Đào TTP(zb) ÔN TẬP LỊCH SỬ ĐẢNG HK 211 Chương I Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền (1930 1945) 1 Bối cảnh Việt Nam dưới chính sách thống trị và khai khác thuộc địa của thực dân Pháp và nguyên nhân thất bại của các phong trào yêu nước theo khuynh hướng chính trị phong kiến và tư sản từ cuối thế kỷ XIX đến đầu năm 1930 a) Bối cảnh Việt Nam dưới chính sách thống trị và khai khác thuộc địa của thực dân Pháp Chính sách cai trị của thực dân Pháp Năm 1858, thực dân Ph.
Trang 11930
a) Bối cảnh Việt Nam dưới chính sách thống trị và khai khác thuộc địa của thực dân Pháp:
- Chính sách cai trị của thực dân Pháp:
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng, tấn công xâm lược Việt Nam Sau khi tạm thời dập tắt được các phong trào đấu tranh của nhân dân ta, thực dân Pháp từng bước thiết lập bộ máy thống trị ở Việt Nam
+ Về chính trị: Thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân, tước bỏ mọi quyền đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn, chia Việt Nam ra thành 3 xứ: Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng Đồng thời với chính sách nham hiểm này, thực dân Pháp cấu kết với giai cấp địa chủ trong việc bóc lột kinh tế và áp bức đối với nhân dân Việt Nam
+ Về kinh tế: Thực dân Pháp thực hiện chính sách bóc lột về kinh tế: tiến hành cướp ruộng đất để lập đồn điền, đầu tư khai thác tài nguyên, xây dựng một số cơ sở công
nghiệp, xây dựng hệ thống đường giao thông, bến cảng phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa Việc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã tạo nên sự chuyển biến của nền kinh tế Việt Nam nhưng cũng dẫn đến hậu quả là nền kinh tế Việt Nam bị lệ thuộc vào tư bản Pháp, bị kìm hãm trong vòng lạc hậu
+ Về văn hóa xã hội: Thực dân Pháp thực hiện chính sách văn hóa, giáo dục thực dân, ngu dân, dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu…
- Tình hình giai cấp và mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam:
+ Dưới tác động của chính sách cai trị thực dân, xã hội Việt Nam diễn ra quá trình phân hóa sâu sắc
Giai cấp địa chủ phong kiến
Giai cấp nông nhân
Trang 2 Giai cấp công nhân Việt Nam
Giai cấp tư sản Việt Nam
Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam
+ Mẫu thuẫn xã hội:
Nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến
Toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược
+ Tính chất xã hội Việt Nam là xã hội thuộc địa nữa phong kiến
=> Chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu
b) Nguyên nhân thất bại của các phong trào yêu nước theo khuynh hướng chính trị phong kiến và tư sản
- Các phong trào đấu tranh diễn ra với những phương thức và biện pháp khác nhau: bạo động hoặc cải cách, với quan điểm tập hợp lực lượng bên ngoài khác nhau => bị thất bại
- Một số tổ chức chính trị theo lập trường quốc gia tư sản ra đời và đã thể hiện được vai trò của mình trong đấu tranh giành độc lập dân tộc và dân chủ, nhưng có những hạn chế nhất định => không thành công
- Nhìn chung, các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam đã diễn ra liên tục, sôi nổi, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia với những hình thức đấu tranh phong phú, thể hiện ý thức dân tộc, tinh thần chống đế quốc của giai cấp tư sản Việt Nam, nhưng cuối cùng đều thất bại vì giai cấp tư sản Việt Nam rất nhỏ yếu cả về kinh tế
và chính trị nên không đủ sức giương cao ngọn cờ lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc
2 Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị các điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng
- Về tư tưởng: Từ giữa năm 1921, tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Hội liên hiệp thuộc địa, sau đó sáng lập tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) Người viết nhiều bài
Trang 3trên các báo Nhân đạo, Đời sống công nhân, Tạp chí Cộng sản, Tập san Thư tín
quốctế, Nguyễn Ái Quốc tích cực tố cáo, lên án bản chất áp bức, bóc lột, nô dịch của chủ nghĩa thực dân đối với nhân dân các nước thuộc địa và kêu gọi, thức tỉnh nhân dân bị
áp bức đấu tranh giải phóng và tiến hành tuyên truyền tư tưởng về con đường cách mạng
vô sản, con đường cách mạng theo lý luận Mác-Lênin Năm 1927, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu,
ai cũngphải theo chủ nghĩa ấy”
-Về chính trị: Nguyễn Ái Quốc đưa ra những luận điểm quan trọng về cách mạng giải phóng dân tộc Người khẳng định rằng, con đường cách mạng của các dân tộc bị áp bức
là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc hướng tới xây dựng nhà nước mang lại quyền
và lợi ích cho nhân dân.Về vấn đề Đảng Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc khẳng định:“Cách mạng trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vậnđộng và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”
- Về tổ chức: Tháng 2-1925, Người lựa chọn một số thanh niên tích cực trong Tâm tâm
