Các chính sách phát triển văn hóa của chúng ta trong giai đoạn hiện nay phải thích ứng với những vấn đề mà đời sống đặt ra và cách giải quyết có thể được về những vấn đề ấy... Để phát t
Trang 1
TIỂU LUẬN:
MẤY SUY NGHĨ VỀ PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Trang 2
Sau khi cân nhắc cái được và cái mất, những thuận lợi và khó khăn, cơ hội và thách thức, chúng ta đã tự nguyện và có quyết tâm rất cao bước vào sân chơi của Tổ chức Thương mại thế giới nhằm phát triển mạnh mẽ hơn nữa kinh tế nước nhà Phát triển kinh tế trong hội nhập, cùng với các làn sóng xuất khẩu, đầu tư, tin học sẽ làm thay đổi rất nhiều các quan hệ văn hóa vốn ra đời và hỗ trợ cho một nền kinh tế chưa phát triển Phát triển kinh tế bằng giải pháp xuất khẩu, đầu tư, công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ làm thay đổi nhanh chóng các phong tục, tập quán, nếp sống, những chuẩn mực văn hóa của một nền kinh tế chưa tham gia hội nhập Để văn hóa có khả năng giúp kinh tế phát triển mạnh mẽ và để khi kinh tế phát triển vượt bậc, không có những tác động quá tiêu cực đến các quan hệ văn hóa, chúng ta cần phải hoạch định một chính sách phát triển văn hóa toàn diện, đủ sức hỗ trợ cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế
Như chúng ta đều biết, phát triển văn hóa và phát triển kinh tế có mối liên hệ bản
chất nhưng không phải là đồng nhất Đời sống văn hóa có sự phát triển độc lập
tương đối Thay đổi kinh tế làm thay đổi văn hóa; song văn hóa cũng có tác động tích
cực hoặc tiêu cực đến sự phát triển kinh tế Một nền văn hóa chưa có cơ chế phát triển những năng lực tiềm tàng của cá nhân, chưa có cơ chế hỗ trợ mạnh mẽ cho thương mại, tiềm ẩn rất nhiều thành kiến và lối sống tiểu nông chắc chắn sẽ có ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển kinh tế thị trường Ngược lại, nếu mộtnền văn hóa
đã xác lập được những hệ chuẩn luật pháp minh bạch, có cơ chế gìn giữ nội lực, duy trì được những nguồn nhân lực, tài lực, trí lực sẽ có tác động tích cực đến sự phát
triển kinh tế Do đó, phạm vi điều chỉnh trong chính sách văn hóa của chúng ta trước
hết phải làm cho cả kinh tế lẫn văn hóa đều phát triển
Phát triển văn hóa không có nghĩa là thay đổi văn hóa theo kinh tế, mặc dù kinh tế là
Trang 3
cơ sở và văn hóa là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng Phát triển văn hóatrước
hết có thể là duy trì những giá trị văn hóa còn nhiều sức sống nhưng lại đang có nguy cơ mất đi Hội nhập, kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị
hóa làm thay đổi kỹ năng lao động, xóa bỏ nhiều giá trị truyền thống, làm biến dạng
và biến mất nhiều tập quán văn hóa tốt đẹp vốn tạo nên thuần phong mỹ tục của một vùng dân cư Vì thế, nếu phạm vi điều chỉnh của chính sách văn hóa nhằm duy trì những tài năng, sự thành thạo, những di sản quý hiếm, thì đó là một hình thức điều chỉnh đặc biệt của văn hóa Hình thức này cũng tham gia trực tiếp vào sự phát triển kinh tế
Ý nghĩa thông thường của phát triển văn hóa là xóa bỏ những trở ngại trong các quá
trình văn hóa Những điều kiện kinh tế mới đòi hỏi những giá trị văn hóa cao, tạo những
điều kiện vật chất và tinh thần mới cho các hoạt động văn hóa Việc nâng cao những trình độ thấp, việc giáo dục những phương thức hoạt động văn hóa mới, tăng cường tri thức cho văn hóa làm cho cả kinh tế lẫn văn hóa đều phát triển Đó là một trong những mục tiêu của chính sách phát triển văn hóa trong thời kỳ hội nhập hiện nay
Phạm vi điều chỉnh chính sách văn hóa của chúng ta có mối liên hệ bản chất với các
chính sách kinh tế, bởi, trong điều kiện kinh tế thị trường, một số sản phẩm văn hoá
đã trở thành hàng hóa Hàng hóa văn hóa có giá trị rất cao Nó sẽ làm tăng thu nhập
cho nhiều bộ phận dân cư trong xã hội
Chính sách phát triển văn hóa của chúng ta gắn liền với các mục tiêu kinh tế, đồng
thời gắn liền với định hướng chính trị Việc bồi dưỡng và phát triển các tài năng văn
hóa, huy động đông đảo nhân dân tham gia các hoạt động văn hóa, gìn giữ các giá trị truyền thống, tiếp biến các giá trị văn hóa tốt đẹp của nhân loại là chính trị của chúng
ta Vì thế, các chính sách văn hóa, khi liên hệ bản chất với các chính sách kinh tế,
đồng thời còn phải thể hiện rõ mối quan hệ với đường lối chính trị
Nền văn hóa mới của chúng ta vận động trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản lãnh đạo và dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh Chính sách văn hóa của chúng ta hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Chính sách đó trước hết phải
cổ vũ và duy trì các quan hệ văn hóa yêu lao động, yêu nước, có tinh thần quốc tế,
Trang 4
gắn lợi ích cá nhân với lợi ích của tập thế, tôn trọng lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân, thấm sâu chủ nghĩa nhân văn cao quý Các chính sách văn hóa của chúng ta cũng gắn giá trị truyền thống với giá trị hiện đại, giá trị của dân tộc với giá trị quốc tế, hướng tới việc xác lập nền văn hóa xã hội chủ nghĩa mang giá trị của con người trả lại cho con người
Chúng ta vào sân chơi chung về kinh tế và buộc phải tuân thủ những luật chơi chung Tuy vậy, kỹ năng tiến hành các hoạt động kinh tế không tách khỏi văn hóa nói chung
và văn hóa chính trị nói riêng Người Mỹ, người Anh, người Pháp và tất cả các thành viên trong Tổ chức Thương mại thế giới hoạt động kinh tế dưới ảnh hưởng của văn hóa chính trị của họ Chúng ta có văn hóa chính trị của chúng ta trong hoạt động kinh
tế Chính sách văn hóa cần làm sáng tỏ những giá trị nhân văn tiềm ẩn của con người Việt Nam trong giao lưu kinh tế Chúng ta cổ vũ cho quyền bình đẳng văn hóa giữa các dân tộc, chấp nhận sự đối thoại giữa các giá trị văn hóa và chống lại mọi độc quyền văn hóa Không có một văn hóa nào được áp đặt lên một văn hóa nào Giống như ngôn ngữ, không có một văn hóa nào có thể được nói, trong ý nghĩa tuyệt đối
của nó, là tốt hơn văn hóa khác Sự khác biệt văn hóa chính là cội nguồn của sự phát
triển văn hóa
Điểm nhấn trung tâm của chính sách phát triển văn hóa của chúng ta hiện nay làtăng
trưởng nguồn lực con người, bởi con người là trung tâm của mọi quan hệ văn hóa Vì
thế, chính sách văn hóa có liên hệ bản chất với chính sách xã hội
Các chính sách văn hóa không có tính biệt lập Chúng vừa là bộ phận của hệ chính sách, vừa nằm trong các chính sách khác, vừa có tư cách điều chỉnh các đối tượng riêng biệt Các chính sách phát triển văn hóa của chúng ta phải huy động được mọi tầng lớp xã hội tham gia sáng tạo và hưởng thụ văn hóa Phát triển văn hóa có liên quan đến phát triển nhân cách, chỉ số thông minh, tri thức, sức khoẻ, tầm vóc con người và thể dục, thể thao
Vì thế, chính sách văn hóa không thể tách rời chính sách khoa học, giáo dục, y tế Một chính sách nâng cao trình độ dân trí là phương thức quan trọng để phát triển văn hóa Một nền y tế mạnh có khả năng chống mọi bệnh tật dù là bệnh tật hiểm nghèo, tăng cường sức khoẻ con người chính là cơ sở quan trọng của phát triển văn hóa Một chính sách xóa đói, giảm nghèo, quan tâm sâu sắc đến những người tàn tật gắn liền với các
Trang 5
định hướng nhân văn cao cả trong các quan hệ văn hóa là mục tiêu của chúng ta
Phạm vi điều chỉnh của chính sách phát triển văn hóa trong việc tăng trưởng nguồn lực con người không chỉ bao gồm các mục tiêu nâng cao thể chất, bồi dưỡng năng lực tinh thần mà còn phải gắn liền với giới tính, với các tầng lớp xã hội, các khu vực dân cư, các hoạt động nghề nghiệp Văn hóa giới, văn hóa người cao tuổi, văn hóa các bậc trung niên, nhân cách văn hóa thanh thiếu niên, văn hóa nông nghiệp, văn hóa công nghiệp, văn hóa thương nghiệp, văn hóa công sở đều gắn với phạm vi điều chỉnh của các chính sách phát triển văn hóa ở nước ta hiện nay Các chính sách này đều hướng vào việc tăng trưởng, làm giàu đời sống vật chất và đời sống tinh thần cho mọi thành viên trong xã hội; tìm kiếm, nuôi dưỡng các tài năng xuất sắc, phát triển văn hóa đỉnh cao
Để tăng trưởng nguồn lực con người, chúng ta cần phát triển khoa học Tuy nhiên, văn hóa rộng hơn khoa học Văn hóa gắn với lịch sử và cả tiền sử nữa Thần thoại, anh hùng ca, những lý tưởng và mơ ước, những khát vọng và đời sống tâm linh, các tín ngưỡng, niềm tin tôn giáo đều là sinh hoạt văn hóa của con người Nhân loại bước vào thiên niên kỷ thứ ba, nhiều dân tộc văn minh vẫn còn thiết lập chế độ quân chủ lập hiến Niềm tin tôn giáo, niềm tin về một đất nước có thiên hoàng vẫn tồn tại ở một số nơi Vì thế, các chính sách phát triển văn hóa của chúng ta không thể không định hướng tới niềm tin, tín ngưỡng và đời sống tâm linh của con người Các trò chơi, những biểu tượng, tập quán đạo đức và nhiều hoạt động tinh thần khác của con người phát triển song hành cùng khoa học; nhiều hoạt động văn hóa không thể giải thích cặn kẽ được bằng khoa học
Các hoạt động văn hóa của con người không chỉ gắn với xã hội mà còn gắn với tự
nhiên, với sự phát triển của chính bản thân con người Con người là một bản thể tự
nhiên - xã hội Việc phát triển chính bản thân con người, thông qua lao động, cũng gắn với điều kiện tự nhiên Vì thế, chính sách phát triển văn hóa ở nước ta hiện nay nhằm tăng trưởng nguồn lực con người phải bao gồm các hệ chính sách gắn con người với tự nhiên Việc gắn con người với tự nhiên không chỉ là lý luận đơn thuần mà còn có tính chất thực tiễn, tính thời đại sâu sắc, khi mà hiện nay, khoa học – công nghệ – kinh tế phát triển tới mức hủy hoại môi trường sống của chúng ta Các chính sách phát triển
Trang 6
văn hóa quan tâm tới mối quan hệ giữa con người và hệ sinh thái không những tạo điều kiện cho sự phát triển văn hóa du lịch, mà còn đảm bảo cho sự phát triển xã hội bền vững
Sáng tạo nghệ thuật là một hoạt động văn hóa mang tính người sâu sắc Nó không chỉ
là niềm đam mê, khát vọng và sự tự nhận thức của con người, mà còn là lĩnh vực của văn hóa phản ánh, văn hóa giáo dục, tự giáo dục và giáo dục lại Sáng tạo nghệ thuật
ở nước ta hiện nay đang đặt ra rất nhiều vấn đề có liên quan đến chính sách phát triển văn hóa Vì sao chúng ta chưa có những tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao? Vì sao trong lĩnh vực biểu diễn của chúng ta còn nhiều vấn đề cần phải bàn đến như vậy? Vì sao trong lĩnh vực hội họa, điêu khắc, kiến trúc vẫn còn những luồng ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập với nhau? Những vấn đề của thưởng thức nghệ thuật, đánh giá nghệ thuật, sáng tạo nghệ thuật, lưu giữ nghệ thuật, hơn lúc nào hết, cần thiết có một hệ chính sách đủ mạnh để thúc đẩy phát triển Đường lối phát triển nghệ thuật của Đảng ta đã từng được cụ thể hóa trong nhiều chính sách phát triển nhân tài, xã hội hóa các hoạt động nghệ thuật Tuy nhiên, các chính sách ấy khi đi vào đời sống hình như vẫn chưa có được tác động mạnh mẽ để duy trì nghệ thuật truyền thống, phát triển mạnh mẽ nghệ thuật sân khấu, nghệ thuật điện ảnh, lôi cuốn thêm nhiều công chúng mới Các văn nghệ sĩ đang rất chờ đợi một chính sách đột phá, nâng cao mọi mặt đời sống và nghề nghiệp của họ Chính sách phát triển văn hóa của chúng ta cần quan tâm hơn đến tình hình thực tế của hoạt động nghệ thuật Cần phải có một chính sách phát triển nghệ thuật toàn diện, đủ mạnh để nâng cao hơn nữa chất lượng nghệ thuật trong thời điểm đặc biệt của giao lưu văn hóa hiện nay
Đời sống của mọi hình thái xã hội đều có các thiết chế văn hóa Các thiết chế văn hóa
