiện khi cá nhân trải qua những sự kiện kinh hoàng không thể chấp nhận, dẫn đến việc kích hoạt các cơ chế phòng vệ như chối bỏ và đàn áp để bảo vệ bản thân khỏi tổn thương Tuy nhiên, những cơ chế này phải cạnh tranh với xu hướng hoàn thiện, xu hướng này giữ lại thông tin liên quan đến sang chấn trong trí nhớ Nếu xu hướng hoàn thiện mạnh hơn, nó sẽ vượt qua các cơ chế phòng vệ.

Tải xuống TIEU LUAN MOI tại địa chỉ skknchat@gmail.com Những ký ức sang chấn có thể xâm nhập vào ý thức dưới hình thức hồi tưởng, ác mộng, và lo lắng, dẫn đến các triệu chứng của PTSD Tuy nhiên, khi cơ chế phòng vệ hoạt động hiệu quả, thông tin từ sang chấn sẽ được hòa nhập vào hệ thống niềm tin chung, giúp các triệu chứng ngừng xuất hiện.

5.1.2.2 Mô honh xử lý thông tin:

Do Brewin (2001) phát triển lý thuyết về cách thông tin liên quan đến sang chấn được lưu trữ trong trí nhớ, cho rằng cá nhân có thể lựa chọn đề cập đến những ký ức sang chấn mà không cần khơi gợi chủ ý Ông phân loại ký ức thành hai loại: ký ức thâm nhập bằng lời (VAMs), có thể gợi lại một cách có chủ ý và được điều chỉnh dần dần, và ký ức thâm nhập theo hoàn cảnh (SAMs), không thể gợi lại một cách chủ đích, thường xuất hiện dưới dạng hồi tưởng hoặc ác mộng Brewin chỉ ra rằng hồi hải mã là trung tâm thần kinh xử lý VAMs, trong khi hạch hạnh nhân tham gia vào việc xử lý SAMs mang tính cảm xúc Ông nhấn mạnh rằng việc kích hoạt SAMs cung cấp thông tin quan trọng cho quá trình thích ứng nhận thức với sang chấn, và khi quá trình tích hợp này thành công, triệu chứng PTSD sẽ giảm bớt.

5.1.2 Mô honh tâm lý-xã hpi:

Theo Joseph và cộng sự (1995): các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển và tiến triển của rối loạn stress sau sang chấn bao gồm:

Kích thích sự kiện : hình tượng đại diện cho sự kiện được lưu giữ trong vùng trí nhớ trực tiếp

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com

Nhận thức sự kiện đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành những ký ức tái trải nghiệm sang chấn, tương tự như SAMs của Brewin Đánh giá và tái đánh giá là những suy nghĩ cá nhân liên quan đến sự kiện, tương tự như VAMs của Brewin, giúp liên kết các cảm xúc mạnh mẽ do sự kiện gây ra hoặc nỗ lực để hiểu lại sự kiện đó.

Nỗ lực đối phó là hành động nhằm giảm thiểu rối loạn stress cảm xúc, thường bao gồm việc né tránh những yếu tố gợi nhớ đến sự kiện hoặc cảm xúc tương tự khi trải qua sang chấn Qua đó, mục tiêu là ức chế các ký ức không mong muốn để cải thiện tình trạng tâm lý.

Nhân cách đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhận thức, cảm xúc, đánh giá và phản ứng của cá nhân đối với sang chấn Điều này có nghĩa là sự phát triển của PTSD ở một người có thể bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi đặc điểm nhân cách của họ.

Hỗ trợ xã hội, đặc biệt từ gia đình và bạn bè, giúp cá nhân chấp nhận ý nghĩa mới về sự kiện và khuyến khích bộc lộ cảm xúc tiêu cực Nghiên cứu cho thấy rằng sự hỗ trợ này có thể giảm thiểu tác động của sang chấn kéo dài, như trường hợp thảm họa Herald of Free Enterprise khiến 193 người thiệt mạng.

Ba mô hình lý giải khác nhau về tác động của môi trường bên ngoài đến sự gợi nhớ về sự kiện sang chấn, đồng thời nhấn mạnh quá trình ứng phó của từng cá nhân với những đặc điểm tâm lý riêng biệt.

Cơ chế bệnh sinh theo các học thuyết tâm lý học thần kinh

Sinh học thần kinh của PTSD rất phức tạp và liên quan đến những thay đổi

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nội tiết thần kinh, hóa chất thần kinh và cấu trúc thần kinh não bộ.

Hệ trục HPA và Cortisol :

Hệ thống phản ứng căng thẳng trong PTSD thường bị rối loạn điều hòa, đặc biệt là trục hạ đồi-tuyến yên-tuyến thượng thận (HPA) HPA là hệ thống nội tiết chịu trách nhiệm phản ứng với căng thẳng Khi gặp căng thẳng hoặc chấn thương, hormone corticotropin (CRH) được giải phóng từ vùng dưới đồi, kích thích tuyến yên sản xuất hormone vỏ thượng thận (ACTH) Sự gia tăng CRH và ACTH dẫn đến tiết cortisol từ tuyến thượng thận, tạo phản hồi tiêu cực để ức chế việc giải phóng ACTH và CRH thêm nữa, giúp cơ thể phản ứng với tình huống căng thẳng Tuy nhiên, trong trường hợp tiết quá nhiều cortisol, cơ chế điều hòa ngược sẽ kích thích tuyến yên giảm tiết ACTH, giúp cơ thể trở lại trạng thái bình thường Đối với stress mãn tính hoặc PTSD, trục HPA gia tăng tiết cortisol khi tiếp xúc với nỗi sợ trong ký ức hoặc kích thích liên quan đến sang chấn, mà không có cơ chế điều hòa ngược, dẫn đến mức cortisol tăng cao.