xã, lập ra nhóm Cộng sản đoàn Tháng 6-1925,Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên tại Quảng Châu (Trung Quốc), nòng cốt là Cộng sản đoàn Hội đã
công bố chương trình, điều lệ của Hội, mục đích: để làm cách mệnh dân tộc (giành độc lập cho xứ sở) rồi sau đó làm cách mạng thế giới (lật đổ chủ nghĩa đế quốc và thực hiện chủ nghĩa cộng sản) Hệ thống tổ chức của Hội gồm 5 cấp: trung ương bộ, kỳ bộ, tỉnh bộ hay thành bộ, huyện bộ và chi bộ Tổng bộ là cơ quan lãnh đạo cao nhất giữa hai kỳ đại hội Trụ sở đặt tại QuảngChâu Đó là tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam
3 Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam
b) Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
Trang 4- Phương hướng và mục tiêu của cách mạng Việt Nam: Đảng chủ trương làm “tư sản dân
quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”
- Nhiệm vụ cách mạng Việt Nam:
+ Chính trị: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông
+ Kinh tế: Thủ tiêu các thứ quốc trái, thâu hết các sản nghiệp lớn của tư bản Pháp để giao cho chính phủ công nông binh, thu hết ruộng đất của đế quốc làm của công và chia cho dân cày nghèo, miễn thuế, thi hành luật lao động
+ Xã hội: Dân chúng được tự do tổ chức, nam nữ bình quyền, phổ thông theo hướng công nông hóa
- Lực lượng cách mạng: Đảng chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp, các giai tầng, các lực lượng tiến bộ, các cá nhân yêu nước, trước hết là công nông Lôi kéo tiểu tư sản, trí thức, trung nông đi về phía vô sản, lợi dụng hoặc trung lập phú nông, trung và tiểu địa chủ, tư bản dân tộc
- Lãnh đạo cách mạng:
+ Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, là người lãnh đạo cách mạng Việt Nam đấu tranh nhằm giải phóng cho toàn thể nhân dân bị áp bức
- Quan hệ với phong trào cách mạng thế giới:
+ Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới
+ Đảng phải liên kết với các dân tộc bị áp bức và quần chúng vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp
c) Ý nghĩa lịch sử sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
* Ý nghĩa Cương lĩnh:
- Cương lĩnh đã phản ánh đầy đủ những quy luật vận động, phát triển nội tại, khách quan của xã hội Việt Nam, đáp ứng được yêu cầu cơ bản và cấp bách của nhân dân ta, đồng thời phù hợp với xu thế phát triển của thời đại lịch sử mới, là cơ sở cho các đường lối của cách mạng Việt Nam sau này
Trang 5- Thể hiện sự nhận thức, vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, chứng tỏ ngay từ đầu Đảng đã độc lập, sáng tạo
* Ý nghĩa sự ra đời của Đảng
- Đảng ra đời đánh dấu bước ngoặt vĩ đại của lịch sử cách mạng nước ta, chấm dứt thời
kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước trong những năm đầu thế kỷ XX, đồng thời
khẳng định vị trí lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với cách mạng Việt Nam
- Đảng ra đời là kết quả tất yếu, khách quan, phù hợp với xu thế thời đại
- Đảng ra đời là một sự kiện có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam
- Ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã có cương lĩnh chính trị xác định đúng đắn con đường giải phóng dân tộc và phương hướng phát triển của cách mạng Việt Nam
4 Những chủ trương của Đảng: Luận cương chính trị, Chủ trương đấu tranh đòi quyền dân chủ, dân sinh (7/1936); Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành trung ương 11/1939, 11/1940 và 05/1941
a) Luận cương chính trị(ngày 14 đến ngày 30- 10-1930 tại Hương Cảng (Trung Quốc)) Sau Hội nghị thành lập Đảng, Cương lĩnh và Điều lệ của Đảng được bí mật đưa vào phong trào cách mạng của quần chúng, phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ và tiến
dần lên cao trào Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng được tiến hành từ) Hội nghị quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng
sản Đông Dương, thông qua Luận cương chính trị của Đảng, bầu ra Ban Chấp hành
Trung ương chính thức gồm 7 ủy viên, đồng chí Trần Phú là Tổng Bí thư
Nội dung cơ bản của Luận cương chính trị:
Luận cương xác định những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam:
+ Về mâu thuẫn giai cấp ở Đông Dương: một bên là thợ thuyền, dân cày và các phần tử lao khổ với một bên là địa chủ, phong kiến, tư bản và đế quốc chủ nghĩa
+ Tính chất của cách mạng Đông Dương: lúc đầu “là một cuộc cách mạng tư sản dân
quyền… có tính chất thổ địa và phản đế” sau đó phát triển bỏ qua thời kỳ tư bản tiến
thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa
Trang 6+ Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền: đánh đổ các di tích phong kiến để thực hành thổ địa cách nạng triệt để và đánh đổ đế quốc làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập
Hai nhiệm vụ này có quan hệ khăng khít với nhau, trong đó “Vấn đề thổ địa là cái cốt
của cách mạng tư sản dân quyền”
+ Về lực lượng cách mạng: vô sản giai cấp và nông dân là hai động lực chính, nhưng vô
