1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHỞI KIỆN vụ án dân sự NHỮNG vấn đề lý LUẬN và THỰC TIỄN áp DỤNG

49 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khởi Kiện Vụ Án Dân Sự - Những Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn
Tác giả Lê Thị Thu Hương
Người hướng dẫn ThS. Chu Thị Hương
Trường học Trường Đại Học Thủ Dầu Một
Chuyên ngành Luật
Thể loại báo cáo tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 1,18 MB
File đính kèm khởi kiện vụ án dân sự.rar (486 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Khởi kiện vụ án dân sự Những vấn đề lý luận và thực tiễn”. Đây không phải là đề tài mới mẻ. Tuy nhiên vấn đề dân sự luôn thay đổi theo xã hội do đó mà những quy định của pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự còn có nhiều điểm hạn chế, bất cập, chưa thể đáp ứng được nhu cầu giải quyết trong thực tế phát sinh. Trong bài báo cáo tác giả đã đưa ra.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘ T KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ

***********

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ

Trang 2

LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan rằng Báo cáo tốt nghiệp “Khởi kiện vụ án dân sự - Nhữngvấn đề lý luận và thực tiễn” là đề tài nghiên cứu của riêng tôi

Số liệu và kết quả nghiên cứu trong bài báo cáo này là hoàn toàn trung thực

và chưa được sử dụng hoặc công bố trong bất kì công trình nào

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hành báo cáo này đã được cảm ơn và các thôngtin trích dẫn trong báo cáo đều được chỉ rõ nguồn trích dẫn

Tác giả báo cáo

Lê Thị Thu Hương

Trang 3

Một lần nữa, xin trân trọng cám ơn!

Tp Thủ Dầu Một, tháng 11 năm 2021

Lê Thị Thu Hương

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề

Trong suốt bề dày phát triển của lịch sử, hệ thống pháp luật Việt Namnói chung và pháp luật tố tụng dân sự (TTDS) nói riêng đã chịu ảnh hưởngsâu sắc bởi các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và những biến động trongdòng chảy của lịch sử nước nhà Trước thời kì Pháp thuộc, pháp luật ViệtNam dường như chưa có sự phân biệt giữa các ngành luật, các cơ quan tàiphán và cơ quan quản lý với nhau Các tranh chấp phát sinh trong xã hội lúcbấy giờ thường được giải quyết bởi người đứng đầu các cấp trong bộ máy caitrị theo các nguyên tắc chung về tố tụng để giải quyết Dưới thời Lê, pháp luậtdân sự được xây dựng và hoàn thiện với sự quan tâm đặc biệt bởi nhiều lý doxuất phát từ thực tiễn xã hội trong thời kì này Trong giai đoạn 1428 – 1788các quy định được ghi nhận trong Quốc triều Hình luật và Quốc triều khámtụng điều lệ Cho đến thời Nguyễn các quy định này vẫn tiếp tục được kế thừa

sử dụng giải quyết tranh chấp Qua tìm hiểu cho thấy các quy định về thủ tục

tố tụng dân sự với tư cách là một thủ tục riêng biệt có lẽ chính thức được dunhập vào Việt Nam – miền Nam Việt Nam dưới thời kì Pháp thuộc Sau nhiềunăm tồn tại các loại thủ tục tố tụng riêng biệt, nằm rải rác trong nhiều văn bảnkhác nhau thì mãi cho đến năm 2004 nhà nước Việt Nam đã xây dựng và choban hành Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) chung thống nhất [12, 19-27],[20] Bộ luật ra đời đã đánh dấu bước chuyển lớn cho lịch sử lập pháp nướcnhà nói chung và pháp luật tố tụng dân sự nói riêng Tuy nhiên, do có nhiềuquy định được mô phỏng từ nước ngoài nên khi áp dụng vào giải quyết trong

xã hội Việt Nam lúc bấy giờ là không phù hợp bởi lẽ có sự khác biệt, chênhlệch về điều kiện, hoàn cảnh thực tế trong xã hội Để có thể đáp ứng đượcnhững yêu cầu của thực tiễn pháp luật tố tụng Việt Nam không ngừng thayđổi, phát triển để có thể hoàn thiện và phù hợp hơn Cho đến nay thì BLTTDSnăm 2015 đang được áp dụng giải quyết các tranh chấp dân sự, có hiệu lực thihành từ 01/7/2016 BLTTDS 2015 có nhiều thay đổi quan trọng, đảm bảo hơnquyền khởi kiện của các chủ thể tham gia tố tụng

Đến năm 2021, Việt Nam là nước đang phát triển có nhiều thành tựunổi bật cũng như đã gặt hái được nhiều thành công Vị thế đất nước cũng càngngày được cũng cố trên trường quốc tế Bên cạnh sự phát triển của đất nước lànhững nhu cầu giải quyết các tranh chấp phát sinh trong thực tiễn và nhữngtranh chấp thường xuyên xảy ra là các tranh chấp về dân sự, hôn nhân giađình, kinh doanh thương mại và lao động Bởi lẽ đây là những quan hệ dân sự

Trang 6

gần như gắn liền với đời sống của mỗi người, tranh chấp xảy ra dẫn đến vấn

đề về khởi kiện vụ án dân sự (VADS) ngày càng gia tăng

Việc giải quyết vấn đề khởi kiện vụ án dân sự còn gặp nhiều vấn đề khókhăn, vướng mắc như xác định loại quan hệ dân sự, xác định thời hiệu khởikiện, xác định người tham gia tố tụng, cơ chế đảm bảo thi hành bản án có hiệulực, còn gặp nhiều những bất cập mà chưa thể giải quyết được Trước tìnhhình đó, việc nghiên cứu toàn diện, sâu sắc các quy định của BLTTDS năm