này vừa có lịch sử hình thành lâu đời, vừa có tính thời đại do những yêu cầu phát triển của mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi mục tiêu phát triển văn hóa đòi hỏi Đó là các thiết chế của các quá trình xã hội hóa lao động, của sinh hoạt tín ngưỡng, tâm linh, tôn giáo, gia đình, nhà văn hóa, thư viện, thông tin, màn hình, nhà xuất bản Các chính sách văn hóa của chúng ta phải tác động vào các loại hình thiết chế ấy Tuy xuất hiện từ rất sớm, nhưng thiết chế lao động, thiết chế tín ngưỡng tôn giáo, thiết chế gia đình đóng vai trò quan trọng trong các chế độ xã hội, các phương thức sản xuất khác nhau và cả hiện nay
Trang 7
nữa Nếu chúng ta coi lao động là nguồn gốc của mọi giá trị, là nghĩa vụ thiêng liêng, là trách nhiệm xã hội của mỗi người thì các chính sách văn hóa phải điều chỉnh thiết chế văn hóa này sao cho nó gắn liền với mục tiêu cao cả của chủ nghĩa xã hội là mang giá trị của con người trả lại cho con người
Trong số các thiết chế văn hóa, ở thời điểm hiện nay, thiết chế gia đình có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng Vấn đề gia đình không chỉ liên quan tới các quan hệ lao động, kinh tế, sự hòa hợp giới tính, mà còn liên quan đến thế hệ trẻ, đến đạo đức, sự thủy chung, nhân cách và sự ổn định từ lòng sâu của xã hội, khi các rung chuyển về kinh tế diễn ra hàng ngày và mạnh mẽ
Trước đây, trong đường lối và trong các chính sách văn hóa, chúng ta đã quan tâm xây dựng các gia đình văn hóa Các chính sách đó đã có tác dụng gìn giữ một số giá trị tốt đẹp trong gia đình Tuy nhiên, hiện nay, làn sóng tin học diễn ra rất mạnh mẽ, làn sóng đầu tư ập tới các vùng nông thôn rộng lớn, làn sóng xuất khẩu lao động nóng lên từng ngày làm cho các quan hệ nhân tính trong gia đình lỏng lẻo dần và nguy cơ mâu thuẫn thế hệ đang gia tăng mạnh mẽ Trước tình hình như vậy, các chính sách phát triển văn hóa khi quan tâm đến việc hoàn thiện các loại hình thiết chế văn hóa nên đặc biệt có một hệ chính sách đủ mạnh để tạo cho mối quan hệ giữa nhà - làng - nước ngày càng trở nên tốt đẹp
Cần phải nói rằng, chúng ta đã từng có đường lối và chính sách định hướng, điều chỉnh các loại hình thiết chế văn hóa đúng đắn Tuy nhiên, trong nhiều chính sách phát triển thiết chế văn hóa, chúng ta vẫn chưa tạo được một cơ chế để vận hành thật hiệu quả chúng trong thực tế Quan hệ văn hóa, bên cạnh tính ổn định còn có bản chất động, có sự biến đổi nhất định, do hoạt động thực tiễn đặt ra Đó là các ứng xử thường nhật và luôn có những biến dạng Vì thế, khi hoạch định chính sách phát triển các thiết chế văn hóa cần phải lường trước các dao động này để hình thành cơ chế hợp lý vận hành nó
Tính thiếu thực tế hầu như là cội nguồn của những chính sách tốt đẹp mà ít hiệu
quả Các chính sách phát triển văn hóa của chúng ta trong giai đoạn hiện nay phải
thích ứng với những vấn đề mà đời sống đặt ra và cách giải quyết có thể được về những vấn đề ấy
Trang 8
Chính sách văn hóa của chúng ta gắn liền với sự phát triển Nhà nước ta Nhà nước
của chúng ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, vận hành vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Không giống một số kiểu nhà nước khác hoạch định chính sách văn hóa với những chuẩn mực từ trên xuống, đối trọng với các chuẩn mực từ dưới lên của nhân dân lao động, chính sách văn hoá của Nhà nước ta luôn vì mục tiêu sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của tuyệt đại đa số nhân dân Chính sách phát triển văn hóa của chúng ta vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Tuy nhiên, do hiểu lầm mục tiêu này và duy nhất hóa nó cho nên trong hoạt động thực
tế, nhiều địa phương đã không chú ý đến sự phát triển đa dạng văn hóa.Nhân danh
chính sách phát triển văn hóa của nhà nước, không ít cơ quan tiến hành chỉ đạo văn hóa
đã chính trị hóa, đồng phục hóa, duy nhất hóa các quan hệ văn hóa nào đó Nền văn hóa của chúng ta là một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng; chính sách văn hóa của nhà nước ta không chỉ đảm bảo cho văn hóa của các tộc người được gìn giữ bản sắc; văn hóa của các nhóm nhỏ được duy trì; các tín ngưỡng, tôn giáo được tự do mà cả liên văn hóa
và quyền con người cũng tuyệt đối được tôn trọng Mọi sự sáng tạo và hưởng thụ văn hóa đều được thừa nhận trong khuôn khổ luật pháp Những nhận thức về sự khác biệt văn hóa được duy trì Chúng ta đã thiết lập những cơ chế dân chủ và đang hoàn thiện
thiết chế dân chủ Dân chủ hoá đời sống văn hóa là bản chất, là mục tiêu của mọi chính
sách phát triển văn hóa của chúng ta
Trong hoạt động văn hoá, Nhà nước ta chấp nhận mọi sự phản biện xã hội lành mạnh, nó không chỉ đề ra các chính sách phát triển sáng tạo và hưởng thụ văn hóa,
mà còn có những chính sách răn đe, phòng ngừa các phản văn hóa, phi văn hóa, vô
văn hóa, văn hóa thấp xuất hiện trong các quan hệ xã hội Hơn bao giờ hết, ở thời điểm nhạy cảm hiện nay, có những luồng văn hóa độc hại không phù hợp với bản chất của chế độ ta, đang lợi dụng các làn sóng thông tin, tự do, nhân quyền làm phá hỏng những giá trị văn hóa tốt đẹp, những định hướng văn hóa đúng đắn của chúng
ta Để phát triển được nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, để cho văn hóa trở thành nền tảng tinh thần của xã hội trong thời kỳ hội nhập hiện nay, nhất thiết trong các chính sách phát triển văn hóa mới phải có hệ chính sách ngăn chặn các
Trang 9
phản văn hóa
Nhiệt độ văn hóa trong xã hội ta hiện nay đang tăng lên từng ngày bởi các phản văn hóa Các chính sách phát triển văn hóa của chúng ta chưa đủ mạnh để kiểm soát được các làn sóng tin học lạ lẫm; chưa củng cố được các gia đình ấm no, hòa thuận, hạnh phúc; chưa ngăn chặn được nạn trộm cắp, mại dâm, nghiện hút, cờ bạc, cướp giật, tham nhũng, đề đóm, rượu chè Trong điều kiện hiện nay, chính sách xây và chống trong phát triển văn hóa phải tạo ra mối liên hệ biện chứng Xây để chống, chống để xây và vì chúng ta xây tích cực nên chúng ta phải chống tiêu cực mạnh
Có thể nói, phạm vi điều chỉnh của các chính sách phát triển văn hóa ở nước ta hiện nay phải bao quát được các quan hệ vật chất và tinh thần của con người với tự nhiên, với xã hội, với sự phát triển của bản thân con người Các chính sách ấy vừa phải có định hướng lâu dài, vừa phải đáp ứng được thực tiễn văn hoá nóng bỏng hiện nay; hướng tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp; thu hút được mọi nguồn lực và chứa đựng tinh thần khoan dung sâu sắc Bên cạnh đó, hiện nay, trong đời sống xã hội ta, còn rất nhiều quan hệ văn hóa lạc hậu Chính sách phát triển văn hóa cần hướng vào xóa bỏ các cản trở đó trong quá trình “xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam”(1), phát triển nội lực của con người Việt Nam trong thế kỷ mới.r
(*) GS,TS triết học
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.106
VẤN ĐỀ XÂY DỰNG Ý THỨC XÃ HỘI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Nguyễn Thị Nga (*)
Trong công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng ý thức xã hội mới là vấn đề bức thiết Xây dựng ý thức xã hội mới là sự nghiệp của toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, trên cơ sở xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” Xây dựng ý thức xã hội mới, chúng ta cần phải đẩy mạnh công cuộc xây dựng đời sống kinh tế mới, văn hoá mới, con người
Trang 10dựng xã hội mới, tất yếu phải xây dựng ý thức xã hội mới và việc xây dựng ý thức xã
hội mới trở thành một nhiệm vụ của công cuộc xây dựng xã hội mới
Có thể hiểu ý thức xã hội mới mà chúng ta đang xây dựng là toàn bộ quan điểm, tư tưởng, tình cảm, tâm trạng của xã hội mới mà hạt nhân là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước phản ánh lợi ích căn bản của nhân dân nhằm phục vụ công cuộc xây dựng xã hội mới Trên thực tế, ý thức xã hội mới đó biểu hiện rất phong phú, đa dạng Ngoài hệ tư tưởng, nó còn được biểu hiện ra ở tâm trạng, tình cảm, nhu cầu và cả thói quen, phong tục, tập quán của cộng đồng xã hội
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đã xác định: "Xã hội xã hội chủ
nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước
mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng tiến bộ; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; có quan hệ hữu nghị
và hợp tác với các nước trên thế giới" (1) Có thể nói, mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa
mà Đảng ta đã xác định đó là định hướng có tính chiến lược trong việc xây dựng ý thức xã hội mới ở nước ta hiện nay
Cùng với định hướng cơ bản trong việc phát triển các lĩnh vực của đời sống xã hội, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X cũng tiếp tục khẳng định một số định lớn trong quá trình xây dựng ý thức xã hội mới Vấn đề này có thể khái quát lại trên một số điều cơ bản sau:
Trang 11
Thứ nhất, xây dựng ý thức xã hội mới là sự nghiệp của toàn dân, đặt dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Về bản chất, xã hội mới là xã hội dân chủ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:
"I - NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ
Bao nhiêu quyền lợi đều vì dân
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân
Công cuộc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân
Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân
Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân" (2)
Đây là tư tưởng cơ bản khẳng định chủ thể tích cực cũng là đối tượng phục vụ chính của xã hội mới Ý thức xã hội mới phản ánh lợi ích của nhân dân và chính do nhân dân xây dựng Tinh thần này được thể hiện trong các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước, trong các chính sách cụ thể của từng ngành, từng địa phương Vì vậy, mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều có sự tham gia xây dựng của nhân dân, phản ánh lợi ích của nhân dân Nhân dân có quyền và trách nhiệm trong việc xây dựng, hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; xây dựng, tuyên truyền, quảng bá, phát triển ý thức xã hội mới
Như vậy, có thể nói, sự nghiệp đổi mới không thể thành công nếu thiếu sự đóng góp của nhân dân; công cuộc xây dựng nền văn hoá mới, bảo tồn giá trị truyền thống dân tộc, kế thừa những cái tốt, lọc bỏ những thói hư tật xấu, chống sự xuyên tạc, bóp méo của các thế lực thù địch, không thể thành công nếu thiếu sự đóng góp của nhân dân Mặt khác, phải thấy rằng, việc xây dựng ý thức xã hội mới cũng không thể thành công nếu thiếu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản - đội tiên phong của giai cấp cách mạng, cũng là đội tiên phong của toàn dân tộc, bởi Đảng ta là một tổ chức chính trị bao gồm những cá nhân ưu tú nhất của xã hội
Tuy nhiên, để làm tốt vai trò lãnh đạo, Đảng phải đổi mới, tự chỉnh đốn nhằm nâng cao năng lực, sức chiến đấu mà trước hết là bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ của Đảng
Trang 12
Thứ hai, xây dựng ý thức xã hội mới trên cơ sở đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng và
phát triển nền văn tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho văn hoá thực sự trở thành mục tiêu, động lực của phát triển, thành nền tảng tinh thần của xã hội
Sự phát triển xã hội không chỉ có đời sống vật chất, mà còn có đời sống tinh thần Đó
là hai mặt không thể thiếu và giữa chúng có sự gắn bó, tác động tương hỗ có thể làm giàu, phong phú cho nhau và cũng có thể kìm hãm nhau trong quá trình phát triển Bên cạnh kinh tế, văn hoá luôn đóng vai trò quyết định trong quá trình phát triển và