sản có cầm quyền lãnh đạo thì cách mạng mới thắng lợi được
Các giai cấp và tầng lớp khác: tư sản thương nghiệp và công nghiệp đứng về phía đế quốc; bộ phận thủ công nghiệp trong giai cấp tiểu tư sản có thái độ do dự, tiểu tư sản thương gia không tán thành cách mạng, tiểu tư sản trí thức có xu hưỏng cải lương
+ Về phương pháp cách mạng: Luận cương nhấn mạnh sự cần thiết phải sử dụng bạo lực cách mạng: “võ trang bạo động”
+ Về vai trò lãnh đạo của Đảng: “Điều cốt yếu cho sự thắng lợi của cách mạng Đông
Dương là cần phải có một Đảng Cộng sản có một đường lối chánh trị đúng, có kỷ luật, tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng và từng trải đấu tranh mà trưởng thành Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, lấy chủ nghĩa Các Mác và Lênin làm gốc”
+ Về mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới: vô sản Đông
Dương phải liên lạc mật thiết với vô sản thế giới, nhất là vô sản Pháp, với quần chúng cách mạng ở các nước thuộc địa, bán thuộc địa, nhất là Trung Quốc và Ấn Độ Cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới
Tính thống nhất và sự khác nhau giữa Luận cương chính trị (10-1930) với Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng (2-1930)
Trang 7– Tính chất của cách mạng lúc đầu là cuộc cách mạng tư sản dân quyền sau đó liếp tục phát triển bỏ qua thời kỳ tư bản tiến thắng lên con đường xã hội chủ nghĩa (độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội)
– Phương pháp cách mạng: sử dụng bạo lực cách nạng của quần chúng Tuyệt đối không đi vào con đường thoả hiệp
– Về lực lượng lãnh dạo cách mạng là giai cấp vô sản thông qua đội tiền phong của mình là Đảng Cộng sản
– Về mối quan hệ cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới: cách mạng Việt Nam với cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới
Những điểm chưa thống nhất và là hạn chế của Luận cương:
Luận cương chính trị và Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt có những điểm chưa
thống nhất, đó cũng chính là những hạn chế của Luận cương tháng 10-1930:
Một là, Luận cương chưa phân tích sâu sắc đặc điểm của xã hội Việt Nam nên không nêu được mâu thuẫn chủ yếu cần giải quyết của xã hội Việt Nam là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và đế quốc Pháp và tay sai của chúng, do đó không đặt nhiệm vụ chống đế quốc lên hàng đầu
Hai là, Luận cương đánh giá chưa đúng vai trò cách mạng của tầng lớp tiểu tư sản và mặt yêu nước của tư sản dân tộc, chưa thấy được khả năng phân hoá và lôi kéo một bộ phận địa chủ vừa và nhỏ trong cách mạng giải phóng dân tộc Luận cương chính trị nhận rõ vai trò của liên minh công nông, nhưng lại chưa đề cập vấn đề Mặt trận dân tộc thống nhất
b) Chủ trương đấu tranh đòi quyền dân chủ, dân sinh (7/1936)
- 3/1935 mặt trận nhân dân Pháp được thành lập, chính phủ nhân dân Pháp ra đời
- Ban chấp hành TW đảng xác định cách mạng ở Đông Dương vẫn là cách mạng tư sản dân quyền, phản đế và điền địa Lập chính quyền của công nông bằng hình thức Xô Viết
để dự bị điều kiện đi tới cách mạng chủ nghĩa Tuy nhiên, cuộc vận động quần chúng hiện thời xét về cả về chính trị và tổ chưa đạt đến trình độ có thể trực tiếp đánh đuổi đế quốc Pháp, lập chính quyền công nông, giải quyết vẫn đề điền địa, trong khi đó, vấn đề cập thiết hiện thời của nhân dân ta là tự do, dân chủ, cải thiện đời sống Vì vậy, lúc này đảng ta cần nắm rõ những yêu cầu này để phát động đấu tranh trong quân chúng nhân dân tạo tiền đề đưa cách mạng tiến lên
Trang 8- Nhận thức mới của Đảng về mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và dân chủ Đảng nêu
một quan điểm mới: “Cuộc cách mạng dân giải phóng không nhất thiết phải kết hợp chặt
với cuộc cách mạng điền địa Nghĩa là, không thể nói rằng: muốn đánh đổ đế quốc cần phải phát triển cách mạng điền địa, muốn giải quyết vấn đề điền địa thì phải đánh đổ đế quốc Lý thuyết ấy có chỗ không xác đáng”
- Chính phủ mặt trận nhân dân Pháp ban bố một số quyền cơ bản cho các nước thuộc địa Đảng đã nắm bắt tình tình thực tế để thực hiện nhiệm vụ trước mắt là tự do, dân chủ, cải thiện đời sống
- 7/1936 Hội nghị BCHTW Đảng họp tại Trung Quốc khẳng định:
+ Mục tiêu cách mạng: Vẫn nhất quán làm cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để tiển lên xã hội cộng sản ( Nhưng trong hoàn cảnh nước ta cách mạng tư sản dân quyền là đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ và cải thiện đời sống)
+ Kẻ thù: là bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai
+ Nhiệm vụ:
Đánh đổ bọn đế quốc phản động thuộc địa và tay sai của Pháp, đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình
Lập Mặt trận dân chủ Đông Dương (mặt trận nhân dân rộng rãi)
+ Lực lượng: các giai cấp nhân dân, gồm lực lượng chính là công dân, nông dân, đoàn kết với tiểu tư sản thành thị và nông thôn , đồng minh hoặc trung lập tạm thời với giai cấp tư sản bản xứ, trung và tiểu địa chủ, các Đảng quốc gia cách mạng