2015 về khởi kiện VADS để nhận biết được những kết quả đạt được, nhữnghạn chế, bất cập của quy định pháp luật cũng như những tồn tại, hạn chế,vướng mắc trong thực tiễn thực hiện, từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm hoànthiện hơn nữa các quy định pháp luật cũng như đề xuất các giải pháp bảo đảmthực hiện khởi kiện VADS là yêu cầu cần thiết

Từ những lý do trên, tác giả đã đi đến lựa chọn đề tài: “Khởi kiện vụ

án dân sự - những vấn đề lý luận và thực tiễn”, làm báo cáo tốt nghiệp

chuyên ngành luật học của mình

2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan

Qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu đề tài cho thấy, trước và sau khiban hành BLTTDS 2015 đã có một số công trình nghiên cứu có liên quan đếnvấn đề khởi kiện VADS như: luận văn, sách, tạp chí,…Theo nghiên cứu vàtìm hiểu của cá nhân tác giả, chưa thấy được công trình nghiên cứu cụ thể về

vấn đề “Khởi kiện vụ án dân sự - những vấn đề lý luận và thực tiễn” nên tác

giả đã tìm hiểu, nghiên cứu và tham khảo một số công trình nghiên cứu cóliên quan như sau:

Phan Thanh Dương (2018), Khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Luận văn Thạc sĩ luật học, Đại học luật Hà

Nội Công trình này cho thấy một cái nhìn tổng thể về khởi kiện VADS, nộidung của luận văn chủ yếu là chỉ ra nguyên nhân dẫn đến những hạn chếtrong việc thực hiện khởi kiện VADS cũng như thực trạng áp dụng các quyđịnh về khởi kiện và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật;

Nguyễn Thị Hương (2019), Khởi kiện vụ án dân sự và thụ lý vụ án – những

vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ luật học, Đại học luật Hà Nội.

Công trình nghiên cứu này khá lớn cho thấy được những nội dung chủ yếudẫn đến hạn chế trong việc thực hiện khởi kiện và thụ lý VADS Tác giả còn

so sánh chế định khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự với một số nước trên thếgiới và thực tiễn áp dụng cũng như vướng mắc cơ bản khi áp dụng từ đó đưa

ra kiến nghị giải quyết vấn đề Các công trình trên đã nghiên cứu về những

Trang 7

chế định liên quan đến khởi kiện VADS trong TTDS của pháp luật Việt Namtrên cơ sở nêu ra những quy định pháp luật, thực hiện thống kê số liệu, phântích những vấn đề thực tiễn chỉ ra những bất cập trong những quy định củapháp luật hiện hành Vấn đề khởi kiện VADS là một trong những nội dungquan trọng của pháp luật TTDS, nên cần phải được tiếp tục nghiên cứu và tìmhiểu

3. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ những quy định cụ thể liênquan đến việc khởi kiện VADS, nội dung của các quy định của pháp luật tốtụng dân sự về khởi kiện VADS và thực tiễn áp dụng các quy định này, qua đóphát hiện được những vướng mắc, bất cập trong các quy định của pháp luậthiện hành về khởi kiện VADS cũng như thực tiễn thực hiện để đưa ra kiếnnghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề này và nâng cao hiệuquả thực hiện Pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của công dân cũng chính làbảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, lợi ích chung của toàn xã hội Gópphần xóa bỏ, giảm thiểu những mặt trái, những bất cập còn mắc phải củaBLTTDS năm 2015

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: của đề tài báo cáo tốt nghiệp là những vấn đề lý luận

về khởi kiện VADS, các quy định của pháp luật tố tụng về khởi kiện VADS vàthực tiễn thi hành các quy định này tại Tòa án nhân dân (TAND)

- Phạm vi nghiên cứu: Do nội dung của khởi kiện VADS tương đối nhiều và

có thể được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như một thủ tục, hoạtđộng pháp lý hay dưới góc nhìn là một hoạt động của xã hội Tuy nhiên, tácgiả chỉ dừng lại nghiên cứu đề tài trong phạm vi nghiên cứu những vấn đề lýluận cơ bản, những quy định của pháp luật tố tụng về khởi kiện VADS và thựctiễn áp dụng các quy định tại Tòa án Việt Nam trong những năm gần đây

5. Phương pháp nghiên cứu

- Tại Chương 1 tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp và khái quát hoá các trithức khoa học luật tố tụng dân sự để nêu ra các khái niệm pháp lý và nhữngquy định pháp luật được pháp luật Việt Nam quy định

- Tại Chương 2 tác giả sử dụng phương pháp thống kê để thống kê số lượng vụ

án trên thực tế tại Toà án Sử dụng phương pháp phân tích, phương pháplogic, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch để phân tích tình hìnhthực tiễn và đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện pháp luật

6. Ý nghĩa khoa học và tính ứng dụng của đề tài

- Phân tích làm rõ thêm vai trò của chế định khởi kiện VADS và cơ sở của việcpháp luật quy định về khởi kiện VADS

Trang 8

- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự ViệtNam về khởi kiện VADS thấy được những vướng mắc, bất cập trong quy địnhcủa pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về khởi kiện VADS và thực tiễn ápdụng trong giai đoạn hiện nay, từ đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằmnâng cao hiệu quả khởi kiện VADS.