sự trường tồn của mỗi quốc gia, dân tộc Hơn nữa, từ trong bản chất, văn hoá đã mang tính nhân văn, chứa đựng cái đúng, cái tốt, cái đẹp được cộng đồng dân tộc sáng tạo, lưu giữ, truyền lại cho thế hệ sau thành truyền thống văn hoá, thành hồn thiêng dân tộc Các truyền thống này được chuyển tải vào các lĩnh vực chính trị, đạo đức, pháp luật, nghệ thuật, tôn giáo, v.v tạo thành môi trường văn hoá nuôi dưỡng đời sống tinh thần mỗi cá nhân và cả cộng đồng Trong điều kiện hiện nay, văn hoá còn đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế thị trường theo hướng phát triển bền vững, hạn chế bớt những mặt trái của kinh tế thị trường Chính vì vậy, xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là nội dung cốt lõi trong đời sống tinh thần xã hội, là nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp xây dựng
xã hội mới
Quan điểm xây dựng và phát triển nền văn tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã được
Đảng ta đề cập đến từ rất sớm, được phản ánh trong Đề cương văn Việt Nam (năm 1943), trong các văn kiện sau đó của Đảng Ngay trong Đề cương văn hoá Việt Nam,
Đảng ta đã xác định văn hoá là một trong ba mặt trận: kinh tế, chính trị, văn hoá và
ba mặt trận này có quan hệ biện chứng với nhau, tạo thành động lực đưa cách mạng tới thành công Và cũng ở đây, văn hoá được xác định "gồm cả tư tưởng, học thuật, nghệ thuật" Như vậy, văn là cốt lõi của ý thức xã hội và xây dựng nền văn mới là cốt lõi của việc xây dựng ý thức xã hội mới Với quan niệm đó, Đảng ta đã xác định
ba phương châm xây dựng văn mới là: dân tộc, khoa học và đại chúng
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được
thông qua tại Đại hội VII (1991), Đảng ta đã chỉ rõ, xã hội mà chúng ta xây dựng là
xã hội có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Mốc đánh giá sự đổi mới toàn diện trong tư duy về văn của Đảng thể hiện ở Nghị quyết Trung ương 5 khóa
Trang 13
VIII Về xây dựng và phát triển nền văn Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Trong Văn kiện này, Đảng ta đã khẳng định: trong quá trình xây dựng nền văn mới, chúng ta không chỉ chú ý giữ gìn, kế thừa những giá trị và bản sắc văn dân tộc, mà còn phải chú trọng tiếp thu, kế thừa tinh hoa văn của nhân loại
Thứ ba, xây dựng ý thức xã hội mới gắn với việc tăng cường học tập lý luận, tuyên
truyền, giáo dục, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho hệ tư tưởng của Đảng trở thành nền tảng và kim chỉ nam cho nhận thức, hành động của toàn Đảng và nhân dân
Bài học đầu tiên từ 5 bài học lớn mà Đảng ta đã rút ra sau 20 năm đổi mới là: "Trong
quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh" Đây không phải là mới, bởi
tinh thần này đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra ngay từ những ngày đầu cách mạng Năm 1939, khi đưa ra quan điểm của mình về đường lối, của Đảng trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ (1936-1939), Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: " Phải tổ chức học tập có hệ thống chủ nghĩa Mác - Lênin để nâng cao trình độ văn và chính trị cho các đảng viên"(3) Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đi vào giai đoạn quyết định, trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II, Người đã khẳng
định: "Học tập chủ nghĩa, dùi mài tư tưởng, nâng cao lý luận, tổ chức - là những
việc cần thiết của Đảng"(4) Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, trong Diễn văn khai mạc, một lần nữa, Người khẳng định: "Chúng ta phải ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tăng cường giáo dục tư tưởng trong Đảng"(5) Vấn đề này tiếp tục được Đảng ta khẳng định qua các thời kỳ cách mạng Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay,
nó được coi là một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng Bởi lẽ, để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, bên cạnh yêu cầu về năng lực, trình độ chuyên môn, đạo đức cách mạng, đảng viên còn phải có phẩm chất chính trị tốt, kiên định lập trường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Do vậy, xây dựng ý thức xã hội mới cần tiếp tục tăng cường hoạt động lý luận, nghiên cứu sâu rộng và có những bổ sung về lý luận để làm phong phú kho tàng tri thức của chủ nghĩa Mác - Lênin trong tình hình mới
Thứ tư, xây dựng ý thức xã hội mới cần ý thức sâu sắc sự kết hợp chặt chẽ giữa
“xây” và “chống”
Trang 14
Ý thức xã hội mới là cốt lõi trong đời sống tinh thần xã hội mới; nó không hình thành một cách tự phát trong lòng xã hội cũ; nó cần được chủ động nhận thức, xây dựng, truyền bá thành ý thức chung của con người trong xã hội mới, thành động lực tinh thần của con người trong quá trình xây dựng xã hội mới Vì vậy, cần xây dựng ý thức
xã hội mới đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập Trước hết, đó là tri thức, tình cảm, quyết tâm kiên định con đường xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Bên cạnh đó, cần trang bị cho con người những tri thức mới của thời đại, tri thức về kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, đặc biệt là những tri thức về khoa học và công nghệ Đó là yêu cầu tiên quyết trong quá trình xây dựng xã hội ta hiện nay Đi cùng với nó là việc bồi dưỡng lý tưởng sống, hoài bão, ước mơ, khát vọng cống hiến, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ Ngoài ra, cần đẩy mạnh việc xây dựng và phát huy ý thức làm chủ trong nhân dân, bồi dưỡng và phát huy lòng yêu nước, ý thức về dân tộc và tinh thần đoàn kết dân tộc; nâng cao ý thức phòng chống tham nhũng, lãng phí, trước hết là trong đội ngũ cán bộ Đảng viên
Cùng với việc xây dựng, bồi dưỡng ý thức xã hội mới, cần chống những biểu hiện cản
trở sự nghiệp xây dựng đó Về hệ tư tưởng, đó là việc tập trung khắc phục tình trạng
suy thoái về tư tưởng chính trị trong một bộ phận cán bộ, đảng viên với các biểu hiện như: dao động về lý tưởng, mục tiêu và con đường phát triển của dân tộc; phủ nhận thành quả cách mạng và giá trị truyền thống của dân tộc; thiếu thống nhất với các quan điểm, chủ trương của Đảng, từ đó nói và làm không theo đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; ý thức mất cảnh giác trước âm mưu và thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch; không kịp thời và kiên quyết phê phán, đấu tranh với những ý kiến, quan điểm sai trái Tại hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ chín khoá IX, Đảng ta đã nhấn mạnh: "Thường xuyên chỉ đạo uốn nắn những nhận thức lệch lạc, mơ hồ, những biểu hiện dao động về tư tưởng, suy giảm niềm tin vào chủ nghĩa xã hội và sự lãnh đạo của Đảng, đấu tranh không khoan nhượng chống chủ nghĩa cá nhân, những biểu hiện cơ hội, thực dụng, bè phái, cục bộ, phê phán bác bỏ các quan điểm sai trái thù địch, chủ động đối phó với các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc và nhân quyền chống phá cách mạng nước ta"(6)
Trang 15
Không dừng ở góc độ hệ tư tưởng trong tâm lý xã hội cũng cần có những biểu hiện phải khắc phục Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở: “Thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là kẻ địch to; nó ngấm ngầm ngăn trở cách mạng tiến bộ”(7) Hiện nay, chúng ta cần phải khắc phục những biểu hiện tâm lý vốn được coi là hậu quả của nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp - tâm lý thụ động, trông chờ, ỷ lại, xin cho, đối phó; khắc phục tâm lý của nền kinh tế tiểu nông, sản xuất nhỏ lâu dài của lịch sử và hiện vẫn còn tồn tại là tâm lý lạc hậu, kinh nghiệm chủ nghĩa, tuỳ tiện, đố kỵ, coi thường pháp luật và cả những tâm lý vốn khá phổ biến ở những nước chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo, như tâm lý trọng nam khinh nữ, tâm lý gia trưởng Đặc biệt, trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, những tâm lý này còn có nhiều biểu hiện, biến tướng và gây hậu quả nặng nề, biến họ thành những kẻ cơ hội, cá nhân chủ nghĩa, v.v
Xây dựng ý thức xã hội mới là quá trình lâu dài, phức tạp, để có hiệu quả, chúng ta phải thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Thứ nhất, đẩy mạnh công cuộc xây dựng đời sống kinh tế mới, văn hoá mới, con
người mới Nghiên cứu sự vận động của lịch sử qua các thời kỳ, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khái quát: “Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ”(8) Ý thức xã hội mới luôn
bị chi phối bởi điều kiện sinh hoạt vật chất, điều kiện kinh tế của xã hội mới Vì vậy, xây dựng ý thức xã hội mới phải bắt đầu từ việc xây dựng đời sống vật chất của xã hội mới Những biểu hiện lệch lạc trong đời sống tinh thần ở xã hội ta thời gian qua
có nguyên nhân từ những yếu kém trong công tác tư tưởng, nhưng cũng có nguyên nhân từ những kết quả còn rất hạn chế trong việc xây dựng nền kinh tế mới Bên cạnh đó, xây dựng ý thức xã hội mới cũng phụ thuộc rất nhiều vào kết quả xây dựng nền văn hoá mới, con người mới, bởi giữa kinh tế, văn hoá và con người luôn có mối liên hệ chặt chẽ, gắn bó mật thiết với nhau, chi phối và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau
Thứ hai, không ngừng hoàn thiện ý thức xã hội mới theo hướng khoa học, cách
mạng, tiến bộ, đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội mới, con người mới
Về mặt lý luận, chúng ta cần đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, kịp thời làm sáng tỏ những vấn đề lý luận mà cuộc sống đang đặt ra, như vấn đề phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề xây dựng Đảng cầm
Trang 16Thứ ba, tăng cường công tác tư tưởng phải đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, phát
huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong quá trình tuyên truyền, giáo dục ý thức xã hội mới
Trong công tác tư tưởng, chúng ta cần bám sát thực tiễn, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và tìm ra những vướng mắc trong tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân
để kịp thời giải đáp Tăng cường vai trò của báo chí, của các phương tiện thông tin đại chúng khác trong việc tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, định hướng dư luận theo chiều hướng tích cực, đồng thời phê phán những quan điểm sai trái, luận điệu phản động Trong công tác giáo dục, tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin, cần tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức để việc tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin hiệu quả hơn
Thứ tư, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, mở rộng dân chủ, khơi dậy tính chủ
động, tự giác của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân
Xây dựng ý thức xã hội mới là quá trình đấu tranh gay go, phức tạp nhằm khắc phục những tư tưởng, tập quán lạc hậu, làm thất bại cuộc tấn công về tư tưởng của các thế lực phản động, kế thừa những giá trị tích cực trong truyền thống và hình thành ý thức
xã hội mới Đây là quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi tính tự giác cao Vì vậy, thông qua chủ trương, chính sách, Đảng cần phải khắc phục những biểu hiện của khuynh
Trang 17
hướng coi nhẹ vai trò của nhân tố tư tưởng, chính trị, đạo đức Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức trong các cơ quan báo chí, khắc phục những biểu hiện lệch lạc trong hoạt động báo chí, xuất bản, văn hoá, văn nghệ, nhất
là những biểu hiện xa rời tôn chỉ, mục đích, chạy theo thị hiếu thấp kém Cùng với
sự lãnh đạo của Đảng, cần mở rộng các hình thức dân chủ để nhân dân có thể tham gia vào quá trình xây dựng ý thức xã hội mới một cách chủ động và trực tiếp
Sự nghiệp xây dựng ý thức xã hội mới phải là quá trình tự giác, cần sự đóng góp của tất cả mọi người, trong đó đội ngũ cán bộ, đảng viên, các chủ thể lãnh đạo, quản lý