+ Phương pháp cách mạng: Biểu tình, bãi công, đấu tranh một cách ôn hòa chủ yếu là đấu tranh chính trị
+ Hình thức đấu tranh: Chuyển từ đấu tranh bí mật, bất hợp pháp sang đấu tranh công khai, hợp pháp Kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh bí mật, bất hợp pháp vớI đấu tranh công khai nhằm đạt được mục tiêu đề ra và che dấu những lực lượng cách mạng cần được bảo
vệ
+Phạm vi trên toàn Đông Dương
c) Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành trung ương 11/1939, 11/1940 và 05/1941
Hội nghị : Ban chấp hành Trung ương 6 (11/1939) :
Trang 9Tháng 11/1939, Hội nghị Trung ương lần thứ 6 họp tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định), do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì Nd chủ yếu của chủ trương điều chỉnh chiến lược CM như sau :
Hội nghị nhận định: trong điều kiện lịch sử mới, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu và cấp bách của cách mạng Đông Dương và xác định kẻ thù cụ thể, nguy hiểm nhất của cách mạng Đông Dương là chủ nghĩa đế quốc và tay sai phản bội dân tộc Đây là sự chuyển hướng quan trọng nhất về chỉ đạo chiến lược Hội nghị chủ
trương tạm gác khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất” và đề ra khẩu hiệu “tịch thu ruộng đất
của đế quốc và địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc, chống tô cao, chống lãi nặng”
Hội nghị chủ trương tạm gác khẩu hiệu “lập chính quyền Xô viết
công-nông-binh”, thay bằng khẩu hiệu “lập chính quyền cộng hoà dân chủ”, hình thức nhà nước
chung cho tất cả các tầng lớp dân chúng và phong trào giải phóng dân tộc
Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, thay cho Mặt trận dân chủ
Lực lượng chính: công nhân, nông dân đoàn kết với các tầng lớp tiểu tư sản thành thị và nông thôn do giai cấp công nhân lãnh đạo
Về pp CM, Hội nghị bứơc đầu nêu ra 1 số chuyển hướng về tổ chức, vừa xd những
tổ chức hợp pháp, đơn giản, rộng rãi, vừa xd các đoàn thể quần chúng cách mạng… Hội nghị đã quyết định các chủ trương và biện pháp cụ thể nhằm củng cố Đảng về mọi mặt, phải mật thiết liên hệ quần chúng nhân dân… Hội nghị đặc biệt nhấn mạnh sự thống nhất
ý chí và hành động trong toàn Đảng
Hội nghị : Ban chấp hành Trung ương 7 (11/1940) :
Tháng 11/1940, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy của Đảng đã họp tại làng Đình Bảng (Bắc Ninh) Tham gia Hội nghị có các đồng chí Trường Chinh, Phan Đăng Lưu, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh
Hội nghị khẳng định nhiệm vụ trước mắt của Đảng là chuẩn bị lãnh đạo cuộc “võ
trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập”
Hội nghị nhận định cuộc chiến tranh thế giới càng lan rộng và ác liệt, đế quốc Pháp đã bị bại trận, phát xít Nhật sẽ nhân cơ hội này mở rộng chiến tranh cướp lấy các thụôc địa của Pháp, Mỹ, Anh ở Viễn Đông Cuộc chiến tranh đế quốc rất có thể chuyển thành chiến tranh giữa phát xít và Liên Xô Bọn đế quốc hiếu chiến sẽ mau chóng bị Hồng quân Liên Xô và cách mạng thế giới tiêu diệt
Trang 10Hội nghị nhận định, từ khi Pháp-Nhật cấu kết với nhau áp bức, bóc lột nhân dân
ta, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc phát xít Pháp-Nhật ngày càng trở nên sâu sắc Một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy Đảng phải chuẩn bị để giành lấy cái sứ mệnh thiêng liêng lãnh đạo cho các dân tộc bị áp bức Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập
Hội nghị nhận định, kẻ thù chính của cách mạng Đông Dương lúc bấy giờ là phát xít Pháp-Nhật
Hội nghị đã cử ra Ban chấp hành Trung ương lâm thời, đồng chí Trường Chinh đựơc phân công làm quyền Bí thư Trung ương Đảng Hội nghị cũng quyết định chắp mối liên lạc với Quốc tế Cộng sản và bộ phận Đảng ở nước ngoài
Hội nghị đã thảo luận và quyết định hai vấn đề cấp thiết trước mắt :
+Duy trì, phát triển lực lượng vũ trang Bắc Sơn, thành lập những đội du kích, dùng hình thức vũ trang công tác, khi cần thì chiến đấu chống khủng bố, bảo vệ sinh mạng tài sản của nhân dân…
+Hoãn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ vì ở miền Nam chưa có đủ điều kiện bảo đảm cho khởi nghĩa thắng lợi
Hội nghị : Ban chấp hành Trung ương 8 (5/1941)
Tháng 5/1941, NAQ chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng tại Pắc Bó (Cao Bằng)
- Về tình hình quốc tế : Hội nghị nhất trí với những đánh giá của các Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11/1939 và tháng 11/1940 Hội nghị đã phân tích nguồn gốc, đặc điểm, tính chất cụôc Chiến tranh thế giới thứ hai Chiến tranh thế giới đã gây ra nhiều tai họa cho nền văn minh của xã hội loài người, nhưng kết quả lớn nhất là, nếu tranh
đế quốc lần trước đã đẻ ra Liên Xô-một nước XHCN, thì cuộc chiến tranh lần này sẽ
đẻ ra nhiều nước XHCN, do đó mà cách mạng nhiều nứơc thành công
- Về tình hình Đông Dương : Hội nghị nhận định từ khi bùng nổ chiến tranh, các tầng lớp nhân dân Đông Dương đều bị điêu đứng, quyền lợi tất cả các giai cấp đều bị cướp giật