7. Bố cục báo cáo tốt nghiệp

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của bài báo cáo gồm 2 chương

Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp lý về khởi kiện vụ án dân sự Chương 2 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về khởi kiện và một số

kiến nghị

Trang 9

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ KHỞI

KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

1 KHÁI NIỆM KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

Trong sự phát triển của xã hội, khi Nhà nước và pháp luật ra đời thìviệc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được ghi nhận bằng phápluật và bảo đảm thực hiện thông qua các thiết chế do Nhà nước thiết lập Khiquyền con người ngày càng được đề cao và bảo vệ thì quyền khởi kiện lại làmột nhóm quyền thuộc quyền con người Theo đó, quyền khởi kiện của tổchức, cá nhân đã được pháp luật quy định và chủ thể cho rằng quyền, lợi íchhợp pháp của mình bị xâm phạm có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình thông qua việc khởi kiện Khởi kiện vụ

án dân sự được pháp luật ghi nhận là hoạt động tố tụng đầu tiên bảo vệ quyềndân sự của chủ thể có quyền hay lợi ích hợp pháp bị xâm phạm và các chủ thểđược pháp luật trao quyền; là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tốtụng dân sự

Khi đơn khởi kiện của các chủ thể đáp ứng đủ các điều kiện do phápluật quy định thì Tòa án có trách nhiệm thụ lý vụ án Việc khởi kiện VADS làtiền đề pháp lý để các chủ thể có thể yêu cầu Tòa án khởi động quá trình tốtụng để khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời tạo cơchế chủ động tự bảo vệ cho cá nhân, pháp nhân khi quyền và lợi ích của mình

bị xâm phạm, tranh chấp hay có yêu cầu cần giải quyết

Ở Việt Nam, quyền khởi kiện được ghi nhận gián tiếp trong các bảnHiến pháp của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chẳng hạn tại Điều

14 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, vănhóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp vàpháp luật"

Hiện nay pháp luật TTDS không có quy định cụ thể về khái niệm khởikiện VADS Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cóquy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ luật này quy định có quyền khởikiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền đểyêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo

vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của ngườikhác.” Có thể khẳng định rằng quyền khởi kiện vụ án dân sự là một quyền tốtụng quan trọng của các chủ thể Theo đó thì các cá nhân, cơ quan, tổ chức cóthể bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình thông qua việc thực hiện quyền

Trang 10

khởi kiện trước Tòa án Như vậy, ta có thể thấy cơ quan, tổ chức, cá nhân màBLTTDS quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự Ngoài ra còn có quy định

về quyền khởi kiện của các chủ thể của các quan hệ pháp luật Theo đó thì các

cá nhân, tổ chức, cơ quan có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diệnhợp pháp khởi kiện vụ án tại tòa án có thẩm quyền để yêu cầu được bảo vềquyền và lợi ích hợp pháp của mình (quy định cụ thể tại Điều 186 Bộ luật Tốtụng dân sự năm 2015)

Như vậy, mặc dù không có quy định cụ thể nào nói về khởi kiện vụ ándân sự nhưng thông qua các quy định của pháp luật có thể hiểu: Khởi kiện vụ

án dân sự là hành vi của các cá nhân, tổ chức, cơ quan có quyền, tự mình hoặcthông qua người đại diện hợp pháp đưa vấn đề có tranh chấp ra trước Tòa án

có thẩm quyền theo trình tự và thủ tục pháp luật quy định nhằm yêu cầu đượcbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, người khác, lợi ích công cộnghoặc lợi ích nhà nước [10, 13],[12]

2 VAI TRÒ CỦA CHẾ ĐỊNH KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

Việc pháp luật quy định vấn đề khởi kiện VADS trong pháp luật TTDS

là đang cụ thể hóa quyền con người theo quy định của Hiến pháp nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như bước đầu bảo vệ quyền, lợi ích hợppháp của các chủ thể của quan hệ pháp luật TTDS Nếu chủ thể có quyền khởikiện không thực hiện hoạt động khởi kiện thì sẽ không có những hoạt động tốtụng tiếp theo và các tranh chấp phần lớn sẽ không được giải quyết triệt để khicác đương sự không thỏa thuận được với nhau phương hướng giải quyết vụviệc

Tạo cơ chế bảo đảm xây dựng mối quan hệ giữa luật nội dung và luật tốtụng (hay còn được gọi là luật hình thức) Quyền lợi của người của quyền, lợi

bị xâm phạm không chỉ được ghi nhận mà còn được bảo vệ trên thực tế thôngqua cơ chế hoạt động xét xử của Tòa án khi đương sự có đơn yêu cầu

Khởi kiện VADS là hành vi pháp lý đầu tiên của cá nhân, cơ quan, tổchức có quyền tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự; là cơ sở pháp lýlàm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự; là tiền đề cho các hoạt độngtiếp theo trong giải quyết VADS Thông qua hoạt động khởi kiện chủ thể cóquyền khởi kiện đã nhờ tới sự can thiệp của một chủ thể đặc biệt đó là Nhànước để bảo vệ quyền hay lợi ích hợp pháp của mình Nhà nước sử dụngquyền lực mang tính chất cưỡng chế không những khôi phục lại quyền hay lợiích hợp pháp của chủ thể bị xâm phạm đồng thời chịu những chế tài, tráchnhiệm pháp lý nghiêm khắc của pháp luật Vì vậy cơ chế khởi kiện dân sự ra

Trang 11

đời không những bảo vệ được quyền dân sự của các chủ thể mà còn có ýnghĩa nhằm răn đe, ngăn chặn các hành vi xâm phạm đến quyền và lợi hợppháp của các chủ thể, đảm bảo sự ổn định của các quan hệ xã hội, nâng cao ýthức pháp luật của người dân.