có vai trò đặc biệt quan trọng
(*) Tiến sĩ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 17 - 18
[2] Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5 Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr 698
[3] Hồ Chí Minh Sđd., t.3, tr 139
(4) Hồ Chí Minh Sđd., t.6, tr 167
(5) Hồ Chí Minh Sđd., t.10, tr 201
(6) Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ
chín, khoá IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.147
Trang 18
Vũ Văn Viên (*)
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đang đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi công tác nghiên cứu lý luận cần phải giải quyết Để giải đáp được các vấn đề mà thực tiễn đất nước đặt ra, chúng ta cần phải đổi mới và nâng cao chất lượng của công tác nghiên
cứu lý luận, trong đó có đổi mới công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học
Quá trình đổi mới công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học thời gian qua đã đem lại diện mạo mới cho sự phát triển của triết học Triết học đã có những đóng góp nhất
định trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Tuy nhiên, theo chúng tôi, một
mặt, trong thời gian tới, chúng ta cần phải tiếp tục đổi mới hơn nữacông tác nghiên
cứu và giảng dạy triết học Mặt khác, trong quá trình đổi mới công tác nghiên cứu và
giảng dạy triết học, chúng ta cần chú trọng hơn đến kiến thức cơ bản Kiến thức cơ bản là cái cốt lõi vừa làm nên nội dung, vừa thể hiện bản chất của mỗi học thuyết triết học Nó có giá trị bền vững mà các ví dụ minh họa cụ thể không thể thay thế được Nắm vững kiến thức cơ bản là chìa khoá để người nghiên cứu, người học tập triết học đi vào chiều sâu của học thuyết và vận dụng sáng tạo, đúng đắn, khoa học vào những công việc cụ thể mà mình quan tâm, giải quyết
1 Sự cần thiết phải tiếp tục đổi mới công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học Mác – Lênin
Trong thời gian qua, chúng ta đã có những đổi mới nhất định về công tác nghiên cứu
và giảng dạy triết học Về đào tạo, chúng ta thường xuyên tổ chức giảng dạy triết học
nói chung, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng cho các tầng lớp cán bộ, đảng viên các cấp, các ngành Nhờ vậy, năng lực tư duy lý luận khoa học, trong đó có tư duy triết học được nâng cao Điều đó đã góp phần nâng cao năng lực công tác của đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp, các ngành Hiệu quả công tác
lãnh đạo, quản lý phát triển kinh tế – xã hội ngày càng rõ Về nghiên cứu, chúng ta
đang thực hiện gắn việc nghiên cứu khoa học nói chung, nghiên cứu triết học nói riêng với các vấn đề của thực tiễn đất nước Nhờ đó, công tác nghiên cứu triết học đã gắn bó với thực tiễn hơn Triết học cùng với các ngành khác đã góp phần nhất định vào việc giải quyết các vấn đề do lý luận và thực tiễn đặt ra Những thành tựu do việc đổi mới công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học đem lại là không thể phủ nhận
Trang 19
Tuy nhiên, có thể khẳng định công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được những yêu cầu mà thực tiễn đất nước đặt ra Vì
vậy, cần phải tiếp tục đổi mới công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học hơn nữa
Trong đổi mới công tác nghiên cứu và giảng dậy triết học thời gian tới, chúng ta cần
chú ý tới kiến thức cơ bản và tính toàn diện của triết học Mác – Lênin
Việt Nam là một nước chậm phát triển Trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế, để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng nước ta thành một nước dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, Đảng và Nhà
nước ta đã đưa ra chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế nhằm tranh thủ
các thời cơ mà toàn cầu hoá đem lại, chủ động khắc phục những hạn chế của nó, đặc biệt là những tác động tiêu cực trong lĩnh vực chính trị – xã hội
Từ thực tế đầy phức tạp của toàn cầu hoá, để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần phải có những định hướng và giải pháp đúng đắn, khoa học trong quá trình hội nhập quốc tế nói riêng, phát triển đất nước nói chung Chỉ có xây dựng được một chiến lược phát triển đúng đắn, chúng ta mới tạo ra được những bước đi vững chắc để đẩy nhanh quá trình phát triển đất nước, tránh tụt hậu và đảm bảo theo kịp các nước tiên tiến Triết học phải góp phần quan trọng vào việc giải quyết vấn đề nêu trên
Như đã biết, trong quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã xác định giáo dục - đào tạo là quốc sách, phát triển khoa học - công nghệ là trung tâm Như vậy, có thể nói, trong sự nghiệp đổi mới, Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng công tác giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học, trong đó có nghiên cứu và giảng dạy triết học Thực hiện chủ trương trên, trong thời gian vừa qua, chúng ta đã có những đổi mới căn bản về giáo dục, đào tạo; chẳng hạn, đã tăng mức đầu tư cho giáo dục - đào tạo, từng bước xã hội hoá, đa dạng hoá các loại hình giáo dục - đào tạo; từng bước đổi mới chương trình và phương pháp giáo dục - đào tạo,… tăng cường đầu tư cho khoa học, gắn nghiên cứu khoa học với thực tiễn,… Những đổi mới trên đã góp phần nhất định vào sự nghiệp phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ ở nước ta thời gian qua Tuy nhiên, so với các yêu cầu của thực tiễn đất nước, thì công tác giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học vẫn còn nhiều bất cập Cùng chung bối cảnh ấy, công
Trang 20
tác nghiên cứu và giảng dạy triết học cũng còn nhiều hạn chế Để giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ thực hiện được vị trí “quốc sách”, “trung tâm”, chúng ta cần phải đẩy mạnh hơn nữa công cuộc đổi mới giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học nói chung, đổi mới hơn nữa công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học nói riêng
Có một lý do quan trọng nữa để tiếp tục đổi mới hơn nữa công tác nghiên cứu và
giảng dạy triết học, đó là vị trí đặc thù của triết học trong hệ thống khoa học Triết học với các chức năng chủ đạo là thế giới quan, phương pháp luận, nhận thức luận, một mặt, phải tham gia tích cực vào quá trình hoạch định đường lối đổi mới, đường lối chiến lược, sách lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước, cũng như việc giải quyết các vấn đề thực tiễn đất nước trong bối cảnh quốc tế hiện nay Cùng với điều
đó, triết học phải tham gia một cách tích cực hơn nữa vào sự phát triển của khoa học nước nhà Ở khía cạnh này, triết học không chỉ và không nên chỉ dừng lại ở vấn đề bản thể luận chung (cái gì có trước, cái gì có sau), phương pháp luận chung (biện chứng hay siêu hình) mà phải cùng với các khoa học khác phát hiện, xây dựng và luận giải những vấn đề cơ bản của khoa học, công nghệ và đời sống hiện đại Chẳng
hạn, triết học cần phải quan tâm hơn nữa về các công cụ nhận thức mới Thông
thường, các công cụ này được các ngành khoa học khác phát hiện, song triết học phải góp phần làm rõ cơ sở khách quan của chúng cũng như giá trị nhận thức và thực tiễn
mà chúng đem lại; chẳng hạn, những công cụ nhận thức mà lôgíc học hiện đại xây dựng cần được triết học lý giải trên bình diện thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng nhằm làm sâu sắc thêm giá trị của chúng Đồng thời với sự tham gia này mà triết học tự làm giàu thêm hệ thống khái niệm, phạm trù của mình, cũng như của khoa học nói chung Nói một cách khái quát, việc nghiên cứu và giảng dạy triết học phải được triển khai một cách toàn diện hơn, không chỉ giới hạn theo cách mà các giáo trình hiện nay vẫn làm Ngoài phần chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử ra, còn cần phải có những nội dung khác
2 Phải chú trọng đến kiến thức cơ bản trong quá trình đổi mới công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học Mác- Lênin
Rõ ràng, việc tiếp tục đổi mới công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học là một nhu cầu bức xúc hiện nay Nó phản ánh tính tất yếu khách quan trong sự phát triển khoa
Trang 21
học, cũng như trong bối cảnh phát triển đất nước
Sự đổi mới này cần phải được tiến hành từ nhiều góc độ khác nhau Bên cạnh việc nghiên cứu, giảng dạy những vấn đề thời sự của đất nước đang đặt ra, chúng tôi cho
rằng, cần phải chú trọng thích đáng đối với kiến thức cơ bản, tránh xu hướng chạy
theo những vấn đề trước mắt mà lãng quên các vấn đề cơ bản Với suy nghĩ như
vậy, chúng tôi sẽ đề cập đến một vài điểm cụ thể mang tính gợi mở, góp phần nâng cao việc chú trọng đến kiến thức cơ bản trong nghiên cứu và giảng dạy triết học thời gian tới
Thứ nhất, phải tăng cường nghiên cứu và giảng dạy các quy luật, phạm trù… (gọi
chung là những kiến thức cơ bản) của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử Có thể dễ dàng nhận thấy rằng do những nhu cầu thực tế trước mắt,
trong thời gian qua, các nghiên cứu triết học đã cố gắng bám sát những vấn đề do thực tiễn đất nước đặt ra Nhìn tổng thể, chúng ta thấy các đề tài nghiên cứu, kể cả các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ thường tập trung vào những lĩnh vực này Đây là hướng đi đúng Song, nếu chỉ chú ý đến các nghiên cứu ứng dụng - thậm chí đã có những luận án, luận văn quá sa đà vào những vấn đề quá cụ thể của cuộc sống nên đã dẫn đến tình trạng ít tính triết học - thì lại là một thiết sót, nếu không muốn nói là sai lầm Triết học, mặc dù có vị trí đặc thù như đã nói trên, nhưng nó không thể và không đủ khả năng để làm thay các ngành khác, và cũng cần phải nhấn mạnh thêm rằng, nó không thể làm thay chính trị Trong thời gian qua, sự phân biệt này đôi khi chưa rõ Mặc dù triết học phải phục vụ chính trị, là cơ sở lý luận cho chính trị nhưng không thể thay thế chính trị, lẫn lộn với chính trị Để khắc phục những hạn chế trên, theo chúng tôi, trong thời gian tới, cùng với những đề tài có tính chất “thời sự”, chúng ta cần tăng cường công tác nghiên cứu cơ bản Ngoài các đề tài nghiên cứu cấp cơ sở, cần có nhiều đề tài cấp bộ, cả đề tài cấp Nhà nước nữa về nghiên cứu cơ bản
Về công tác giảng dạy, chúng tôi thấy có tình trạng trong các bài giảng do quá nhấn mạnh vấn đề vận dụng mà vô tình đã làm loãng việc nắm bắt các tri thức cơ bản Trong các sách giáo khoa hiện nay, số lượng các trang viết về sự vận dụng quá nhiều Khi giảng dạy và học tập, người thầy lại quá nhấn mạnh vào phần vận dụng
Trang 22
(vì đó mới là cái mới), trò cũng phải cố nhớ cái mới ấy, từ đó mà việc bị hổng kiến thức cơ bản là chuyện dễ hiểu Hơn thế, các phần vận dụng, minh hoạ này cũng hết sức thiên lệch Chúng ta ít thấy, nếu không nói là không thấy những minh hoạ, những vận dụng trong tự nhiên, trong khoa học, công nghệ mà chủ yếu là trong lĩnh vực xã hội, chính trị Điều đó, một mặt, dễ gây tâm lý đồng nhất triết học với chính trị, mặt khác, nó tạo ra một sự minh hoạ phiến diện, không làm rõ được bản chất khoa học của các tri thức cơ bản
Chúng tôi cho rằng, để tiếp tục đổi mới công tác giảng dạy triết học, cần thiết phải
có những lý giải sâu sắc hơn về các kiến thức cơ bản; đồng thời lại phải có những minh hoạ, vận dụng đa dạng hơn, sâu sắc hơn
Một vấn đề nữa liên quan đến giảng dạy là chất lượng giáo trình Có ý kiến cho rằng, giáo trình viết sau (mới) lại có chất lượng kém hơn giáo trình viết trước (cũ), thậm chí giáo trình dành cho nghiên cứu sinh và học viên cao học lại kém hơn giáo trình dành cho đại học, cao đẳng, Rõ ràng là, công tác biên soạn giáo trình, sắp xếp nội