Sự gia tăng hàm lượng cortisol có thể dẫn đến lo âu, sợ hãi, căng thẳng kéo dài, mệt mỏi, thiếu ngủ, ăn không ngon và suy giảm trí nhớ, tất cả đều là triệu chứng thường gặp ở người mắc PTSD Hơn nữa, nồng độ cortisol cao còn ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của não bộ, gây tổn thương cho các tế bào não.

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thời ảnh hưởng đến những rối loạn tâm thần khác như trầm cảm, loạn thần ( ảo thanh, ảo giác, )

Norepinephrine (NE), hay còn gọi là noradrenaline (NA), là một hóa chất hữu cơ thuộc họ catecholamine, hoạt động như hormone và chất dẫn truyền thần kinh trong não và cơ thể Chức năng chính của norepinephrine là kích thích hoạt động của não và cơ thể, với mức độ giải phóng thấp nhất khi ngủ, tăng lên khi thức dậy và đạt cao nhất trong các tình huống căng thẳng Trong não, norepinephrine làm tăng hưng phấn, tỉnh táo, cảnh giác, và cải thiện khả năng hình thành và phục hồi trí nhớ, đồng thời cũng có thể gây ra cảm giác bồn chồn và lo lắng.

Khi cơ thể trải qua căng thẳng ngắn hạn, nó sẽ tiết ra Norepinephrine, dẫn đến các triệu chứng như tim đập nhanh, tăng huyết áp, đổ mồ hôi, và cảm giác nhức mỏi Hệ thần kinh cũng bị kích thích, gây ra mất ngủ Tất cả những hiện tượng này xảy ra nhằm giúp cơ thể đối phó với các tình huống được xem là đe dọa.

Sự gia tăng giải phóng Noradrenaline có liên quan đến việc cải thiện khả năng điều chỉnh nỗi sợ hãi, đồng thời tăng cường mã hóa ký ức cảm xúc, dẫn đến sự gia tăng kích thích và cảnh giác.

Khi Norepinephrine được tiết ra quá mức, nó có thể dẫn đến sự giảm thiểu Serotonin trong cơ thể Sự thiếu hụt Serotonin này gây khó khăn cho con người trong việc kiểm soát cảm xúc của bản thân.

Tài liệu TIEU LUAN MOI có thể tải xuống qua địa chỉ email skknchat@gmail.com Căng thẳng và lo âu là những vấn đề phổ biến trong cuộc sống, và nếu không được quản lý, chúng có thể dẫn đến các rối loạn tâm thần khác như trầm cảm và PTSD.

Serotonin (5HT) là một chất dẫn truyền thần kinh monoamine được tổng hợp từ axit amin tryptophan, có nguồn gốc từ nhân raphe và nhân trung gian trong thân não, kết nối với nhiều vùng não như hạch hạnh nhân, hồi hải mã và vỏ não trước Chất này đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh giấc ngủ, thèm ăn, hành vi tình dục, sự hung hăng, chức năng vận động và giảm đau Serotonin cũng liên quan đến việc điều chỉnh các phản ứng cảm xúc và căng thẳng, đặc biệt là trong trường hợp PTSD Nghiên cứu cho thấy nồng độ serotonin giảm ở những người bị PTSD có thể làm rối loạn mối quan hệ giữa hạch hạnh nhân và hồi hải mã, dẫn đến tăng cường lo âu, bốc đồng và ký ức xâm nhập Tổng kết lại, sự thay đổi trong dẫn truyền 5HT có thể góp phần vào các triệu chứng của PTSD như tăng động, tăng giật mình và ký ức xâm nhập, mặc dù cơ chế chính xác vẫn chưa được làm rõ.

GABA, một axit amin quan trọng, là chất dẫn truyền thần kinh có tác dụng ức chế trong não Nghiên cứu cho thấy những người mắc PTSD thường có sự suy giảm hoạt động GABA, điều này giải thích cho khả năng hạn chế của họ trong việc điều chỉnh các phản ứng sinh lý liên quan đến căng thẳng và lo âu.

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com

Glutamate là một chất dẫn truyền thần kinh chính, đóng vai trò quan trọng trong các chức năng kích thích của thần kinh trung ương, đặc biệt là trong tính dẻo của khớp thần kinh và các chức năng nhận thức như học tập và trí nhớ Chất này liên kết với các thụ thể N-methyl D-aspartate (NMDA), chủ yếu có mặt trong các khớp thần kinh kích thích, và chịu trách nhiệm củng cố ký ức Nghiên cứu cho thấy hàm lượng glutamate tăng cao ở bệnh nhân PTSD, dẫn đến việc tăng cường mức độ của các triệu chứng PTSD Sự gia tăng glutamate góp phần củng cố ký ức chấn thương, khiến những ký ức này lặp đi lặp lại ở bệnh nhân.