Căn cứ sự phân tích tình hình thế giới và trong nước, Hội nghị khẳng định nhiệm vụ chủ
yếu trước mắt của cách mạng là giải phóng dân tộc “Trong lúc này nếu không giải quyết
được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì
Trang 11chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của
bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”
Về tình hình của cuộc cách mạng : Hội nghị chỉ ra: cụôc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cụôc cách mạng phải giải quyết 2 vấn đề phản đế và điền địa nữa, mà là cụôc cách mạng chỉ phải giải quyết 1 vấn đề cần
kíp “dân tộc giải phóng”, vì vậy cụôc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại
là một cụôc cách mạng dân tộc giải phóng
Hội nghị tiếp tục thực hiện chủ trương tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ địa chủ, chia ruộng
đất cho dân cày” thay bằng khẩu hiệu “tịch thu rụông đất của bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo”
Sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp-Nhật, “sẽ thành lập 1 Chính phủ nhân dân của VN dân
chủ cộng hòa lấy lá cờ đỏ ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ toàn quốc”
Vấn đề mặt trận dân tộc thống nhất : Căn cứ vào điều kiện cụ thể của cách mạng VN,
Lào, Campuchia, theo đề nghị của đồng chí NAQ, Hội nghị chủ trương thành lập Mặt
trận dân tộc thống nhất riêng cho mỗi nước VN, Lào, Campuchia Ở VN, Hội nghị chủ
trương thành lập mặt trận VN độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh
Về khởi nghĩa vũ trang : Hội nghị quyết định phải xúc tiến công tác chuẩn bị khởi nghĩa
vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân ta trong giai đoạn hiện tại
Hội nghị đã đề ra nhiệm vụ xây dựng Đảng, làm cho Đảng đủ năng lực lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc
Hội nghị cử ra Ban chấp hành Trung ương Đảng, bầu đồng chí Trường Chinh làm Tổng
Dân chủ Cộng hòa (6/1/1946); xây dựng và thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên
(9/11/1946); chăm lo xây dựng chế độ mới, đời sống mới của nhân dân, chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm; tổ chức kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ và Nam
Trang 12Trung Bộ với sự ủng hộ và chi viện của cả nước; kiên quyết trấn áp các thế lực phản cách mạng, bảo vệ chính quyền và thành quả Cách mạng tháng Tám; đồng thời thực hành sách lược khôn khéo, đưa cách mạng vượt qua những thử thách hiểm nghèo Đảng
đã chủ động chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp trên phạm vi cả nước
Cuối tháng Tám năm 1945, lấy danh nghĩa quân Đồng minh, gần 20 vạn quân Tưởng, theo gót là lực lượng phản động Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng đồng minh Hội ồ ạt kéo vào miền Bắc nước ta Chúng ráo riết thực hiện âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng, lập chính quyền phản động Đằng sau quân Tưởng là Mỹ với dã tâm đặt Đông Dương dưới chế độ “ủy trị” của họ Ở miền Nam, cũng với danh nghĩa quân Đồng minh, quân Anh vào giải giáp quân Nhật, núp sau quân Anh là quân Pháp Ngày 23-9-1945, quân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai Chưa bao giờ trên đất nước ta cùng một lúc có nhiều kẻ thù hung bạo và xảo quyệt như lúc này Vận mệnh nước Việt Nam mới “như ngàn cân treo sợi tóc”
Ngay sau khi tuyên bố độc lập, ngày 03-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính
phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nêu 6 nhiệm vụ cấp bách: Phát động ngay
chiến dịch tăng gia sản xuất để chống đói; Mở ngay chiến dịch chống nạn mù chữ; Tổ chức càng sớm càng tốt cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu, thực hiện quyền tự do, dân chủ của nhân dân; Mở chiến dịch giáo dục cần, kiệm, liêm, chính để bài trừ thói hư, tật xấu do chế độ thực dân để lại; Bỏ ngay ba thứ thuế: thuế thân, thuế chợ, thuế đò, tuyệt đối cấm hút thuốc phiện Tuyên bố tự do tín ngưỡng và lương giáo đoàn kết Tiếp đó, từ ngày 10 đến ngày 11-9-1945, Hội nghị cán bộ Bắc Kỳ của Đảng đề ra các
nhiệm vụ về chính trị, quân sự, kinh tế, tài chính, văn hóa, xã hội, trong đó “nhiệm vụ chính, trọng tâm trong lúc này là củng cố chính quyền, dùng chính trị, ngoại giao, quân
sự, giải thể các cơ quan thuộc Phủ Toàn quyền Đông Dương
- Đối với Pháp và Tưởng, lúc tạm hòa với Tưởng để rảnh tay đối phó với Pháp, lúc tạm hòa với Pháp để đẩy nhanh Tưởng ra khỏi đất nước Thực hiện sách lược trên đã đặt các đảng phái, tổ chức phản động ra ngoài vòng pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc
Trang 13trấn áp bọn phản cách mạng, tranh thủ thời gian củng cố lực lượng, bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài
Để tăng cường thực lực cách mạng: phát triển các tổ chức trong Mặt trận Việt Minh, tổ
chức thêm các đoàn thể cứu quốc, gồm các lực lượng yêu nước và tiến bộ Tháng 5-1946,
Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Liên Việt) được thành lập, thu hút các đảng phái và cá
nhân yêu nước Để chính quyền cách mạng tiêu biểu cho khối đoàn kết toàn dân, Nhà nước mở rộng thành phần Chính phủ, đưa các nhân sĩ, trí thức vào tham gia
Để thiết thực xây dựng, củng cố chính quyền nhà nước, Chính phủ ban hành Sắc lệnh Tổng tuyển cử trong cả nước để bầu Quốc dân Đại hội và ấn định Hiến pháp của nước
Việt Nam mới Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội nhất trí tuyên bố “Chủ tịch Hồ Chí Minh
xứng đáng với Tổ quốc” và trao cho Người quyền thành lập Chính phủ mới Chính phủ
mới - Chính phủ Liên hiệp kháng chiến được Quốc hội thông qua, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Hiến pháp đầu tiên của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dựa trên những nguyên tắc: “Đoàn kết toàn dân,
không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo Bảo đảm các quyền tự do dân chủ Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”(4)
Cùng với việc xây dựng, củng cố chính quyền nhà nước các cấp là việc củng cố thực
lực cách mạng
- Tổ chức cứu đói và đề phòng nạn đói Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động chiến dịch tăng gia sản xuất và cứu đói Người kêu gọi nhân dân và gương mẫu thực hiện
“nhường cơm sẻ áo” bằng cách “cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa”, đem gạo đó để cứu
dân nghèo Nhà nước tổ chức các đội lạc quyên cứu đói và quy định tiết kiệm lương thực, cấm nấu rượu lậu bằng gạo, ngô, đẩy mạnh trồng hoa màu ngắn ngày, v.v Kết quả là nạn đói được đẩy lùi
- Nhà nước còn tiến hành tịch thu ruộng đất của đế quốc, Việt gian chia cho nông dân nghèo, chia lại ruộng đất công một cách công bằng, hợp lý và ra Thông tư giảm tô 25% cho nông dân;
- Mở lại các nhà máy do Nhật bỏ lại, tiến hành khai thác mỏ, khuyến khích kinh
doanh Nhà nước xây dựng “Quỹ độc lập”, tổ chức “Tuần lễ vàng”
- Phát hành tiền giấy bạc Việt Nam, từng bước xây dựng nền tài chính độc lập
- Đồng thời, Nhà nước còn vận động toàn dân xây dựng nền văn hóa mới, nếp sống mới, xóa bỏ văn hóa nô dịch của chế độ thực dân, phong kiến; phát triển phong trào bình dân học vụ, xóa nạn mù chữ
Trang 14
- Tháng 12/1946, trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, Đảng
và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động toàn quốc kháng chiến với quyết tâm “Chúng ta
thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” Bằng
đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của bạn bè quốc tế, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta lần lượt đánh bại các kế hoạch chiến tranh của thực dân Pháp giành thắng lợi mà đỉnh cao là
chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc Chính
phủ Pháp phải ký kết Hiệp định Giơnevơ chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp ở nước
ta
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) là tổng hợp của
nhiều nguyên nhân, nhưng sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định hàng đầu quyết định thắng lợi
Trước hết, do Đảng có đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo Đường lối đó thể
hiện trong Bản Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”, “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến”
của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng (2-1951); tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Tổng Bí thư Trường Chinh Cốt lõi đường lối
kháng chiến của Đảng khẳng định: cuộc kháng chiến của dân tộc ta là chiến tranh nhân
dân chính nghĩa; có tính chất toàn dân, toàn diện lâu dài, dựa và sức mình là chính;
đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình
Đảng đã xây dựng được quân đội nhân dân anh hùng, có nghệ thuật quân sự tài giỏi, được sự giúp đỡ, nuôi dưỡng từ nhân dân đã tổ chức các chiến dịch lớn thắng lợi Đó là chiến dịch 60 ngày đêm của quân dân Hà Nội kìm chân quân Pháp; chiến dịch Việt Bắc Thu Đông năm 1947; chiến dịch Biên Giới năm 1950 và đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp phải chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương Ngày 21-7-1954, Pháp và các nước đã ký kết Hiệp định Giơnevơ, công nhận độc lập chủ quyền của ba nước Đông Dương, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình trên toàn cõi Đông Dương
2 Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)
Sau năm 1954, đất nước ta chia làm hai miền Miền Bắc Việt Nam được giải phóng, thực hiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội Ở miền Nam, đế quốc Mỹ phá hoại Hiệp định Giơnevơ, hất cẳng Pháp, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ, phòng tuyến chống chủ nghĩa cộng sản
Những năm 1954-1958, Đảng chủ trương khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa
ở miền Bắc, đấu tranh hòa bình đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, thống nhất nước nhà