dung học cho các cấp học cần phải được cải tiến một cách mạnh mẽ, triệt để hơn,
khoa học hơn Cùng với giáo trình, việc sử dụng đội ngũ giáo viên triết học cũng là
vấn đề cần quan tâm Giảng dạy là lao động bậc cao Vì thế, giờ chuẩn cho một giáo viên trong một năm học là không nhiều Song, thực tế cho thấy, số giờ giảng thực của giáo viên cao gấp nhiều lần quy đinh, cá biệt có những giáo viên giảng ba ca mỗi ngày – một thứ chạy xô không hơn không kém Thử hỏi, việc sử dụng đội ngũ giáo viên như vậy làm sao có thể đảm bảo chất lượng bài giảng được Các nhà quản lý, các cơ sở giáo dục đào tạo phải chú ý tới công tác bố trí giờ giảng đối với cán bộ giảng dạy trong và ngoài cơ sở một cách hợp lý hơn
Thứ hai, phải chú ý đúng mức hơn nữa tới việc nghiên cứu và giảng dạy những vấn
đề triết học trong khoa học tự nhiên Có cơ sở để khẳng định rằng, triết học trong
khoa học tự nhiên là vốn kiến thức cơ bản của triết học Mác-Lênin Việc hình thành các nguyên lý, quy luật, v.v của triết học là do sự khái quát các thành tựu khoa học
về tự nhiên, về xã hội và về tư duy, trong đó các thành tựu của khoa học tự nhiên là cực kỳ quan trọng Trong lịch sử, các trào lưu triết học, đặc biệt là chủ nghĩa duy vật, trong đó có chủ nghĩa duy vật biện chứng gắn bó một cách rất chặt chẽ với khoa học
Trang 23
tự nhiên Đó là một sự thật
Ở nước ta hiện nay, công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học trong khoa học tự
nhiên còn nhiều bất cập Về nghiên cứu, mặc dù chúng ta đã có một số công trình
liên quan đến triết học trong khoa học tự nhiên song cũng còn quá ít, chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà khoa học, chưa tạo ra được sự liên kết, gắn bó giữa các nhà triết học và các nhà khoa học tự nhiên, ảnh hưởng của triết học đối với các nhà khoa học tự nhiên còn quá thấp Điều này cũng gây hạn chế rất lớn đối với sự phát triển của bản thân triết học
Về giảng dạy, hiện nay, trong đào tạo sinh viên triết học, chúng ta đã có môn triết
học trong khoa học tự nhiên (từ 45 đến 60 tiết) Thời lượng như vậy là quá thấp Rõ ràng, đây cũng là một nguyên nhân làm ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo sinh viên triết học, cũng như cán bộ nghiên cứu triết học sau này Một thực tế đáng buồn là nhiều cơ sở đào tạo sinh viên triết học chưa có tổ bộ môn về môn học này
Có thể nói, triết học trong khoa học tự nhiên là một bộ phận không thể thiếu của triết học Việc phát triển bộ môn này không chỉ có ý nghĩa hạn hẹp trong phạm vi của nó,
mà còn ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của triết học nói chung Chúng ta không thể
biến nền triết học của chúng ta thành môn “triết học xã hội” được, mặc dù triết học
xã hội là bộ phận không thể thiếu của triết học Tư duy triết học là tư duy phổ quát
Nó phải được phát triển trền nền của mọi lĩnh vực, các lĩnh vực này lại bổ sung cho nhau tạo nên một tư duy triết học sống động, sắc sảo, đủ sức xây dựng, phát triển các nguyên lý triết học
Từ những căn cứ trên, chúng tôi cho rằng, trong thời gian tới, chúng ta cần chú ý tới việc tăng cường công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học trong khoa học tự nhiên Đặc biệt, các cơ sở đào tạo sinh viên chuyên triết cần phải có tổ bộ môn triết học trong khoa học tự nhiên và phải tăng số lượng giờ giảng cũng như chất lượng môn học Ngoài ra, theo chúng tôi, sinh viên các ngành học khác cũng cần được trang bị kiến thức tối thiểu về lĩnh vực này Chẳng hạn, cần trang bị những vấn đề hết sức cơ bản như:
1/ Sự phân loại các khoa học
Trang 24đề là các nhà quản lý, các cơ sở đào tạo phải mạnh dạn xây dựng môn học và đội ngũ giảng viên đảm nhận nó
Thứ ba, vấn đề nghiên cứu và giảng dạy môn lôgíc học Lôgíc học là khoa học về tư
duy đúng đắn Nó ra đời rất sớm và ngay từ khi ra đời đã được xem là một bộ phận của triết học
Điều đáng chú ý là, với tư cách khoa học về tư duy, lôgíc học trang bị cho chúng
ta những công cụ để nhận thức (duy lý) thế giới - đó là các quy luật, qui tắc chỉ đạo
các thao tác tư duy trong quá trình nhận thức thế giới khách quan Theo chúng tôi, với nghiên cứu triết học, ngoài các câu hỏi: thế giới là gì (cái gì có trước, cái gì có sau), thế giới vận động và phát triển ra sao (biện chứng hay siêu hình), còn có vấn đề con người có khả năng nhận thức được thế giới như thế nào (bằng những công cụ, trong đó có tư duy duy lý - lôgíc nào?) Hơn nữa, việc giải đáp câu hỏi cuối này có ảnh hưởng nhất định đến các câu hỏi trên Có lẽ, đây cũng là một trong các lý do làm cơ sở chẳng những cho sự ra đời rất sớm mà còn cho sự phát triển hết sức mạnh
mẽ của lôgíc học (xét trên phạm vi thế giới) hiện nay
Ở nước ta, có quan niệm thông thường cho rằng lôgíc học gồm hai bộ phận lôgíc hình thức và lôgíc biện chứng và xem lôgíc hình thức là lôgíc học sơ cấp, còn lôgíc học biện chứng mới là lôgíc học cao cấp! Với lôgíc học hình thức, phần lớn mới hiểu
đó là lôgíc truyền thống trong khi đó lôgíc học hình thức hiện đại còn ít được chú ý
Trang 25
tới Theo chúng tôi, quan niệm như vậy là chưa thoả đáng và còn hạn chế Cũng có lẽ xuất phát từ quan niệm trên nên việc nghiên cứu và giảng dạy lôgíc học ở nước ta có những đặc thù riêng Trước thời kỳ đổi mới, việc nghiên cứu lôgíc học ít được chú ý, việc giảng dạy lôgíc học (chủ yếu là lôgíc hình thức truyền thống và lôgíc biện chứng) chỉ được thực hiện ở một số rất ít khoa của một số trường đại học Đó có thể
là một sai lầm lớn Từ khi đổi mới đến nay, lôgíc học (lôgíc học hình thức truyền thống và lôgíc học biện chứng) đã được giảng dạy phổ biến hơn Song, theo chúng tôi, như thế vẫn là chưa đủ Đã đến lúc chúng ta cần đưa lôgíc học hình thức hiện đại vào giảng dạy trong các trường đại học ở những mức độ khác nhau Điều này có những lý do sau đây:
Trước hết, có cơ sở để khẳng định rằng, tư duy lôgíc là một bộ phận thiết yếu của tư
duy khoa học Nói một cách khái quát, tư duy khoa học là sự thống nhất của tư duy biện chứng và tư duy lôgíc Nếu tư duy biện chứng duy vật cung cấp cơ sở phương pháp luận khoa học cho hoạt động nhận thức và thực tiễn thì tư duy lôgíc sử dụng những công cụ, phương pháp cụ thể cho hoạt động tư duy đúng đắn, những quy luật, quy tắc mà tư duy đúng đắn phải tuân theo Tư duy lôgíc, cũng là tư duy trừu tượng, chính là phương tiện để nhận thức chân lý khách quan V.I Lênin đã từng khẳng
định: Tư duy, khi tiến lên từ cái cụ thể đến cái trừu tượng không xa rời chân lý khách
quan - nên nó đúng (…) tất cả những trừu tượng khoa học (đúng đắn, nghiêm túc, không tuỳ tiện) phản ánh thế giới tự nhiên sâu sắc hơn, chính xác hơn, đầy đủ hơn[i] và Ph.Ănghen cũng đã nhận xét: Nếu những tiền đề của chúng ta là những tiền
đề đúng và nếu trong quá trình suy luận, chúng ta tuân thủ quy luật của lôgíc học (hình thức – T.G.) thì kết quả nhất định phải phù hợp với hiện thực[2] Việc giảng
dạy, nghiên cứu lôgíc học hiện đại cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển
tư duy lôgíc nói riêng, tư duy khoa học nói chung
Cùng với điều đó, hiện nay, lôgíc học đang phát triển rất mạnh, tạo ra các bước đột phá trong sự phát triển của khoa học hiện đại Chẳng hạn, sự xuất hiện của lôgíc mệnh đề, lôgíc vị từ (cổ điển, lượng từ) đã tạo cơ sở lôgíc cho sự ra đời của các hệ công nghệ tự động hoá của máy tính điện tử, cho việc xây dựng tư duy nhân tạo Sự
ra đời của lôgíc đa trị nói riêng, lôgíc phi cổ điển nói chung đã trang bị cho tư duy
Trang 26(*) Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trưởng phòng Logic học, Viện Triết học, Viện Khoa học
Xã hội Việt Nam
[1] Xem: V.I Lênin Toàn tập, t 29 Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, tr 179
[2] Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, t 20 Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
Trang 27
trước hết cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý chủ chốt các cấp; đổi mới nội dung, phương pháp học tập và giảng dạy trong hệ thống trường chính trị, nâng cao tính thiết thực và hiệu quả của chương trình"(1)
Vì vậy, việc tiếp tục đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy triết học ở Học viện Chính trị khu vực I, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học là nhiệm vụ thường xuyên Tuy nhiên, theo chúng tôi, đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy triết học phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
Một là, phải tính đến đặc thù của môn triết học
Đặc thù của khoa học triết học là ở chỗ, trong sự phản ánh hiện thực, tri thức triết học có tính khái quát hoá, trừu tượng hoá cao và được biểu đạt bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật Hơn nữa, triết học là môn khoa học lý thuyết, chứ không phải môn khoa học ứng dụng Chính vì vậy, môn học này thiên về những kiến thức hàn lâm và hầu như không có những mô hình thực nghiệm, ứng dụng, trực quan, nên không thể sơ đồ hóa bài giảng một cách máy móc Môn triết học có chức năng cơ bản là trang bị thế giới quan và phương pháp luận cho người học Vì thế, việc giảng dạy triết học Mác - Lênin phải đạt được mục đích là giúp người học xác lập cho mình thế giới quan và phương pháp luận khoa học cả trong nhận thức lẫn hoạt động thực tiễn Với một chuyên
đề, một bài giảng của môn triết học Mác - Lênin mà giảng viên chỉ giảng trong phạm vi một nửa thời gian, nửa thời gian còn lại dành cho học viên tự đọc, nghiên cứu tài liệu như
một số môn học khác, theo chúng tôi, là không phù hợp Cách làm này không những
không giúp nâng cao mà ngược lại, còn làm giảm sút chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo
Hai là, phải tính đến đặc thù của đối tượng giảng dạy
Đối tượng giảng dạy – những học viên của Học viện Chính trị khu vực I, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là “cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp huyện, quận, thị, các ban, ngành Trung ương, tỉnh, thành và các doanh nghiệp nhà nước”(2) Họ không chỉ có trình độ chuyên môn từ cử nhân trở lên, mà còn có vốn sống thực tiễn tương đối sâu rộng
và là cán bộ làm công tác Đảng lâu năm Họ có nhu cầu nâng cao trình độ lý luận, nâng cao năng lực tư duy khoa học và hoạch định chiến lược Nhìn chung, các học viên của Học viện Chính trị khu vực I có kiến thức chuyên môn và thực tiễn sâu rộng, có năng lực
Trang 28
và kinh nghiệm quản lý cao, khá toàn diện Đó là những điều kiện thuận lợi cho việc học
tập, nghiên cứu và tiếp thu lý luận Tuy nhiên, điểm hạn chế chung của họ là ở chỗ, họ
không có sự đồng đều về kiến thức triết học Một số ít học viên đã học tập môn triết học qua chương trình đào tạo cao học và nghiên cứu sinh không chuyên triết Với các đối tượng này, việc học tập triết học đối với họ rất thuận lợi Nhưng đa số học viên vốn trước đây là sinh viên ở các khoa không chuyên triết; do đó, việc học triết học đối với họ chỉ là
“cưỡi ngựa xem hoa”, đối với học viên là người dân tộc thiểu số lại càng khó khăn hơn
Do chưa có đủ tri thức ở bậc đại học và kinh nghiệm thực tiễn cần thiết nên khi nói đến triết học, họ chỉ “kính nhi viễn chi” Vì vậy, họ chưa thấy được tính thiết thực của việc học tập triết học Tuy nhiên, cũng phải nói rằng, việc người học chưa thấy được tính thiết thực của việc học tập triết học, một phần còn là do người dạy triết học Hồ Chí Minh đã có lần kể một câu chuyện, rằng:
“Hồi kháng chiến chống Pháp, có một lần Bác đi công tác về, thấy một số đồng chí đang nghỉ ở một gốc cây đa to, bóng mát Bác hỏi:
- Các cô, các chú đi đâu về?