NPY đóng vai trò quan trọng trong việc chống lại sự phát triển của PTSD nhờ vào đặc tính giải lo âu và giảm căng thẳng, đồng thời giúp cân bằng nội môi ở hệ thần kinh trung ương và ngoại vi Thiếu hụt NPY có thể làm tăng nguy cơ gặp phải căng thẳng, vì NPY có khả năng ức chế các mạch CRH/NE liên quan đến phản ứng căng thẳng và sợ hãi, từ đó góp phần vào sự phát triển của PTSD Nghiên cứu cho thấy nồng độ NPY trong huyết tương và phản ứng NPY ở bệnh nhân PTSD thấp hơn so với người bình thường, dẫn đến gia tăng hoạt động của hệ noradrenergic ở những người mắc PTSD.

Các triệu chứng chính của PTSD bao gồm phản ứng giật mình mạnh mẽ và hồi tưởng lại những ký ức đau thương, điều này có thể liên quan đến sự suy giảm chức năng của các vùng não cao hơn như hồi hải mã và vỏ não trung gian Nghiên cứu hình ảnh thần kinh đã chỉ ra những thay đổi trong cấu trúc não của người mắc PTSD.

Bệnh nhân PTSD cho thấy sự giảm hoạt động ở thùy trán, vùng não trước và vùng đồi thị, ảnh hưởng đến chức năng điều hành, sự chú ý, nhận thức, trí nhớ, cảm xúc và cảm giác Ngược lại, hoạt động ở hệ viền, đặc biệt là vùng hồi hải mã và hạch hạnh nhân, lại gia tăng; hồi hải mã chịu trách nhiệm xử lý và gợi lại ký ức, trong khi hạch hạnh nhân xử lý cảm xúc và phản ứng sợ hãi Brewin (2001) cho rằng hồi tưởng xảy ra khi thông tin được truyền từ hạch hạnh nhân đến hồi hải mã.

5.2.3.1 Đối với hạch hạnh nhân:

Các hạch hạnh nhân là cấu trúc quan trọng trong hệ rìa, có vai trò trong việc xử lý cảm xúc và phản ứng sợ hãi Chúng hoạt động mạnh mẽ hơn khi gặp các kích thích liên quan đến chấn thương, và mức độ hoạt động của chúng tỷ lệ thuận với mức độ nghiêm trọng của triệu chứng trong rối loạn stress sau chấn thương (PTSD).

Hạch hạnh nhân chứa các tế bào nhạy cảm với sợ hãi, dẫn đến hai cơ chế hoạt động chính Đầu tiên, cơ chế cảm xúc gây ra cảm giác sợ hãi, hoảng hốt và bồn chồn, khiến người ta trở nên cảnh giác thái quá Thứ hai, cơ chế nhận thức làm tăng khả năng tưởng tượng và hồi tưởng lại các ký ức sang chấn, thường gặp ở những người mắc PTSD.

5.2.3.2 Đối với vỏ não trước trán:

PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ

Tâm lý trị liệu (Psychotherapy)

Điều trị tinh thần căng thẳng hậu chấn thương đang được xem xét một cách nghiêm túc Các chuyên gia khẳng định rằng phương pháp điều trị tâm lý mang lại hiệu quả tốt nhất trong việc phục hồi sức khỏe tinh thần cho những người bị ảnh hưởng.

6.1.1 Tâm lý trị liệu thay đổi cử chỉ, hành vi (Cognitive Behavioral Therapy (CBT))

Chuyên viên tâm lý sẽ hướng dẫn bệnh nhân hồi tưởng lại những ký ức gây tổn thương qua tưởng tượng, và diễn ra liên tục trong những lần

TIEU LUAN MOI download: skknchat@gmail.com Việc thăm khám và trị liệu giúp bệnh nhân giảm lo lắng và cảm thấy thoải mái hơn Đối với những người bị bất tỉnh hoặc không muốn nhớ lại những trải nghiệm đau thương, họ được khuyến khích đối diện với nỗi sợ hãi của mình Các buổi trị liệu sẽ được thu âm để bệnh nhân có thể nghe lại tại nhà, giúp họ giảm bớt việc tránh né những ký ức đau buồn Chẳng hạn, nếu một người từng trải qua tai nạn xe cộ và hiện tại sợ lái xe, họ sẽ nhận được sự động viên và hướng dẫn để từng bước vượt qua nỗi sợ này Các phương pháp này thuộc về liệu pháp nhận thức hành vi (CBT).