Khởi kiện VADS là một phương thức xử sự văn minh và tuân thủ phápluật thay thế cho việc các cá nhân tự do hành xử trong việc giải quyết tranhchấp Do địa vị pháp lý của các bên trong quan hệ pháp luật nội dung là bìnhđẳng nên một bên không thể tự mình cưỡng chế bên kia phải thực hiện nghĩa

vụ của mình, họ cần phải tìm đến một chủ thể có địa vị pháp lý cao hơn, cóquyền năng đặc biệt để can thiệp giúp họ khôi phục lại quyền hay lợi ích bịxâm hại và chủ thể đặc biệt đó chính là Nhà nước Thay vì hành xử bằng cáchành vi, lời nói giữa các bên thì việc lựa chọn khởi kiện tại cơ quan có thẩmquyền là lựa chọn hoàn toàn đúng đắn, tránh đẩy mâu thuẫn, tranh chấp đếnmức xử sự thiếu văn minh, thậm chí tiếp tục làm phương hại tới nhau [10,16] Vì vậy, việc khởi kiện với nghĩa là hoạt động của chủ thể có quyền triểnkhai thực hiện quyền khởi kiện theo một trình tự, thủ tục luật định để bảo vệquyền hay lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác khi các quyền haylợi ích này bị xâm phạm được coi là một hoạt động mang tính chất văn minh

3 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂNSỰ

1 Điều kiện khởi kiện

Pháp luật Việt Nam luôn tạo mọi điều kiện, cơ hội cho các chủ thể cóthể thực hiện được quyền khởi kiện của mình để yêu cầu Tòa án bảo vệ khiquyền và lợi ích bị xâm phạm hay khi có tranh chấp xảy ra Tuy nhiên đểtránh việc các chủ thể lạm dụng quyền của mình mà làm phương hại đến cácchủ thể khác thì pháp luật cũng quy định các điều kiện khởi kiện VADS Căn

cứ vào các quy định của BLTTDS năm 2015 xác định việc khởi kiện VADScần phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện cơ bản sau:

Điều kiện về chủ thể khởi kiện:

Chủ thể khởi kiện phải là chủ thể có tư cách về mặt pháp lý và theo quyđịnh của pháp luật có quyền khởi kiện VADS

Theo quy định tại Điều 186 BLTTDS 2015 “Cơ quan, tổ chức, cá nhân

có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” Như vậy, đối với cá nhân, cơ

Trang 12

quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thì cần đáp ứngcác điều kiện về chủ thể có quyền khởi kiện sau:

Thứ nhất, về năng lực hành vi tố tụng dân sự

Đối với cá nhân khởi kiện hay cá nhân đại diện cơ quan, tổ chức khởikiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì cá nhân đó phải cónăng lực hành vi TTDS Theo quy định tại khoản 2 Điều 69 BLTTDS năm

2015 thì “Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện

quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự” Bên cạnh đó tại các khoản 3,4,5 và 6 Điều này cũng đã làm rõ

các trường hợp khác khi cá nhân không đáp ứng được điều kiện quy định tạikhoản 2 nhưng vẫn có quyền khởi kiện trong trường hợp pháp luật quy định.Thông thường đương sự của một VADS sẽ là cá nhân từ đủ mười tám tuổi trởlên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự Ngoài ra, các cá nhân có quyềnkhởi kiện mà không có năng lực hành vi tố tụng dân sự thì việc thực hiệnquyền khởi kiện sẽ do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện; Đối với cánhân là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi không mấtnăng lực hành vi dân sự, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự đã thamgia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêngcủa mình thì có thể tự mình tham gia tố tụng vào các quan hệ dân sự có liênquan đó Còn đối với những việc khác thì việc thực hiện tố tụng sẽ thông quangười đại diện hợp pháp; Đối với người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lămtuổi thì việc thực hiện TTDS do người đại diện hợp pháp thực hiện và nhómngười bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức,làm chủ hành vi thì việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng, việc bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của họ được xác định theo quyết định của Tòa án

Thứ hai, các chủ thể này phải có quyền khởi kiện

Nghĩa là những chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS phải cóquyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, có tranh chấp xảy ra hoặc khởi kiện đểbảo vệ quyền, lợi ích của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước

Việc quy định điều kiện để chủ thể tham gia có quyền khởi kiện nhưvậy là hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc tự định đoạt và tôn trọng quyềnquyết định của đương sự [3] Tránh việc thực hiện quyền khởi kiện một cáchbừa bãi, làm mất thời gian của các bên tham gia tố tụng cũng như bên tiếnhành tố tụng trong khi cá nhân đó không có quyền, lợi ích bị xâm phạm ViệcBLTTDS năm 2015 quy định cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ

án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

Trang 13

của người khác nhưng cần phải lưu ý rằng không phải bất kì chủ thể nào cũng

có quyền này Quyền khởi kiện, yêu cầu giải quyết việc dân sự trong trườnghợp này được xác định căn cứ vào quy định tại Điều 187 BLTTDS năm 2015

Trong đó:

Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ

em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn củamình có quyền khởi kiện, yêu cầu về huỷ việc kết hôn trái pháp luật, yêu cầuthay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, yêu cầu hạn chế quyền củacha, mẹ đối với con chưa thành niên, tranh chấp xác định cha, mẹ, con, tranhchấp về nghĩa vụ cấp dưỡng [6]