- Thưa Bác, nhiều cái khó quá, không hiểu được
Như vậy là học không thiết thực”(3) Ở đây, nguyên nhân dẫn đến “học không thiết thực” lại là do người dạy: có thể giảng viên rất nhiệt tình, rất say sưa, nhưng nói nhiều quá hoặc dùng từ ngữ cao xa cộng với cách dạy mang tính áp đặt, giáo điều…; nghĩa là người giảng chưa có phương pháp giảng dạy thích hợp, cho nên người học không hiểu
Có thể nói một cách khái quát rằng, đa số học viên tham dự học tập lý luận ở Học viện
Trang 29
Chính trị khu vực I không còn nhớ những kiến thức cơ bản về triết học đã được học ở các trường đại học không chuyên ngành triết học trước đây Nếu cho rằng, ở các trường đại học, học viên đã biết triết học cả rồi, nên chương trình cao cấp lý luận chính trị không cần
phải giảng kỹ lưỡng triết học nữa là một sai lầm, làcắt xén triết học mácxit Bởi vì, như
mọi người đều biết, chương trình triết học ở các trường đại học chỉ là sơ cấp về lý luận Chương trình cao cấp lý luận chính trị cao hơn rất nhiều lần so với chương trình triết học
ở các trường đại học không chuyên triết học Người học phải nắm chắc lịch sử cũng như nội dung của mỗi khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật; phải hiểu sâu tư tưởng của các nhà kinh điển mácxít về các vấn đề và sự phát triển của các vấn đề đó trong giai đoạn hiện nay, từ đó mà nâng cao năng lực tư duy lý luận cho mình Vì thế, kiến thức triết học
đối với phần lớn học viên vẫn như là mới Thêm nữa, do tính trừu tượng của môn học,
nên việc học tập đối với học viên vẫn là rất khó khăn Mặt khác, chúng ta cần phải thấy điểm yếu chung của học viên là ở chỗ, họ là những nhà lãnh đạo, quản lý trực tiếp chỉ đạo hoạt động thực tiễn, quen với kinh nghiệm, nhưng lại thiếu hiểu biết đầy đủ về lý luận Được tập trung về Học viện học tập, họ cần nắm bắt lý luận một cách tương đối hệ thống
để có cơ sở làm việc tốt hơn, khoa học hơn
Vấn đề đặt ra là, thông qua giảng dạy các học phần của môn triết học Mác - Lênin, giảng viên phải giúp người học có tri thức triết học và biết vận dụng những tri thức đó vào công tác quản lý kinh tế, quản lý nhà nước, quản lý xã hội một cách có hiệu quả; hình thành bản lĩnh chính trị vững vàng và tư duy khoa học trong lãnh đạo, quản lý Các bài giảng triết học phải thiết thực cả về lý luận lẫn thực tiễn, tạo cho học viên niềm hứng khởi học tập và ấn tượng tốt đẹp về môn học; giúp họ chủ động, ham tích lũy tri thức lý luận, nắm được bản chất của vấn đề và khắc phục cách học đối phó chỉ nhằm mục đích trả bài thi
Để giảng dạy triết học có hiệu quả, trước hết phải đổi mới nội dung giảng dạy và học tập Cần khẳng định rằng, giảng dạy và nghiên cứu khoa học là hai mặt hoạt động cơ bản của nhiệm vụ chính trị trong nhà trường ở bậc đại học, kết hợp giảng dạy với nghiên cứu khoa học là hoạt động thường nhật của Học viện Chúng tôi xác định nhiệm vụ hàng đầu của nghiên cứu khoa học là tập trung biên soạn giáo trình Vì vậy, từ chỗ chưa có sách phục vụ dạy và học, từ năm 1994 đến năm 2004, Khoa Triết học, Học viện Chính trị khu vực I đã biên soạn đầy đủ bộ giáo trình với 8 cuốn sách và đã được Nhà xuất bản Chính
Trang 30
trị Quốc gia ấn hành cho cả 6 học phần của môn học Nội dung từng cuốn giáo trình được biên soạn nghiêm túc, bảo đảm tính khoa học, tính tư tưởng và tính thực tiễn; trang bị cho
người học những kiến thức cơ bản, có hệ thống về Lịch sử triết học, Triết học Mác -
Lênin,Lôgíc học, Mỹ học Mác - Lênin và Đạo đức học Mác - Lênin, góp phần tích cực
trong việc bồi dưỡng thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa cho người học
Việc đổi mới nội dung giảng dạy của Khoa Triết học còn biểu hiện ở chỗ, từng học phần, từng chương sách, từng bài giảng đã được giảng viên đi sâu làm rõ lịch sử của từng vấn
đề và tính khoa học của các khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật; gắn lý luận với thực tiễn mới của thời đại, thực tiễn của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; thực tiễn của công tác lãnh đạo, quản lý; thực tiễn của công tác tư tưởng, lý luận của Đảng ta Những thành tựu mới của khoa học, những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh đã được đưa vào bài giảng triết học, mang lại cho các khái niệm, phạm trù, nguyên
lý, quy luật những nội dung mới, làm cho chúng mềm dẻo, linh hoạt, đáp ứng được những nhu cầu mới của cuộc sống Trong các bài giảng, tuỳ ở mức độ vận dụng, người giảng đã chú ý gắn đường lối, quan điểm của Đảng, tình hình nhiệm vụ của cách mạng với nhiệm vụ của người cán bộ lãnh đạo, quản lý, góp phần bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, niềm tin, lý tưởng cộng sản và năng lực tư duy khoa học cho học viên, làm cho lý luận đi đôi với thực tiễn và phục vụ thực tiễn
Có thể nói rằng, việc thực hiện chặt chẽ, khoa học các khâu trong quy trình giảng dạy và học tập, như biên soạn giáo trình, ôn tập, hệ thống đề thi đến cho điểm đánh giá bài thi cũng như hướng dẫn luận văn, chấm bảo vệ luận văn và chấm luận văn tốt nghiệp sẽ khơi dậy tính tích cực, chủ động, khuyến khích suy nghĩ độc lập, tự do tư tưởng, mạnh dạn tranh luận và sự kiên nhẫn, ham mê nghiên cứu, học tập triết học của học viên trong quá trình đào tạo
Để khơi dậy tính chủ động của người học trong học tập, chúng tôi đã xây dựng kế hoạch giảng dạy và học tập chi tiết cho từng chương sách và phát kế hoạch này cho học viên ngay từ giờ đầu nhập môn học với mục đích hướng dẫn học viên đọc giáo trình và tài liệu tham khảo trước khi lên lớp Trong giảng dạy, Khoa Triết học đã thực hiện lồng ghép các phương pháp hỗ trợ thuyết trình vào giờ giảng, giảm thuyết trình, tăng trao đổi, thảo luận
Trang 31gắng tìm tòi, học hỏi và áp dụng vào bài giảng nhiều phương pháp giảng dạy hỗ trợ cho phương pháp thuyết trình, như nêu tình huống, nêu ý kiến, hỏi đáp, sàng lọc, phát
vấn, làm việc theo nhóm, đối thoại, xêmina… nhằm nâng cao chất lượng bài giảng Nhờ
vậy, các bài giảng triết học (mà trước đây, khi còn học ở các trường đại học, học viên thường cho là khó, khô khan, trừu tượng) được thực hiện trên lớp hiện nay đã thực sự tạo
ra sự hấp dẫn, có sức thuyết phục và cuốn hút học viên trong học tập Học viên đã nhận thấy triết học có ý nghĩa rất lớn đối với cuộc sống và công tác của họ Với nhiều người, học triết học đã trở thành một nhu cầu thiết thực, tư duy triết học giúp họ chủ động, tự giác hơn trong xây dựng chương trình, kế hoạch hành động Thực tế cho thấy, thiếu tư duy triết học thì không có tư duy lôgíc, tư duy biện chứng, tư duy khoa học trong nhận thức và hành động
Phương pháp giảng dạy, theo nghĩa rộng, bao hàm trong đó cách thức hoạt động, tác
động giữa người dạy (chủ thể dạy - người thầy) trực tiếp hoặc gián tiếp (qua các phương tiện như sách, nghe, nhìn) với người học (vừa là đối tượng của giảng dạy, vừa là chủ thể
học, tự học) cùng nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung dạy học
Trong giảng dạy có nhiều phương pháp phong phú, đa dạng Một chủ đề, bài giảng có thể
sử dụng lồng ghép hợp lý nhiều phương pháp Nhưng lựa chọn những phương pháp nào lại tùy thuộc vào đặc điểm của môn học, của nội dung giảng dạy và đặc điểm của người học Từ đặc điểm của triết học là môn học có tính trừu tượng cao, từ đặc thù của đối tượng giảng dạy như đã nêu trên, theo chúng tôi, để đổi mới phương pháp giảng dạy,
trước mắt cần tập trung kết hợp phương pháp thuyết trình với các phương pháp tích cực khác, như nêu vấn đề, thảo luận theo nhóm, hỏi đáp… kết hợp với sử dụng các phương
tiện hiện đại
Trang 32
Việc giảng dạy lý luận trước đây chủ yếu sử dụng phương pháp truyền thống, đó
là phương pháp thuyết trình Tuy nhiên, không thể đánh giá rằng phương pháp thuyết trình đã lạc hậu, bởi phương pháp này có tính vượt trội của nó Do đó, cần phải tiếp tục
sử dụng phương pháp thuyết trình kết hợp lồng ghép với các phương pháp khác Một thực tế không thể phủ nhận là, chúng ta còn chưa chú ý đúng mức đến việc kết hợp thuyết
trình với các phương pháp giảng dạy khác nhằm khuyến khích tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của người học; chưa kết hợp sử dụng các phương tiện giảng dạy hiện đại để hỗ trợ cho phương pháp thuyết trình Điều đó làm hạn chế ở mức độ nhất định hiệu quả của giờ học Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới và cả ở nước ta, việc lồng ghép nhiều phương pháp khác nhau với việc sử dụng các phương tiện hiện đại trong giảng dạy đã trở thành một xu thế phổ biến và có những ưu thế không thể phủ nhận
Phương pháp thuyết trình là phương pháp được sử dụng phổ biến trong việc giảng dạy
các môn học lý luận ở bậc đại học Học viện Chính trị khu vực I có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng lý luận ở trình độ tương đương đại học, nên việc sử dụng phương pháp thuyết trình là tất yếu Vấn đề là ở chỗ, sử dụng phương pháp này như thế nào để giờ giảng đạt hiệu quả, phù hợp với đối tượng đã nêu ở trên tuỳ thuộc vào năng lực của mỗi giảng viên
Điểm ưu trội của thuyết trình là ở chỗ, nó giúp truyền đạt được một lượng kiến thức lớn
với tính lôgíc, hệ thống cao.Người thuyết trình được hoàn toàn chủ động về thời gian và
những vấn đề cần nhấn mạnh Nhưng để thuyết trình hiệu quả, giảng viên phải có sự chuẩn bị bài giảng rất công phu, dự kiến những tình huống có thể xảy ra Phương pháp thuyết trình sử dụng phương tiện cơ bản là lời nói, nên giảng viên sử dụng từ ngữ phải chặt chẽ, lôgíc; âm điệu, ngôn ngữ, phong cách của giảng viên phải được kết hợp hài hòa, thuần thục để tránh gây ức chế cho người học