6.1.1.1 Liệu pháp tiếp xúc kéo dài (Prolonged Exposure – PE)

PE (Tâm lý học tiếp xúc) được khuyến cáo mạnh mẽ bởi APA và VA/DoD để điều trị PTSD, dựa trên lý thuyết xử lý cảm xúc của Foa và Kozak Lý thuyết này cho rằng các sự kiện đau thương không được xử lý cảm xúc đúng cách tại thời điểm xảy ra, dẫn đến cấu trúc sợ hãi trong trí nhớ Cấu trúc này bao gồm các yếu tố như kích thích sợ hãi, phản ứng sợ hãi và ý nghĩa liên quan Khi cấu trúc sợ hãi phản ánh không chính xác thực tế, nó có thể gây ra các phản ứng sinh lý và hành vi không thích hợp, cản trở khả năng thích nghi PE nhằm thay đổi cấu trúc sợ hãi để giúp bệnh nhân PTSD vượt qua nỗi sợ, với hai điều kiện cần thiết là thay đổi cấu trúc sợ hãi và tiếp xúc với công việc.

Để tải xuống TIEU LUAN MOI, vui lòng liên hệ qua email skknchat@gmail.com Đầu tiên, cấu trúc sợ hãi cần được kích hoạt, và thứ hai, thông tin mới phải được tích hợp vào cấu trúc này để thay thế những thông tin sai lầm.

Liệu pháp phơi nhiễm (PE) cho PTSD thường diễn ra trong 8–15 buổi, bao gồm giáo dục về PTSD và các phản ứng chấn thương PE bao gồm hai loại tiếp xúc chính: phơi nhiễm in vivo và phơi nhiễm qua hình ảnh Phơi nhiễm in vivo giúp bệnh nhân tiếp cận các tình huống mà họ đã tránh, trong khi phơi nhiễm qua hình ảnh cho phép họ đối diện với ký ức và cảm xúc liên quan đến sự kiện chấn thương Bệnh nhân sẽ kể lại câu chuyện về sự kiện đau thương nhiều lần và ghi âm để luyện tập Qua hai hình thức tiếp xúc này, bệnh nhân kích hoạt cấu trúc sợ hãi và kết hợp thông tin mới để giảm thiểu nỗi sợ hãi do sang chấn.

Chương trình PE là liệu pháp phơi nhiễm được công nhận và phổ biến qua VA và DOD, với hướng dẫn điều trị đã được dịch sang chín ngôn ngữ khác nhau Sách hướng dẫn PE sửa đổi dự kiến sẽ được phát hành vào năm 2019 Liệu pháp này đã chứng minh hiệu quả cho những người sống sót, bất kể văn hóa, quốc gia hay thời gian kể từ khi trải qua chấn thương.

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thương hay số lượng các sự kiện chấn thương trước đó (Powers và cộng sự, 2010).

6.1.1.2 Tâm lý trị liệu thay đổi tư tưởng, nhận thức (Cognitive Processing Therapy – CPT)

CPT (Liệu pháp xử lý nhận thức) được khuyến nghị bởi cả APA và VA / DoD để điều trị PTSD, là một phương pháp điều trị tập trung vào việc nhận ra và đánh giá lại tư duy liên quan đến chấn thương Liệu pháp này giúp người bệnh hiểu cách mà sự kiện đau buồn ảnh hưởng đến cách họ nhìn nhận bản thân, người khác và thế giới xung quanh CPT cho rằng những người sống sót thường cố gắng hiểu những gì đã xảy ra, nhưng có thể dẫn đến nhận thức sai lệch về bản thân và môi trường Những suy nghĩ sai lầm này có thể khiến họ "mắc kẹt" trong ký ức đau thương, cản trở quá trình phục hồi CPT giúp kích hoạt nhận thức bộ nhớ, xác định và thay đổi những nhận thức không phù hợp, từ đó giảm thiểu những suy nghĩ sai lệch và hỗ trợ quá trình chữa lành.

Resick và cộng sự (2017) đã cập nhật sổ tay điều trị cho liệu pháp CPT, bao gồm 12 phiên trị liệu hàng tuần có thể thực hiện theo định dạng cá nhân hoặc nhóm Các phiên trị liệu đầu tiên tập trung vào giáo dục tâm lý về mô hình nhận thức và khám phá khái niệm của bệnh nhân về sự kiện đau thương Phiên bản gốc của CPT yêu cầu bệnh nhân viết một bản tường trình chấn thương, mô tả suy nghĩ, cảm xúc và thông tin cảm giác liên quan đến sự kiện Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng phiên bản mới nhất của CPT không còn yêu cầu bản tường trình chấn thương bằng văn bản (Resick và cộng sự, 2008, 2017; Chard và cộng sự, 2012) Buổi trị liệu hiện tại sẽ tập trung vào việc thiết lập mối liên kết giữa suy nghĩ và cảm xúc của bệnh nhân.

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đề cập đến việc thiết lập mối liên hệ giữa suy nghĩ, cảm xúc và những điểm còn mắc kẹt trong nhận thức của cá nhân về các sự kiện không tích cực Phương pháp này giúp bệnh nhân thách thức những nhận thức sai lệch (Chard và cộng sự, 2012) Cuối cùng, CPT khám phá sự thay đổi trong nhân cách và lý giải nguyên nhân của các sự kiện đau thương, cũng như tác động của chúng đến suy nghĩ của bệnh nhân Do đó, phương pháp này rất hiệu quả cho những người có tâm lý tự trách về những sự kiện đau buồn.