Cơ quan lao động, thương binh và xã hội, hội liên hiệp phụ nữ có quyềnyêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi theo Điều 26 Luật Nuôi con nuôi

Tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền khởi kiện vụ án lao độngtrong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người laođộng [2]

Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đạidiện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Đối với chủ thể là cá nhân thì có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân giađình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định củaLuật hôn nhân và gia đình Theo đó thì chỉ có một nhóm chủ thể được quyđịnh bởi Luật này mới có quyền khởi kiện

Những cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vì lợi ích công cộng, lợi íchNhà nước phải được Nhà nước trao quyền quản lý trong phạm vi lĩnh vựcnhất định

Điều kiện về thẩm quyền:

Các chủ thể khi thực hiện hành vi khởi kiện của mình thì cần phải xácđịnh đúng Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc của mình theo quy địnhcủa pháp luật Việc xác định đúng thẩm quyền của Tòa án sẽ tránh được sựchồng chéo trong việc thực hiện nhiệm vụ của Tòa án [12, 59-60] Theo đócác chủ thể khởi kiện phải khởi kiện đúng theo quy định của pháp luật vềthẩm quyền của Tòa án:

Thứ nhất, thẩm quyền theo vụ việc: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp

theo loại việc là tổng hợp các loại vụ việc về dân sự mà Tòa án có thẩmquyền thụ lý và giải quyết theo thủ tục TTDS Thẩm quyền về loại việc của

Trang 14

Tòa án sẽ phân định với những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyếtcủa cơ quan khác Theo đó thì sẽ có những tranh chấp về dân sự, hôn nhân vàgia đình, kinh doanh thương mại và tranh chấp về lao động sẽ thuộc thẩmquyền giải quyết của Tòa án Chủ thể có quyền phải khởi kiện vụ án thuộcphạm vi thẩm quyền của Tòa án quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32BLTTDS năm 2015

Thứ hai, thẩm quyền theo cấp Tòa án: Việc xác định đúng thẩm quyền

của Tòa án theo cấp chính là việc xác định xem đối với một VADS cụ thểTAND cấp huyện hay TAND cấp tỉnh sẽ có thẩm quyền giải quyết Việc khởikiện phải đúng với cấp Tòa án tương ứng xử lý vụ án đó theo quy định tại cácĐiều 35, 36, 37 và 38 BLTTDS năm 2015 Trong đó, thẩm quyền của Tòa áncấp huyện hiện nay được quy định: Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và giađình quy định tại Điều 26 và điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy địnhtại khoản 7 Điều 26 Bộ luật này; Tranh chấp về kinh doanh thương mại quyđịnh tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật này; Tranh chấp về lao động quy định tạiĐiều 32 Bộ luật này; Những tranh chấp trên mà có đương sự hoặc tài sản ởnước ngoài hoặc cần ủy tác tư pháp cho cơ quan đại diện của Việt Nam ởnước ngoài, cho Tòa án nước ngoài không thuộc thẩm quyền của Tòa án cấphuyện Tuy nhiên, theo khoản 4 Điều 35 “Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cưtrú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc lyhôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con,…”trường hợp này xuất hiện yếu tố nước ngoài nhưng vẫn thuộc thẩm quyền củaTòa án cấp huyện Về thẩm quyền của TAND cấp tỉnh được quy định tạiĐiều 37 BLTTDS, theo đó TAND cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết cáctranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao độngquy định tại khoản 3 Điều 35 và các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này,trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện vừađược nêu trên

Có thể nhận thấy thẩm quyền của Tòa án cấp huyện và cấp tỉnh đượcphân định rõ ràng, tránh tình trạng vượt cấp hay thụ lý nhầm Các chủ thể khikhởi kiện cần nắm rõ những quy định này để xác định tranh chấp của mình làtranh chấp gì, thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp nào như vậy mới có thể gửiđơn khởi kiện đến đúng Tòa án đúng cấp có thẩm quyền giải quyết, từ đógiúp tiết kiệm thời gian, công sức trong việc đi kiện

Thứ ba, thẩm quyền theo lãnh thổ và sự lựa chọn: Về nguyên tắc việcphân định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ phải được tiến hành dựa trên

cơ sở bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án được nhanh chóng,

Trang 15

đúng đắn, bảo đảm việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợppháp của các đương sự nhưng vẫn đảm bảo Tòa án có thẩm quyền giải quyết

là Tòa án thuận lợi nhất cho việc tham gia tố tụng của đương sự, có điều kiệnthuận lợi nhất để giải quyết vụ án Vụ việc được khởi kiện phải đúng thẩmquyền của Tòa án theo lãnh thổ quy định tại Điều 39, 40 BLTTDS năm 2015.Theo đó thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ được quy định như sau: Tòa ánnơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc nơi bị đơn có trụ sở có thẩm quyền giảiquyết các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thươngmại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 Bộ luật này Trongtrường hợp này các đương sự cũng có quyền thỏa thuận với nhau về việc yêucầu Tòa án nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn hoặc bịđơn giải quyết nhưng thỏa thuận phải được lập thành văn bản Theo đó nếu bịđơn đồng ý với nguyên đơn về việc giải quyết vụ án tại Tòa án nguyên đơn

cư trú làm việc thì Tòa án đó không được từ chối thụ lý Còn đối với tranhchấp là bất động sản thì chỉ có Tòa án nơi có bất động sản mới có thẩmquyền giải quyết Trong một số trường hợp nguyên đơn cũng có quyền lựachọn Tòa án để giải quyết cho tranh chấp của mình và thẩm quyền của Tòa