Trang 15Hội nghị Trung ương 15, khóa II (1-1959) quyết định cách mạng miền Nam phải giành chính quyền bằng con đường sử dụng bạo lực cách mạng Dưới sự lãnh đạo của
Đảng, phong trào Đồng khởi từ tỉnh Bến Tre (1-1960) nhanh chóng lan rộng ra khắp miền Nam Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam thành lập (12-1960) Cách
mạng miền Nam chuyển mạnh từ thế giữ gìn lực lượng chuyển sang thế tiến công cách
mạng
Đại hội lần thứ III của Đảng (9-1960) chủ trương đồng thời xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà Đại hội bầu đồng chí Lê Duẩn
là Tổng Bí thư của Đảng
Từ năm 1961, Tổng thống Mỹ Kennơđi quyết định chuyển sang thực hiện chiến lược
“Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Trước tình hình đó, Đảng chủ trương, miền Bắc chi
viện mạnh mẽ cho cách mạng miền Nam qua đường Hồ Chí Minh trên bộ, trên biển, tiến công mạnh mẽ quân địch Tháng 11-1963, Ngô Đình Diệm bị ám sát Chính quyền Sài Gòn liên tục bị đảo chính “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ bị phá sản
Sau 10 năm hòa bình (1954-1964), miền Bắc thay đổi mọi mặt, đã tiến những bước dài chưa từng có trong lịch sử dân tộc Đất nước, xã hội, con người đều đổi mới
Từ 1965-1968, Tổng thống Mỹ Giônxơn quyết định tiến hành “Chiến tranh cục bộ”,
đưa hơn nửa triệu quân Mỹ và quân một số nước đồng minh của Mỹ vào miền Nam, cho không quân và hải quân ném bom, thả mìn phá hoại miền Bắc Trước sự leo thang chiến tranh của Mỹ, Đảng chủ trương phát động cuộc chiến tranh nhân dân chống Mỹ trên cả nước, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược trong bất cứ tình huống nào
Quân dân miền Bắc tổ chức lại sản xuất, chống chiến tranh phá hoại của Mỹ với tinh
thần “tay cày tay súng”, “tay búa tay súng”, đồng thời tích cực chi viện chiến trường với tinh thần “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”
Quân dân miền Nam giành thắng lợi ở nhiều trận, đặc biệt là thắng lợi của cuộc Tổng công kích và nổi dậy mùa Xuân năm 1968 đã buộc Mỹ phải chấm dứt không điều kiện ném bom miền Bắc, rút quân viễn chinh Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, ngồi đàm phán với ta tại Hội nghị Pari (11-1968) Chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ
bị phá sản
Từ năm 1972, Tổng thống Níchxơn quyết định tiến hành Chiến lược “Việt Nam hoá
chiến tranh” Quân dân miền Nam mở nhiều đòn tấn công chiến lược vào những năm
1971, 1972; đặc biệt, quân dân Hà Nội chiến thắng trận “Điện Biên Phủ trên không”, buộc đế quốc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pari (1-1973) công nhận độc lập, chủ quyền,
Trang 16thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút hết quân đội Mỹ và quân đồng minh của
Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam
Theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”
Đảng chủ trương mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 Với ba đòn tiến công là chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Huế-Đà Nẵng và chiến dịch Hồ Chí Minh (từ 10-3 đến 30-4-1975) quân dân ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố, trong đó sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định hàng đầu
Đảng có đường lối chính trị, quân sự và phương pháp cách mạng độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo, tổng hợp, dẫn dắt cuộc kháng chiến của toàn dân tộc đi đến thắng lợi hoàn toàn Đó là đường lối đồng thời đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc
và cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền Nam Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam và sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà Đó là hai chiến lược cách mạng khác nhau ở hai miền, nhưng tiến hành đồng thời, có quan hệ mật thiết, thúc đẩy lẫn nhau nhằm giải quyết mâu thuẫn chung giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ và tay sai, thực hiện hòa bình thống nhất Tổ quốc
Đảng đã lãnh đạo, động viên cán bộ, chiến sĩ và đồng bào miền Nam kiên cường chiến đấu chống quân thù, xứng đáng với danh hiệu “Thành đồng của Tổ quốc”, động viên đồng bào và chiến sĩ miền Bắc vừa xây dựng, vừa chống chiến tranh phá hoại, vừa hoàn thành nghĩa vụ hậu phương lớn, chi viện tiền tuyến lớn đánh thắng giặc Mỹ xâm lược
Đảng đã phát huy sức mạnh đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia; có sự ủng hộ hết lòng và sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa; sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ
Chương III: Đảng lãnh đạo cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội và tiến hành công cuộc đổi mới (1975-2020)
1 Sự lãnh đạo của Đảng thông qua Nghị quyết Đại hội lần 5, 6, 8, 9, 11, 12
a) Đại hội 5(ngày 27 đến ngày 31 tháng 3 năm 1982 tại Thủ đô Hà Nội)
Trang 17Trong 5 năm đầu cả nước bước vào kỷ nguyên xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa, trên đất nước ta đã diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng, được ghi đậm nét vào lịch sử vẻ vang của Đảng và của dân tộc Nhân dân ta đã vượt qua nhiều khó khăn gian khổ, giành được nhiều thắng lợi có ý nghĩa