Liệu pháp CPT đã được chứng minh là một phương pháp điều trị hiệu quả cho PTSD, với nhiều nghiên cứu hỗ trợ cho thấy sự hiệu quả mạnh mẽ của nó trong việc giúp người phục hồi từ các chấn thương khác nhau Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng CPT có thể điều trị hiệu quả PTSD ở những nạn nhân sống sót sau tấn công tình dục, cựu chiến binh từ các cuộc chiến tại Việt Nam, Iraq và Afghanistan, cũng như nam giới trưởng thành mắc bệnh TBI và PTSD Thêm vào đó, CPT đã được phát hiện giúp giảm đáng kể các triệu chứng PTSD, trầm cảm và lo âu, với các phân tích tổng hợp khẳng định hiệu quả của nó trong việc giảm triệu chứng PTSD một cách rõ rệt.

6.1.1.3 Stress tiêm chrng đào tạo (Stress Inoculation Training – SIT)

SIT, một hình thức trị liệu CBT, giúp giảm lo lắng bằng cách trang bị cho người bệnh các kỹ năng đối phó với căng thẳng liên quan đến PTSD Phương pháp này có thể được áp dụng độc lập hoặc kết hợp với các hình thức CBT khác Mục tiêu chính của SIT là hướng dẫn người tham gia cách phản ứng khác biệt với các triệu chứng của họ thông qua việc giảng dạy những kỹ năng đối phó đa dạng.

Tải xuống TIEU LUAN MOI qua email: skknchat@gmail.com, bao gồm các phương pháp như đào tạo lại hơi thở, thư giãn cơ bắp, tái cấu trúc nhận thức và phát triển kỹ năng quyết đoán (Hình 6.2 phụ lục)

6.1.1.4 Liệu pháp nhận thức (Cognitive therapy - CT):

CT là một hình thức đặc biệt của CBT, tập trung vào việc điều chỉnh các thiên kiến tiêu cực liên quan đến chấn thương để giảm thiểu tác động xấu của chúng trong cuộc sống Liệu pháp này giúp người bệnh nhận diện các đánh giá thái quá về tổn thương, từ đó làm tăng sự sợ hãi và nghi ngờ Nhà trị liệu sẽ hỗ trợ họ khôi phục hệ thống nhận thức bị ảnh hưởng bởi chấn thương, đồng thời ngăn chặn những suy nghĩ hay hành động tạm thời làm giảm lo âu nhưng có thể dẫn đến triệu chứng PTSD trong tương lai.

Những loại can thiệp PTSD khác, không thuộc CBT

6.2.1 Liệu pháp giải mẫn cảm chuyển đpng nhãn cầu và tái xử lý thông tin (Eye Movement Desensitization and Reprocessing – EMDR)

Liệu pháp Giải mẫn cảm và Tái xử lý (EMDR) được phát triển nhằm giảm bớt nỗi đau từ những ký ức đau thương (Shapiro, 1989a, 1989b) Mô hình Xử lý Thông tin Thích ứng của Shapiro (2001) cho thấy EMDR giúp truy cập và xử lý các ký ức đau khổ, từ đó dẫn đến giải pháp thích ứng cho những trải nghiệm tiêu cực Sau khi điều trị thành công, bệnh nhân thường cảm thấy giảm đau khổ, niềm tin tiêu cực được cải thiện và kích thích sinh lý cũng giảm đi.

Trong liệu pháp EMDR, bệnh nhân tập trung vào những yếu tố gây rối loạn cảm xúc trong thời gian ngắn, đồng thời chú ý đến một kích thích bên ngoài Kích thích bên ngoài phổ biến nhất trong quá trình này là chuyển động mắt theo hướng bên của nhà trị liệu.

Tải TIEU LUAN MOI tại địa chỉ skknchat@gmail.com, nhiều loại kích thích như gõ tay và âm thanh thường được sử dụng trong liệu pháp EMDR (Shapiro, 1991) Theo Shapiro (1995, 2001), liệu pháp này giúp truy cập vào mạng bộ nhớ chấn thương, từ đó tăng cường việc xử lý thông tin và tạo ra các mối liên hệ mới giữa ký ức chấn thương và thông tin thích ứng Những liên kết mới này góp phần vào việc xử lý thông tin đầy đủ, học hỏi những điều mới, giảm cảm xúc đau khổ, giải quyết các triệu chứng vấn đề và phát triển hiểu biết sâu sắc hơn về nhận thức.

Phương pháp này mang đến những tác động tích cực trong việc điều trị điều trị rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD) (hình 6.3 phụ lục)

Hơn 30 nghiên cứu về kết quả có kiểm soát tích cực đã được thực hiện trên liệu pháp EMDR Một số nghiên cứu chỉ ra rằng 84% -90% nạn nhân bị chấn thương đơn không còn bị rối loạn căng thẳng sau chấn thương chỉ sau ba buổi trị liệu kéo dài 90 phút Một nghiên cứu khác do HMO Kaiser Permanente tài trợ cho thấy 100% nạn nhân đơn chấn thương và 77% nạn nhân đa chấn thương không còn được chẩn đoán mắc PTSD chỉ sau sáu buổi điều trị kéo dài 50 phút Đã có rất nhiều nghiên cứu về liệu pháp EMDR đến mức hiện nay nó được các tổ chức như Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ, Tổ chức Y tế Thế giới và Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ công nhận là một hình thức điều trị hiệu quả đối với chấn thương và các trải nghiệm đáng lo ngại khác Với sự công nhận trên toàn thế giới như một phương pháp điều trị chấn thương hiệu quả, bạn có thể dễ dàng thấy liệu pháp EMDR sẽ hiệu quả như thế nào trong việc điều trị những ký ức “hàng ngày” vốn là lý do khiến mọi người có lòng tự trọng thấp, cảm giác bất lực và vô số vấn đề mang lại Hơn 100.000 bác sĩ trên khắp thế giới sử dụng liệu pháp này Hàng triệu người đã được điều trị thành công trong 25 năm qua.