án theo sự lựa chọn của nguyên đơn được quy định tại khoản 1 Điều 40BLTTDS:

Trường hợp 1: Không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì có

quyền yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặcnơi bị đơn có tài sản giải quyết

Trường hợp 2: Tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức

thì có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánhgiải quyết

Trường hợp 3: Bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam

hoặc vụ án tranh chấp việc cấp dưỡng thì có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cưtrú, làm việc, có trụ sở giải quyết

Trường hợp 4: Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có thể

yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây

ra thiệt hại giải quyết

Trường hợp 5: Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt

hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp,quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu thập và các điều kiệnlao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn là người lao động cóquyền yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết

Trang 16

Trường hợp 6: Tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng lao động của người

cai thầu hoặc người có vai trò trung gian thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa

án nơi người sử dụng lao động là chủ chính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặcnơi người cai thầu, người có vai trò trung gian cư trú, làm việc giải quyết

Trường hợp 7: Tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng có thể yêu

cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết

Trường hợp 8: Các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác

nhau thì có thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, cótrụ sở giải quyết

Trường hợp 9: Tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa

phương khác nhau thì có thể yêu cầu Tòa án nơi có một trong các bất độngsản giải quyết

Như vậy, quyền tự định đoạt của các đương sự đã được pháp luật đềcao, tôn trọng Ngoài ra quy định cũng hoàn toàn phù hợp với thực tiễn, tạođiều kiện thuận lợi, linh hoạt cho chủ thể khởi kiện thực hiện việc lựa chọnTòa án có thẩm quyền giải quyết cho mình, trao cho họ sự chủ động trongviệc lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp trong một số trường hợp nhấtđịnh Việc lựa chọn Tòa án phải song hành với việc bảo đảm thực hiện cácquy định về thẩm quyền của Tòa án theo pháp luật TTDS

Việc pháp luật phân định thẩm quyền giữa các Tòa án góp phần giúpcho các Tòa án thực hiện đúng được nhiệm vụ của mình Việc gửi đơn khởikiện đến đúng Tòa án có thẩm quyền giải quyết là một yếu tố rất quan trọng

để xem xét việc thụ lý vụ án Nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của cơquan, tổ chức khác thì Tòa án sẽ tiến hành trả lại đơn khởi kiện, nếu gửi đơnkhởi kiện đến sai Tòa án có thẩm quyền xét xử theo cấp hay theo lãnh thổ thì

sẽ phải chuyển đơn khởi kiện sang đúng Tòa án có thẩm quyền Do đó, đểtránh mất thời gian, công sức người khởi kiện phải hết sức chú ý đến vấn đềnày để đảm bảo đơn khởi kiện của mình có thể được thụ lý nhanh chóng

Điều kiện sự việc chưa được giải quyết bằng một văn bản hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc của cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền:

Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực phápluật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩmquyền thì Thẩm phán sẽ trả lại đơn khởi kiện, trừ trường hợp vụ án mà Tòa

án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp

Trang 17

dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thayđổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòitài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, chomượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định củapháp luật được quyền khởi kiện lại.

Về nguyên tắc, một sự việc đã được Tòa án giải quyết bằng một bản ánhay quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương sự không được khởi kiệnlại Việc quy định này nhằm đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định đã cóhiệu lực pháp luật cũng phù hợp với nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án,quyết định của Tòa án [3] và tránh được tình trạng một vụ án mà chồng chéonhiều cơ quan giải quyết trừ các trường hợp đã nêu trên và tại khoản 3 Điều

192 BLTTDS năm 2015 về các trường hợp được quyền khởi kiện lại, gồm:

- Người khởi kiện đã có đủ năng lực hành vi TTDS

- Yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồithường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người giám hộ hoặc người quản lý tài sản,thay đổi người quản lý di sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ màtrước đó Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu mà theo quy định của pháp luật đượcquyền khởi kiện lại

- Đã có đủ điều kiện để khởi kiện

- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật

Trong đó:

- Người có đủ năng lực hành vi TTDS là người có khả năng tự mình thực hiệnquyền, nghĩa vụ TTDS hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụngtrong trường hợp pháp luật quy định

- Đã có đủ điều kiện khởi kiện: là trường hợp ban đầu cá nhân, cơ quan, tổ chức

đó chưa có đủ điều kiện khởi kiện nên bị Tòa án trả đơn khởi kiện Quy định

về chưa có đủ điều kiện khởi kiện được ghi nhận tại điểm b khoản 1 Điều 192BLTTDS năm 2015 và khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP của

TANDTC cho biết “Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật

có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó”.