Tuy nhiên, mặt hạn chế của phương pháp thuyết trình là dễ làm cho người học thụ động,
mặc cảm vì sự dồn nén kiến thức, hạn chế tính tích cực, chủ động, độc lập suy nghĩ của người học Hơn nữa, xuất phát từ đặc điểm học viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý có bề dày nhất định về kinh nghiệm sống và công tác, họ không chỉ tiếp thu kiến thức một cách xuôi chiều, mà còn luôn phản tỉnh nội tâm để điều chỉnh nhận thức và hành vi cho phù
hợp Vì vậy, giảng viên cần căn cứ vào nội dung từng bài để lồng ghép các phương
pháp cho phù hợp
Trang 33
Phương pháp giảng dạy hỗ trợ cho phương pháp thuyết trình mà chúng tôi thường sử dụng là chọn những nội dung gợi mở, nêu vấn đề, định hướng người học suy nghĩ và tự
mình giải quyết vấn đề Đó là phương pháp nêu vấn đề
Phương pháp giảng dạy nêu vấn đề được nhà triết học Hy Lạp Arixtốt khởi xướng từ thời
cổ đại Đây là phương pháp hướng sự chú ý của người học vào các tình huống có chứa đựng mâu thuẫn Người tham gia tranh biện phải dùng lý lẽ để bảo vệ ý kiến của mình, lập luận về cách thức giải quyết mâu thuẫn và đặc biệt là phải phát hiện và bổ khuyết được chỗ yếu của đối phương Ngày nay, phương pháp này là một trong những phương pháp giảng dạy tiên tiến, hiện đại Nó khuyến khích người học tích cực tìm tòi, suy nghĩ,
tự giải quyết những mâu thuẫn trong nhận thức để đi đến những tri thức mới Nêu ra vấn
đề đã khó, nhưng khi vấn đề đã hình thành thì việc tạo ra những tình huống để thu hút người học lại càng khó hơn Những tình huống đó giống như một "ma lực" buộc người học phải tập trung suy nghĩ, “động não” và nhờ vậy, chất lượng của bài giảng sẽ cao hơn Phương pháp giảng dạy trên yêu cầu giảng viên phải xuất phát từ nội dung của chủ đề bài giảng mà nêu các vấn đề để học viên suy nghĩ, thảo luận, giải đáp với sự định hướng của giảng viên Đặc trưng của phương pháp này là phải chọn được tình huống có vấn đề Bởi
vì tư duy chỉ bắt đầu ở nơi xuất hiện tình huống có vấn đề Nói cách khác, ở đâu không có vấn đề thì ở đó không có tư duy Tình huống có vấn đề luôn chứa đựng những nội dung cần xác định, nhiệm vụ cần giải quyết, vướng mắc cần tháo gỡ Phương pháp giảng dạy nêu vấn đề là cách thức đưa người học đi tới mâu thuẫn giữa những kiến thức đã biết và kiến thức chưa biết, đưa ra các câu hỏi, bài tập buộc người học phải vươn tới những kiến thức mới Do vậy, phương pháp này có ý nghĩa kích thích tính tích cực, chủ động, sáng tạo, độc lập suy nghĩ của người học; tạo ra bầu không khí sôi nổi, dân chủ trong học tập, hướng người học tăng cường hiểu biết, làm cho quá trình tiếp thu tri thức của họ trở thành
quá trình tự giác; từ đó, hình thành cho chủ thể phương pháp hành động mới thiết thực,
hiệu quả
Điều cần lưu ý là, khi vận dụng phương pháp giảng dạy này, giảng viên không phải là người độc quyền trong việc đưa ra các vấn đề và phương pháp giải quyết, mà chỉ giữ vai trò là người gợi ý cho người học tìm tòi, suy nghĩ đưa ra cách giải quyết mới, những ý tưởng mới; sau khi học viên thảo luận, giảng viên phải đưa ra kết luận, coi đó là những
Trang 34
quan điểm chính thống Điều đó có nghĩa là dạy người học không những nắm được tri thức cần thiết trong chương trình đào tạo mà cao hơn nữa, còn phải biết vận dụng các tri thức đó để giải quyết các tình huống xuất hiện trong học tập và hoạt động thực tiễn
Phương pháp dạy học nêu vấn đề là phương pháp năng động, "tìm kiếm" để đi đến niềm tin vào chân lý khoa học và người học sẽ tiếp nhận niềm tin ấy một cách vững chắc V.I.Lênin đã căn dặn: "Chỉ khi nào các đồng chí biết tự mình tìm ra phương hướng trong vấn đề đó, thì các đồng chí mới có thể coi mình là đã đủ vững vàng trong những niềm tin của mình và bảo vệ những niềm tin đó một cách thắng lợi trước bất cứ người nào và bất
cứ lúc nào" (4)
Điểm mấu chốt của việc thực hiện phương pháp nêu vấn đề là, trên cơ sở nghiên cứu kỹ chủ đề bài giảng, hiểu sâu, phát hiện ra các tình huống có vấn đề và bằng nghệ thuật sư phạm, giảng viên dẫn dắt người học giải quyết những tình huống có vấn đề Tình huống có vấn đề chính là những mâu thuẫn, những bất cập, những xung đột, như mâu thuẫn giữa lý luận với thực tiễn, mâu thuẫn giữa kiến thức đã biết và kiến thức chưa biết, mâu thuẫn giữa quan điểm khoa học và quan điểm phản khoa học, mâu thuẫn giữa quan điểm chính diện và quan điểm phản diện, giữa đúng và sai , những vấn đề mới nảy sinh trong tự nhiên, xã hội và tư duy cũng như trong hoạt động lãnh đạo, quản lý đang đặt ra mà người học phải suy nghĩ và giải quyết Thông qua đó, người học có thể nắm vững kiến thức, khơi dậy và phát triển tính tích cực, sáng tạo trong
học tập, góp phần thực hiện phương châm hoạt động giáo dục tiên tiến là biến quá
trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo
Phương pháp giảng dạy nêu vấn đề đòi hỏi sự nỗ lực, cố gắng rất cao của cả người dạy lẫn người học Đây là phương pháp nhằm phát huy tối đa tính chủ động của các chủ thể nhận thức Đối với người dạy, yêu cầu hàng đầu là phải luôn làm giàu trí tuệ của mình, có sự am hiểu sâu sắc vấn đề cả về lý luận lẫn thực tiễn Họ phải đọc nhiều, hiểu biết sâu rộng và xác định được những tri thức cần đưa đến cho người học; đồng thời, phải xác định mục đích giảng dạy là không chỉ nâng cao kiến thức, sự hiểu biết, mà còn phải góp phần rèn luyện, bồi dưỡng năng lực tư duy khoa học cho người học Người dạy phải chuẩn bị bài giảng của mình một cách phong phú, sáng tạo Người học cần phải có sự chủ động, tích cực, say sưa học tập; đồng thời có phương pháp học tập tốt, tích cực tham gia
Trang 35
giải quyết các vấn đề mà người dạy đưa ra qua mỗi bài giảng Điều đó đòi hỏi người học cũng phải có một lượng kiến thức, một trình độ tư duy nhất định
Song, do tính đặc thù của môn triết học như đã nói trên, cùng với những điều kiện hiện tại
về nội dung chương trình, cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy (phòng học, bàn ghế, các phương tiện hỗ trợ giảng dạy khác…), số lượng học viên cũng như tâm lý của họ còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được tiêu chuẩn của một lớp học hiện đại, nên phương pháp phù hợp nhất và phổ biến nhất vẫn là phương pháp thuyết trình Bởi vì, về sự học, từ ngàn đời nay dân tộc ta đã tổng kết: “Không thầy đố mày làm nên” Mặt khác, học viên đi học nhằm trang bị lý luận, bồi dưỡng kiến thức để vận dụng vào công tác lãnh đạo, quản
lý, chứ họ không phải là học viên cao học hay nghiên cứu sinh triết học Vì vậy, những
phương pháp khác chỉ là sự bổ sung, hỗ trợ cho phương pháp thuyết trình nhằm: một mặt, tránh sự nhàm chán, tẻ nhạt của phương pháp thuyết trình; mặt khác, kích thích tư duy
của người học, tạo lập cho họ thói quen tích cực, không thụ động…
Nói như vậy không có nghĩa là tuyệt đối hoá phương pháp thuyết trình, coi thuyết trình là
“công cụ” vạn năng và duy nhất, mà phải đặt nó trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể của môn học và điều kiện hiện có của học tập và giảng dạy Để thực hiện hiệu quả việc lồng ghép các phương pháp phải có đủ những điều kiện cần thiết và cần có sự hỗ trợ của các phương tiện giảng dạy, học tập khác, như tài liệu nghiên cứu, máy chiếu hắt, bảng trong, máy chiếu đa năng (projector), bảng phấn, bảng ghim, giấy khổ lớn
Tóm lại, đổi mới phương pháp giảng dạy phải có sự kết hợp nhiều phương pháp Thực
chất của đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy và học tập triết học là nhà trường, giảng viên phải căn cứ vào đặc thù của môn triết học, của đối tượng giảng dạy và mục tiêu đào tạo để tìm ra phương pháp giảng dạy hiệu quả nhất Quá trình này đòi hỏi người thầy phải không ngừng hoàn thiện mình từ việc nâng cao trình độ, cập nhật tri thức mới đến phát huy tính năng động, sáng tạo trong việc lựa chọn phương pháp giảng dạy thích hợp để khơi dậy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập của người học
(*) Phó giáo sư, tiến sĩ Trưởng khoa Triết học, Học viện Chính trị khu vực 1, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb
Trang 36
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.131
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam Quyết định số 61 - QĐ/TW của Bộ Chính trị ngày
10-3-1993 về việc sắp xếp lại các trường Đảng Trung ương, chuyển Học viện Nguyễn Ái Quốc thành Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
(3) Hồ Chí Minh Toàn tập, t.12 Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 209
(4) V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ Matxcơva, 1977, t.39, tr.76-77
VAI TRÒ SÁNG TẠO CỦA TƯ DUY TOÁN HỌC TRONG NHẬN THỨC KHOA HỌC
Trước đây, với đối tượng còn ở trình độ trừu tượng thấp như các số và các hình hình học thì trong nghiên cứu khoa học, toán học chỉ được sử dụng chủ yếu vào việc cố định và chỉnh lý những dữ liệu thực nghiệm đã biết để từ đó, rút ra các công thức toán học và áp dụng chúng Ngày nay, sự phát triển như vũ bão của khoa học đã đặt
ra những nhiệm vụ thực tiễn rất phức tạp và đa dạng Đối tượng khoa học nói chung
là đối tượng khoa học liên ngành Chính vì vậy, toán học muốn phát huy được sức mạnh của mình thì sự phát triển đối tượng của nó cũng phải được đặt trong mối liên