6.2.2 Liệu pháp tập trung hiện tại ( Present Centered Therapy – (PCT)

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com

Liệu pháp lấy hiện tại làm trung tâm (PCT) là một phương pháp tâm lý tập trung vào việc hỗ trợ người lớn bị rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD) mà không tập trung vào sang chấn PCT có thể được thực hiện dưới hình thức cá nhân hoặc nhóm, bao gồm các yếu tố điều trị như thiết lập mối quan hệ trị liệu tích cực, bình thường hóa triệu chứng, xác nhận kinh nghiệm và nâng cao ý thức làm chủ trong việc đối phó Phương pháp này không yêu cầu tiếp xúc với chấn thương, tái cấu trúc nhận thức hay kích hoạt hành vi, làm cho nó trở thành một lựa chọn hấp dẫn cho những ai không muốn tham gia vào liệu pháp tập trung vào chấn thương.

Trong quá trình điều trị PTSD, bệnh nhân làm việc để tăng cường kết nối bản thân và hiểu rõ hơn về tác động của các triệu chứng đến hành vi hiện tại Họ khám phá các phương pháp giải quyết vấn đề hiệu quả hơn, từ đó phát triển ý thức làm chủ môi trường sống và áp dụng các giải pháp tối ưu cho các tác nhân gây căng thẳng hàng ngày Kết quả là, chức năng tâm lý xã hội được cải thiện và các triệu chứng PTSD giảm bớt.

Điều trị bằng thuốc (Medication)

Các nghiên cứu hiện tại cho thấy nhóm thuốc chống trầm cảm SSRI, đặc biệt là sertraline, paroxetine và fluoxetine, có tác dụng mạnh mẽ trong điều trị PTSD Ngoài ra, venlafaxine, một chất ức chế tái hấp thu serotonin-norepinephrine (SNRI), cũng cho thấy hiệu quả Tuy nhiên, chỉ có sertraline (Zoloft) và paroxetine (Paxil) được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) phê duyệt để điều trị PTSD.

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com

Mặc dù SSRI thường là nhóm thuốc đầu tiên được sử dụng trong điều trị PTSD (Brady và cộng sự, 2000; Marshall, Beebe, Oldham

Theo nghiên cứu của Zaninelli (2001), mặc dù có thể có những trường hợp ngoại lệ đối với bệnh nhân dựa trên tiền sử cá nhân về tác dụng phụ và sở thích cá nhân, nhưng lợi ích tối đa từ điều trị bằng SSRI phụ thuộc vào liều lượng và thời gian điều trị phù hợp Để đảm bảo hiệu quả điều trị PTSD, việc tuân thủ đúng phác đồ điều trị là rất quan trọng Các loại thuốc thường có phạm vi liều lượng điển hình cần được xem xét kỹ lưỡng.

● Sertraline (Zoloft): 50 mg đến 200 mg mỗi ngày

● Paroxetine (Paxil): 20 đến 60 mg mỗi ngày

● Fluoxetine (Prozac): 20 mg đến 60 mg mỗi ngày

Các thuốc chống trầm cảm khác cho PTSD:

Thuốc chống trầm cảm ảnh hưởng đến sự cân bằng của dẫn truyền thần kinh serotonergic và noradrenergic, đồng thời có tác dụng tích cực trong điều trị PTSD Venlafaxine hoạt động chủ yếu như một chất ức chế tái hấp thu serotonin ở liều thấp và kết hợp với norepinephrine ở liều cao hơn, được khuyến nghị như một phương pháp điều trị cho PTSD Phạm vi liều lượng điển hình của thuốc này rất quan trọng để đạt được hiệu quả tối ưu.

● Venlafaxine (Effexor): 75 mg đến 300 mg mỗi ngày

Tất cả các loại thuốc chống trầm cảm đều có hiệu quả trong điều trị rối loạn trầm cảm nặng kèm theo (MDD) và thường đi kèm với PTSD khoảng 50% thời gian Tuy nhiên, cần lưu ý rằng sự gia tăng huyết áp trong quá trình sử dụng venlafaxine có liên quan đến liều lượng thuốc.

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cần được sử dụng một cách thận trọng cho bệnh nhân tăng huyết áp.

Thuốc kháng adrenergic như clonidine và propranolol đã được chứng minh là hiệu quả trong việc điều trị PTSD, đặc biệt đối với các triệu chứng như bồn chồn, rối loạn giấc ngủ, ác mộng và tình trạng tăng cảnh giác Tuy nhiên, cần lưu ý đến các tác dụng phụ có thể xảy ra đối với hệ tim mạch và hô hấp khi sử dụng những loại thuốc này.