Đây cũng chính là thời kỳ Đảng và nhân dân ta phải trải qua nhiều thách thức nghiêm trọng
Công tác lãnh đạo và quản lý kinh tế, quản lý xã hội của Đảng và Nhà nước phạm nhiều khuyết điểm
Xuất hiện tình hình khủng hoảng kinh tế - xã hội
Thực trạng đất nước đòi hỏi Đảng phải kiểm điểm lại đường lối, chủ trương, chính sách, đánh giá khách quan thành tựu và khuyết điểm, định ra mục tiêu, nhiệm vụ, các biện pháp giải quyết đúng những vấn đề quan trọng cấp bách trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội nhằm tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng nước ta tiến lên
Báo cáo chính trị đã đánh giá toàn diện những thắng lợi mà Đảng và nhân dân ta đã giành được trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc từ sau đại thắng mùa xuân 1975 Báo cáo khẳng định: Thành công rực rỡ của Đảng và nhân dân ta đã nhanh chóng thống nhất đất nước về mặt nhà nước, triển khai thực hiện nhiều chính sách thúc đẩy quá trình thống nhất về mọi mặt, tăng cường khối đoàn kết toàn dân tộc; Thắng lợi trong cuộc chiến đấu bảo vệ chủ quyền lãnh thổ đã bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, tăng cường tình hữu nghị và hợp tác giữa ba nước Việt Nam, Lào,
Campuchia, góp phần củng cố hoà bình và ổn định trong khu vực
Báo cáo chính trị đã nêu bật những thành tựu trên các lĩnh vực
Trên mặt trận kinh tế: chúng ta đã khắc phục những hậu quả nặng nề do chiến tranh xâm lược và thiên tai gây ra, khôi phục và phát triển sản xuất, phân bố lại lao động xã hội, củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Ở miền Nam, công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đạt được những kết quả bước đầu, giai cấp tư sản mại bản bị xoá bỏ, một bộ phận công thương nghiệp tư bản đã được cải tạo, nông dân ở nhiều nơi tham gia tập đoàn sản xuất kể cả vào làm ăn tập thể
Trên mặt trận văn hoá, sự nghiệp giáo dục tiếp tục phát triển, nạn mù chữ về cơ bản được thanh toán
Công cuộc xây dựng nền văn hoá mới được triển khai trong cả nước Sự
nghiệp văn học nghệ thuật đạt được một số tiến bộ
Công tác y tế, thể dục thể thao, có nhiều cố gắng vươn lên
Trang 18 Các ngành khoa học, kỹ thuật đã đáp ứng tốt một số yêu cầu của kinh tế và quốc phòng
Trên cơ sở phân tích hiện trạng của đất nước, Báo cáo chính trị cũng vạch rõ những khó khăn yếu kém của nước ta trong quá trình phát triển
Về kinh tế, kết quả thực hiện các kế hoạch kinh tế trong 5 năm 1976-1980 chưa thu hẹp được những mặt cân đối nghiêm trọng của nền kinh tế quốc dân Sản xuất phát triển rất chậm trong khi dân số tăng nhanh, lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng không đủ đáp ứng nhu cầu thiết yếu của đời sống xã hội Đời sống nhân dân lao động gặp rất nhiều khó khăn thiếu thốn Mặt trận tư tưởng, văn hoá, giáo dục còn bị xem nhẹ, pháp chế xã hội chủ nghĩa chậm được tăng cường, pháp luật, kỷ luật bị buông lỏng
Mặt khác, khó khăn còn do sai lầm, khuyết điểm của các cơ quan Đảng và Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở trong lãnh đạo quản lý kinh tế - xã hội của đất nước Chủ quan, nóng vội đề ra một số chỉ tiêu quá lớn về quy mô, quá cao về tốc độ xây dựng cơ bản và phát triển sản xuất; đã duy trì quá lâu
cơ chế quản lý hành chính quan liêu bao cấp, chậm đổi mới các chính sách chế độ kìm hãm sản xuất; đã quan liêu, xa rời thực tế, không nhạy bén với những thay đổi của vận động xã hội, bảo thủ, trì trệ, lạc quan thiếu cơ sở
Từ tình hình thực tiễn đất nước, những biến động của tình hình quốc tế và những
âm mưu của các thế lực thù địch chống lại Việt Nam, Báo cáo nêu rõ trong giai đoạn mới
của cách mạng, Đảng phải lãnh đạo nhân dân ta thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: “Xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội và sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” Hai nhiệm vụ chiến lược đó quan hệ mật thiết với nhau Xây
dựng chủ nghĩa xã hội làm cho đất nước lớn mạnh về mọi mặt thì mới có đủ sức đánh thắng mọi cuộc chiến tranh xâm lược của địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Ngược lại có tăng cường phòng thủ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc mới có điều kiện để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
Trong khi thực hiện nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, Đảng và nhân dân ta phải đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội Báo cáo chính trị của Đảng
đã đề ra những nhiệm vụ chủ yếu về kinh tế - xã hội trong 5 năm 1981-1985 và những năm 80
*Mục tiêu kinh tế - xã hội những năm 80 là: Đáp ứng những nhu cầu cấp bách và
thiết yếu nhất dần dần ổn định, tiến tới cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân; Tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội; thúc đẩy