hệ với đối tượng của các khoa học cụ thể khác Chẳng hạn, khi các cấu trúc toán học được thiết lập thì việc áp dụng toán học đã có những thay đổi rất lớn Chính sự áp dụng rộng rãi toán học trong nghiên cứu khoa học đã chứng tỏ vai trò phát kiến của toán học trong quá trình nhận thức thế giới khách quan
Theo quan điểm hiện đại, sự chỉnh lý các dữ liệu thực nghiệm vẫn là một khâu quan trọng trong nhận thức các hiện tượng vật chất về mặt số lượng Song, toán học không phải chỉ là một công cụ thuận tiện và có hiệu lực để minh họa bằng kí hiệu những lý thuyết cụ thể khác nhau Vai trò của toán học không hạ xuống đến mức chỉ là phương tiện của các khoa học có ứng dụng toán học Toán học cho phép chúng ta dựa vào các đối tượng trừu tượng và các phép tính mà đi tới biểu thức toán học của
Trang 37
những quan hệ không dễ dàng hoặc không thể tìm được bằng các phương tiện khác
Trong Các bản thảo toán học, C.Mác đã nhấn mạnh rằng, nhờ bước ngoặt về phương
pháp, toán học đã thay đổi vai trò của mình trong nhận thức khoa học Từ chỗ chỉ ra phương pháp để cố định các chân lý trong các dạng hình thức, toán học đã biến thành phương pháp có khả năng tìm ra những cái chưa biết, chưa tìm thấy
Trong điều kiện phát triển của khoa học và công nghệ, quá trình toán học hóa các khoa học ngày càng diễn ra một cách sâu sắc thì việc áp dụng các phương pháp toán học cũng có những biến đổi căn bản Điều đó thể hiện ở chỗ, người ta không đi từ các dữ kiện thực nghiệm có thực đến biểu thức toán học của chúng như trước kia đã làm, mà đi từ các dạng toán học đến những cái tương đương trong thực tế Nếu như ở giai đoạn đầu, toán học đóng vai trò biểu diễn hình thức các dữ kiện hiện thực, thì ở giai đoạn sau, toán học nổi lên với tư cách lĩnh vực tham gia một cách tích cực vào việc hình thành các lý thuyết mới Xét ở trình độ đó, toán học không còn chỉ là công
cụ để chế biến các thông tin, mà đã tham gia vào việc nhận thức các quy luật Như vậy, từ chỗ là công cụ bổ trợ cho nghiên cứu, toán học đã trở thành một phương tiện nghiên cứu được sử dụng thường xuyên và nhiều khi là công cụ duy nhất có hiệu lực trong hoạt động khoa học
Trong lịch sử khoa học, chúng ta đã được chứng kiến những sự biến đổi thường xuyên diễn ra, mà bản thân chúng có liên quan đến việc thay đổi vai trò của toán học trong các khoa học Nếu như trước đây, vai trò của toán học trong các khoa học, như hóa học, sinh học, ngôn ngữ học, kinh tế học, chỉ hạn chế ở mức độ ứng dụng các phương pháp thống kê để chỉnh lý các dữ kiện thực nghiệm thì ngày nay, người ta đã nói nhiều về quan điểm toán học trong sự phân tích cấu trúc của các đối tượng cơ bản của các khoa học đó, về sự thành lập các mô hình toán học của những hiện tượng được nghiên cứu Thậm chí, cả những ngành khoa học có tính chất mô tả xa với toán học, như sinh học tiến hóa, thì trong thời gian gần đây, cũng đã có những thành tựu trong việc xây dựng các mô hình suy diễn toán học hóa Ví dụ, nhà khoa học người Nga - Pêtrốp đã xây dựng được những lý thuyết tiên đề trong việc nghiên cứu hướng biến đổi của các hệ sống Nhờ những phương pháp này, chúng ta có thể phát hiện ra hàng loạt tính chất lý thú của các quá trình tiến hóa, không phải bằng con đường thực
Trang 38Sự biến đổi vai trò của toán học trong khoa học rất dễ nhận thấy ở vật lý học Điều này đã được nhà vật lý học người Mỹ – Eđisơn khẳng định: "Đối với nhà vật lý, toán học không chỉ là một công cụ mà dựa vào đó, có thể diễn tả bất cứ hiện tượng nào về lượng, mà còn là cội nguồn chủ yếu của những khái niệm và nguyên tắc được lấy làm chỗ dựa cho việc xây dựng những lý thuyết mới"(3) Nếu như trước kia, vật lý học cổ điển chỉ vạch rõ những mối quan hệ của các đại lượng toán học xác định đối với các vật thể và các quá trình vật lý, để rồi sau đó, tìm ra các phương trình liên kết giữa chúng nhờ diễn tả được các quy luật vật lý, thì vật lý lý thuyết hiện đại lại sử dụng những đối tượng toán học trừu tượng dưới dạng các kí hiệu, rồi sau đó mới tìm những biểu hiện vật lý của chúng
Vai trò sáng tạo của tư duy toán học trong nhận thức được thể hiện khá rõ nét ở chỗ, toán học được xem như một công cụ không thể thiếu được đối với các khoa học trong việc khám phá và tìm ra bản chất của các sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan
Sự biến đổi vai trò của toán học trong khoa học đã dẫn tới việc phải xem xét lại một quan niệm về quá trình nhận thức đã quen thuộc đối với những người nghiên cứu tự nhiên Đó là quan niệm được hình thành một cách tự phát ở các nhà nghiên cứu mà
Trang 39
trên thực tế, họ chỉ làm việc với những hiện tượng ít nhiều có thể quan sát được một cách trực tiếp Nhìn chung, những nhà nghiên cứu tự nhiên bao giờ cũng sử dụng một đối tượng cụ thể nào đó để tiến hành thí nghiệm và trên cơ sở đó, đi tới những kết luận tổng quát ở đây, vai trò của toán học chỉ là việc chỉnh lý lại những gì đã thu được qua thí nghiệm Đối với họ, toán học chỉ tham gia vào quá trình nhận thức, khi kiến thức đã được tìm ra cùng với nhiệm vụ đặt ra là trình bày, biểu diễn kiến thức
đó dưới dạng kí hiệu, đồng thời rút ra những hệ quả định lượng chặt chẽ
Việc gia tăng tính chất trừu tượng của vật lý học hiện đại và hệ quả của nó là sự ứng dụng rộng rãi công cụ lôgíc toán đã mang lại cho vật lý học những dữ kiện mới trên
cơ sở toán học thuần túy Dựa vào việc giải các phương trình toán học, người ta có thể rút ra kết luận về bản chất của một hiện tượng vật lý mà không một nhà thực nghiệm nào từng gặp trước đó Nhiều ngành toán học được áp dụng trong những lý thuyết vật lý khác nhau đã xuất hiện một cách độc lập, thậm chí trước cả khi nghiên cứu bản thân các lý thuyết vật lý ấy Thế nhưng, sự áp dụng chúng lại là điều kiện cần thiết cho việc xây dựng các lý thuyết vật lý này Các quy luật của tự nhiên thường được khám phá bởi sự đột phá sắc bén của các công cụ toán học trước khi nội dung và ý nghĩa vật lý của chúng được phát hiện
Một thí dụ điển hình về nhận định trên là việc tìm ra hạt pôzitrôn Như chúng ta đã biết, trong thế giới vi mô, không hiếm trường hợp các hạt chuyển động với vận tốc
gần bằng vận tốc ánh sáng, song vì phương trình Srôđingơ:HY = i€ (trong đó, H: toán tử Hamintơn; i: số ảo; €: hằng số Plăng ; Y: hàm sóng mô tả trạng thái hạt vi mô
phụ thuộc vào tọa độ và thời gian) chỉ áp dụng được cho những hạt có vận tốc rất nhỏ so với vận tốc ánh sáng và do vậy, dường như trong cơ học lượng tử, phương trình đó chỉ có được sự ứng dụng rất hạn chế Nhưng vào năm 1928, nhà vật lý học người Anh - Đirác đã mở rộng phương trình Srôđingơ theo thuyết tương đối Theo Đirác, nghiệm của phương trình này phụ thuộc vào một căn bậc hai có hai giá trị khác dấu, và chính điều này đã đem lại cho chúng ta cơ sở để dự đoán rằng, ngoài electron ra, còn tồn tại một hạt có khối lượng, có Spin và các tính chất khác giống như điện tử nhưng lại khác điện tử về dấu của điện tích Đến năm 1932, nhà vật lý học người Mỹ – Anđécsơn mới xác định được sự tồn tại thực sự của hạt pôzitrôn Từ
Trang 40
đó, đặc biệt là trong giai đoạn hiện đại, các phản hạt của phần lớn các hạt đã được tìm ra một cách tương tự như hạt pôzitrôn Như vậy, căn cứ vào tính chất của các khách thể toán học trừu tượng, người ta có thể dự đoán được những cấu trúc phức tạp của thế giới vật chất Đây được coi là một thí dụ thể hiện khá sinh động tính sáng tạo của tư duy toán học trong nhận thức khoa học
Lịch sử vật lý học đã cho thấy không ít những thí dụ mà trong đó, nhờ toán học, nhiều phát minh khoa học đã được dự đoán về mặt lý thuyết Hiện tượng này buộc chúng ta phải quan tâm đến phương diện triết học, nhất là từ khi hiện tượng này được chủ nghĩa duy tâm sử dụng, hoặc lúc nó đã trở thành một vấn đề nan giải Khi đề cao vai trò sáng tạo lớn lao của tư duy toán học nhưng lại không thấy được cơ sở thực tế của nó, Hâydenbéc đã đi đến kết luận rằng, vật lý học hiện đại tiến lên theo con đường mà Platon và trường phái Pitago đã đặt ra Tập thể tác giả Pháp theo trường phái Bourbaki khi bàn về mối quan hệ giữa thế giới thực nghiệm và thế giới toán học
đã đưa ra nhận xét rằng, sự liên quan chặt chẽ giữa các hiện tượng thực nghiệm và các cấu trúc toán học đã được những phát minh gần đây của vật lý học hiện đại xác nhận một cách hoàn toàn ngẫu nhiên, nhưng chúng ta lại hoàn toàn không biết nguồn gốc sâu xa của điều đó và chắc chắn là không bao giờ biết được
Theo quan điểm duy vật mácxít, để giải thích các dự đoán toán học về lý thuyết các hiện tượng, con người thường dựa trên hàng loạt các nguyên tắc quan trọng, như tính song hành giữa hình thức và nội dung, giữa mâu thuẫn và sự thống nhất, chuyển hóa lẫn nhau, v.v Chẳng hạn, theo nguyên tắc về tính song hành giữa hình thức và nội
dung thì, một là, mỗi thành phần của hình thức tương ứng với một thành phần bản chất xác định của nội dung; hai là, cách thức quan hệ của các thành phần hình thức
tương ứng với cách thức quan hệ của các thành phần nội dung Do vậy, chúng ta có
cơ sở để nghĩ rằng, chỉ cần vận dụng trên bình diện hình thức mà không cần có sự phân tích đặc biệt nào về các thành phần nội dung, chúng ta cũng có thể tái hiện được một mảng nội dung xác định, đẳng cấu với kết cấu hình thức Song, bản thân các cấu trúc toán học, trước khi được gán cho một sự thể hiện, không hề nói gì về một mảng nào đó của thực tại Chúng là những dạng phổ dụng nào đó, có khả năng chứa đựng những nội dung khác nhau Bất kỳ một lý thuyết vật lý nào cũng bao gồm