Thuốc chống loạn thần có hiệu quả không rõ ràng trong điều trị PTSD Việc sử dụng haloperidol trong thời gian ngắn để kiểm soát hành vi kích động và gây hấn cần được xem xét cẩn thận do có thể làm trầm trọng thêm triệu chứng PTSD Nghiên cứu gần đây cho thấy thuốc chống loạn thần thế hệ 2, đặc biệt là risperidone và quetiapine, khi kết hợp với SSRI, có thể mang lại hiệu quả tích cực trong điều trị PTSD.

Các thuốc chỉnh khí sắc như carbamazepine (Tegretol) hoặc valproate (Depakine) khi được phối hợp với SSRI đã cho thấy hiệu quả trong việc điều trị PTSD, đặc biệt là đối với các triệu chứng bùng nổ cảm xúc và hành vi gây hấn.

Benzodiazepine thường được các nhà lâm sàng áp dụng cho bệnh nhân PTSD, nhưng nghiên cứu lâm sàng đã chỉ ra rằng hiệu quả của loại thuốc này trong điều trị PTSD vẫn chưa rõ ràng Hơn nữa, việc sử dụng benzodiazepine có thể làm tăng nguy cơ lạm dụng thuốc, rượu, ma túy và các chất kích thích tâm thần khác ở những người mắc PTSD.

Topiramate là một loại thuốc chống động kinh, nổi bật với khả năng điều chỉnh sự dẫn truyền thần kinh glutamate Gần đây, thuốc này đã thu hút sự chú ý trong việc điều trị PTSD Nghiên cứu hệ thống đã cung cấp cơ sở bằng chứng cho việc sử dụng Topiramate trong điều trị tình trạng này.

TIEU LUAN MOI tải xuống tại skknchat@gmail.com đã chỉ ra rằng có bằng chứng vừa phải cho hiệu ứng tích cực của topiramate trong việc giảm triệu chứng PTSD với cường độ trung bình đến lớn Tuy nhiên, hội đồng đã kết luận rằng không đủ bằng chứng để khuyến nghị sử dụng thuốc này do tác dụng phụ tiềm ẩn có thể nghiêm trọng hơn so với thuốc chống trầm cảm SSRI Nhiều bệnh nhân sử dụng topiramate đã báo cáo về các tác dụng phụ như làm mờ nhận thức Bên cạnh đó, topiramate cũng cho thấy hiệu quả trong việc giảm tiêu thụ rượu ở những người mắc rối loạn sử dụng rượu, tình trạng thường đi kèm với PTSD.

Nghiên cứu cho thấy việc kết hợp nhiều loại thuốc có thể tăng cường hiệu quả điều trị và thúc đẩy quá trình trị liệu.

Sử dụng thuốc có thể gây ra nhiều tác dụng phụ khó chịu và ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe người dùng Trong hầu hết các trường hợp, thuốc không hoàn toàn loại bỏ triệu chứng mà chỉ giúp giảm bớt chúng Do đó, các liệu pháp tâm lý tập trung vào chấn thương như CPT, PE và EMDR được khuyến nghị là những phương pháp điều trị hiệu quả nhất.

Rối loạn Stress sau sang chấn (PTSD) gây ra những tác động tiêu cực lâu dài đối với cả tinh thần và thể chất của người bệnh, với triệu chứng có thể kéo dài trong nhiều năm.

Tiểu luận này nhằm cung cấp kiến thức và nâng cao nhận thức về PTSD, một căn bệnh ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của nhiều người Quá trình chẩn đoán và điều trị PTSD thường kéo dài, khó khăn và tốn kém, vì vậy việc hiểu rõ về bệnh này sẽ giúp cá nhân có thêm kỹ năng và kiến thức để áp dụng vào cuộc sống thường nhật.

Số người mắc PTSD trên toàn cầu và tại Việt Nam đang gia tăng, ảnh hưởng không chỉ đến cá nhân mà còn đến sự phát triển của quốc gia Sau đại dịch, sức khỏe tinh thần trở thành mối lo ngại lớn hơn cả khôi phục kinh tế Mọi người đều có thể trở thành nạn nhân của PTSD, và dù không thể ngăn chặn các sự kiện đau thương, chúng ta có thể kiểm tra sức khỏe tinh thần định kỳ Hãy bảo vệ tâm lý của bạn ngay khi có dấu hiệu rối loạn, đừng để mọi thứ trở nên quá muộn.

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com

Ngày đăng: 26/05/2022, 21:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng Tỷ lệ trầm cảm, lo âu và các triệu chứng PTSD theo giới tính. (Phơi - TIỂU LUẬN GIỮA HK1 đề tài rối loạn căng thẳng sau sang chấn (posttraumatic stress disorder)
ng Tỷ lệ trầm cảm, lo âu và các triệu chứng PTSD theo giới tính. (Phơi (Trang 10)
Ví dụ 4: Cho hình hộp đứng ABCD A'B'C'D'cĩ đáyABCD là hình thoi cạnh       a và ¼BAD = 60o biết AB' hợp với đáy (ABCD) một gĩc 30o - TIỂU LUẬN GIỮA HK1 đề tài rối loạn căng thẳng sau sang chấn (posttraumatic stress disorder)
d ụ 4: Cho hình hộp đứng ABCD A'B'C'D'cĩ đáyABCD là hình thoi cạnh a và ¼BAD = 60o biết AB' hợp với đáy (ABCD) một gĩc 30o (Trang 11)
Bảng 2: Tỷ lệ stress sau sang chấn cra nhân viên y tế - TIỂU LUẬN GIỮA HK1 đề tài rối loạn căng thẳng sau sang chấn (posttraumatic stress disorder)
Bảng 2 Tỷ lệ stress sau sang chấn cra nhân viên y tế (Trang 12)
Bài 2:Cho lăng trụ ABCD A'B'C'D'cĩ đáyABCD là hình vuơng cạn ha và biết cạnh bên bằng 8 hợp với đáy ABC một gĩc 30o - TIỂU LUẬN GIỮA HK1 đề tài rối loạn căng thẳng sau sang chấn (posttraumatic stress disorder)
i 2:Cho lăng trụ ABCD A'B'C'D'cĩ đáyABCD là hình vuơng cạn ha và biết cạnh bên bằng 8 hợp với đáy ABC một gĩc 30o (Trang 17)
Hình 3: Minh họa về các triệu chứng của PTSD Theresa Chiechi / Verywell (2021) - TIỂU LUẬN GIỮA HK1 đề tài rối loạn căng thẳng sau sang chấn (posttraumatic stress disorder)
Hình 3 Minh họa về các triệu chứng của PTSD Theresa Chiechi / Verywell (2021) (Trang 49)
Hình 5.1: Những thay đổi hóa thần kinh liên quan đến PTSD. Sự gia tăng của dopamine và norepinephrine đã được quan sát thấy trong PTSD gây ra tăng huyết áp, dự đoán và phản ứng kinh ngạc - TIỂU LUẬN GIỮA HK1 đề tài rối loạn căng thẳng sau sang chấn (posttraumatic stress disorder)
Hình 5.1 Những thay đổi hóa thần kinh liên quan đến PTSD. Sự gia tăng của dopamine và norepinephrine đã được quan sát thấy trong PTSD gây ra tăng huyết áp, dự đoán và phản ứng kinh ngạc (Trang 50)
Hình 5.3: Tác động của PTSD lên cấu trúc não bộ. Tập trung vào ba vùng chính: Hạch hạnh nhân, Hồi hải mã và Vùng vỏ não trước trán. - TIỂU LUẬN GIỮA HK1 đề tài rối loạn căng thẳng sau sang chấn (posttraumatic stress disorder)
Hình 5.3 Tác động của PTSD lên cấu trúc não bộ. Tập trung vào ba vùng chính: Hạch hạnh nhân, Hồi hải mã và Vùng vỏ não trước trán (Trang 51)
Hình 5.4: Các nghiên cứu hình ảnh não đã tiết lộ sinh học thần kinh cơ bản của PTSD. So với những người khỏe mạnh, những người bị PTSD thường biểu hiện hoạt động cao hơn (màu vàng) trong các vùng xử lý cảm xúc của não, bao gồm hạch hạnh nhân (AMY) và ít h - TIỂU LUẬN GIỮA HK1 đề tài rối loạn căng thẳng sau sang chấn (posttraumatic stress disorder)
Hình 5.4 Các nghiên cứu hình ảnh não đã tiết lộ sinh học thần kinh cơ bản của PTSD. So với những người khỏe mạnh, những người bị PTSD thường biểu hiện hoạt động cao hơn (màu vàng) trong các vùng xử lý cảm xúc của não, bao gồm hạch hạnh nhân (AMY) và ít h (Trang 51)
Bảng 6: Điều trị PTSD bằng thuốc - TIỂU LUẬN GIỮA HK1 đề tài rối loạn căng thẳng sau sang chấn (posttraumatic stress disorder)
Bảng 6 Điều trị PTSD bằng thuốc (Trang 52)
Hình 6.1 - TIỂU LUẬN GIỮA HK1 đề tài rối loạn căng thẳng sau sang chấn (posttraumatic stress disorder)
Hình 6.1 (Trang 52)
Hình 6.2 - TIỂU LUẬN GIỮA HK1 đề tài rối loạn căng thẳng sau sang chấn (posttraumatic stress disorder)
Hình 6.2 (Trang 54)
Hình 6.2a - TIỂU LUẬN GIỮA HK1 đề tài rối loạn căng thẳng sau sang chấn (posttraumatic stress disorder)
Hình 6.2a (Trang 54)
Hình 6.2c - TIỂU LUẬN GIỮA HK1 đề tài rối loạn căng thẳng sau sang chấn (posttraumatic stress disorder)
Hình 6.2c (Trang 55)
Hình 6.2b - TIỂU LUẬN GIỮA HK1 đề tài rối loạn căng thẳng sau sang chấn (posttraumatic stress disorder)
Hình 6.2b (Trang 55)
Hình 6.2e - TIỂU LUẬN GIỮA HK1 đề tài rối loạn căng thẳng sau sang chấn (posttraumatic stress disorder)
Hình 6.2e (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w