Ví dụ 1: Công ty A là người sử dụng lao động ký hợp đồng với ông B,trong hợp đồng ghi rõ ông B sẽ được Công ty cho đi học nghề 01 năm, đồngthời ông B có nghĩa vụ làm việc tại Công ty ít nhất là 06 năm kể từ thời điểmhọc xong Tuy nhiên, sau khi học xong ông B chỉ làm việc ở Công ty A 02năm Công ty A khởi kiện ông B ra Tòa án buộc ông B hoàn trả chi phí đàotạo học nghề khi chưa tiến hành thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động

Trang 18

Trường hợp này, theo quy định tại Điều 188 Bộ luật lao động năm

2019, khoản 1 Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Công ty A chưa

đủ điều kiện khởi kiện vụ án

Ví dụ 2: Công ty A và Công ty B ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa,trong đó thỏa thuận việc giải quyết tranh chấp hợp đồng bằng Trọng tài Khiphát sinh tranh chấp hợp đồng, Công ty A khởi kiện Công ty B tại Tòa ántrước khi yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp Tòa án xét thấy thỏa thuậntrọng tài giữa các bên là hợp pháp theo đúng quy định của Luật Trọng tàithương mại thì Tòa án căn cứ vào quy định tại điểm d khoản 1 Điều 168 củaBLTTDS để trả lại đơn khởi kiện và hướng dẫn họ tiến hành thủ tục giảiquyết tranh chấp tại Trọng tài

Ngoài ra, đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưađược hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấptheo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa

có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tốtụng dân sự năm 2015

- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật là những trường hợp trongBLTTDS năm 2015 chưa có quy định nhưng đã được quy định trong cụ thểtrong Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP của HĐTPTANDTC, các văn bản quyphạm pháp luật khác hoặc trong các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên [9]

Theo đó thì các trường hợp pháp luật khác là các trường hợp:

- Đối với những vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản mà trước ngày 01-2017, Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện hoặc ra quyết định đình chỉ giảiquyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện vì lý do "thời hiệu khởi kiện đã hết"nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 623, điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luậtdân sự năm 2015 thời hiệu khởi kiện vụ án đó vẫn còn, thì người khởi kiện cóquyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688

01-Bộ luật dân sự năm 2015 và điểm d khoản 3 Điều 192 BLTTDS năm 2015

- Đối với những vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản mà trước ngày 01-2017 đã được Tòa án giải quyết bằng bản án, quyết định (trừ quyết địnhđình chỉ giải quyết vụ án dân sự vì thời hiệu khởi kiện đã hết) đã có hiệu lựcpháp luật thì theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015,người khởi kiện không có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án đó

01 Đối với những vụ án dân sự chia tài sản chung là di sản thừa kế đã hết thờihạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà trước ngày 01-01-2017 Tòa án đã

ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện vì chưa đủ

Trang 19

điều kiện khởi kiện chia tài sản chung, nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều

623, điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015 thời hiệu khởi kiện

vụ án chia thừa kế đối với di sản thừa kế đó vẫn còn thì người khởi kiện cóquyền nộp đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế theo quy định tại điểm dkhoản 1 Điều 688 và điểm d khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm

2015 và Tòa án xem xét thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung

- Đối với những vụ án dân sự chia tài sản chung là di sản thừa kế đã hết thờihạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà trước ngày 01-01-2017 đã đượcTòa án giải quyết bằng bản án, quyết định (trừ quyết định đình chỉ giải quyết

vụ án dân sự vì thời hiệu khởi kiện đã hết) đã có hiệu lực pháp luật thì theoquy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015, người khởi kiệnkhông có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án đó

- Trường hợp vụ án bị đình chỉ giải quyết theo hướng dẫn tại điểm c khoản 2Điều này thì theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 192 BLTTDS năm 2015,người khởi kiện có quyền khởi kiện lại vụ án đó khi cung cấp được đầy đủ vàđúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Việc pháp luật quy định những trường hợp ngoại lệ bên cạnh nguyêntắc “Bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án” nhằm mục đích bảo

vệ tối đa quyền khởi kiện của người khởi kiện trong trường hợp vụ việc đãđược giải quyết bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa

án Bên cạnh đó cũng đảm bảo được tính hiệu lực pháp luật và trách nhiệmthực thi bản án, quyết định của Tòa án trên thực tế của các cá nhân, cơ quan,

tổ chức có liên quan trong vụ án cũng như là cơ quan tiến hành tố tụng

Quy định về tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện

Khi xảy ra tranh chấp hoặc có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm cánhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết thôngqua việc nộp đơn khởi kiện Tuy nhiên, kèm theo đơn khởi kiện cần phải cótài liệu, chứng cứ để chứng minh cho các yêu cầu đó là có cơ sở, căn cứ hợppháp để Tòa án có thể giải quyết được Bởi lẽ vì lý do Tòa án chỉ giải quyếtVADS khi có yêu cầu và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện Theo

quy định tại khoản 5 Điều 189 BLTTDS năm 2015 quy định: “Kèm theo đơn

khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ, chứng minh quyền lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải

Trang 20

quyết vụ án” Theo đó thì người nộp đơn khởi kiện phải kèm theo tài liệu,

chứng cứ trong trường hợp vì lý do khách quan không thể nộp đủ tài liệu,chứng cứ ngay lúc nộp đơn thì họ có thể nộp tài liệu, chứng cứ hiện có và tiếnhành tự bổ sung hoặc bổ sung theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giảiquyết vụ án Đối với quy định việc các chủ thể nộp đơn phải kèm theo đơnkhởi kiện tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích của mình bị xâm phạm

có nhiều ý kiến cho rằng quy định như vậy là không phù hợp, là một rào cảnlớn cho người dân tiếp cận với công lý Tuy nhiên theo quan điểm của tác giảthì việc pháp luật quy định nghĩa vụ nộp chứng cứ, tài liệu kèm theo đơn khởikiện là hoàn toàn hợp lý, phù hợp với tinh thần Tòa án chỉ xem xét, giải quyết

vụ việc trong phạm vi yêu cầu của các chủ thể nộp đơn Do đó mà việc chủthể nộp đơn khởi kiện phải cung cấp tài liệu, chứng cứ là hết sức hợp lý vàcần thiết, bởi các bên chủ thể là người rõ nhất vấn đề khởi kiện của bản thâncũng như các tài liệu chứng minh có liên quan đến vụ việc, góp phần tiết kiệmthời gian, công sức, giảm tải khối lượng công việc của Tòa án từ đó đẩynhanh tiến trình giải quyết vụ việc có hiệu quả hơn Trừ một số trường hợpsau đây:

- Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cánhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa,dịch vụ bị kiện có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hạitheo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

- Đương sự là người lao động trong vụ án lao động mà không cung cấp, giaonộp được cho Tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang dongười sử dụng lao động quản lý, lưu giữ thì người sử dụng lao động có tráchnhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án Người lao độngkhởi kiện vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợpngười sử dụng lao động không được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồnglao động hoặc không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động theoquy định của pháp luật về lao động thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người

sử dụng lao động;

- Các trường hợp pháp luật có quy định khác về nghĩa vụ chứng minh.Quy định này nhằm bảo đảm tối đa việc thực hiện quyền khởi kiện củacác chủ thể trong thực tế, tránh việc gây khó khăn, phiền hà quá mức chongười khởi kiện cũng như sự tùy tiện trong việc trả lại đơn khởi kiện của Tòaán

Tùy theo từng loại vụ việc cụ thể, người khởi kiện phải kèm theo đơnkhởi kiện các chứng cứ, tài liệu cần thiết sau:

Trang 21

-Thứ nhất, đối với tranh chấp về lao động, cần gửi kèm theo đơn khởi kiện bản

hợp đồng do các bên kí kết hoặc giấy tờ xác nhận các bên đã giao kết hợpđồng; các chứng cứ, tài liệu phản ánh quá trình thực hiện hợp đồng của cácbên; các chứng cứ, tài liệu có liên quan khác

-Thứ hai, đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình, kèm theo đơn khởi

kiện là giấy chứng nhận đăng kí kết hôn; giấy khai sinh của các con; giấy

tờ chứng nhận sở hữu tài sản chung của vợ chồng hoặc của sở hữu riêngcủa từng người; các chứng cứ tài liệu khác có liên quan

-Thứ ba, đối với tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, kèm theo là

các chứng cứ, tài liệu xác định có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại,lỗi của người bị hại; bản kê những thiệt hại thực tế xảy ra kèm theo các hóađơn, chứng từ chi sửa chữa, khắc phục thiệt hại; các giấy tờ tài liệu khác

-Thứ tư, đối với tranh chấp về thừa kế gửi kèm theo đơn khởi kiện gồm: di

chúc nếu có; giấy chứng từ của người để lại di sản; bản kê khai các di sản

và các giấy tờ sở hữu của người để lại di sản; giấy khai sinh, giấy chứngnhận kết hôn, hộ khẩu, giấy giao nhận nuôi con nuôi để xác định diện vàhàng thừa kế

Điều kiện về thời hiệu khởi kiện

Thời hiệu khởi kiện không được quy định trực tiếp trong BLTTDS 2015

mà thời hiệu khởi kiện sẽ được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự

Theo quy định tại khoản 3 Điều 150 Bộ luật dân sự năm 2015: “Thời hiệu

khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện” Tuy nhiên, Tòa án chỉ áp dụng quy

định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bênvới điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm rabản án, quyết định giải quyết vụ việc Theo đó thì Tòa án sẽ không được mặcnhiên áp dụng thời hiệu để làm căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án BLTTDSnăm 2015 đã tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự trong việc cho phépmột hoặc các bên được quyền yêu cầu áp dụng thời hiệu và loại bỏ quy địnhviệc Tòa án tự mình lấy căn cứ thời hiệu khởi kiện đã hết để đình chỉ giảiquyết VADS Quy định này đã giúp các chủ thể khôi phục lại quyền và lợi ích

đã bị xâm phạm dù thời hiệu khởi kiện đã hết góp phần đảm bảo quyền khởikiện trên thực tế

Theo quy định tại Điều 155 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì thời hiệu khởikiện không áp dụng trong trường hợp sau đây:

- Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản

Trang 22

- Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liênquan quy định khác.

- Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai

- Trường hợp khác do luật quy định

Thời hiệu khởi kiện đối với các VADS thông thường được tính từ ngàyngười có yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâmphạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Tuy nhiên, trong một sốtrường hợp cụ thể thời hiệu khởi kiện có thể được tính bắt đầu từ các mốc sựkiện pháp lý khác nhau

Thời hiệu khởi kiện đối với một số tranh chấp dân sự cụ thể:

Về thời hiệu thừa kế : Theo quy định tại Điều 623 của Bộ luật dân sự

- Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết

để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế

Như vậy, mốc thời gian để tính thời hiệu thừa kế là thời điểm mở thừa

kế Theo quy định tại khoản 1 Điều 611 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì thờiđiểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trường hợp Tòa án tuyên

bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tạikhoản 2 Điều 71 của Bộ luật dân sự năm 2015

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

Theo quy định tại Điều 588 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì thời hiệukhởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyềnyêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm

Đây là điểm mới so với quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 Theoquy định tại Điều 607 của Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời hiệu khởi kiệnyêu cầu bồi thường thiệt hại là 02 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp phápcủa cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm hại

Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu

Theo quy định tại khoản 1 Điều 132 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì

“Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu tại các điều

125, 126, 127, 128 và 129 của Bộ luật này là 02 năm, kể từ ngày:

Trang 23

a) Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;

b) Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập

do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;

c) Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép; d) Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch;

đ) Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức.”

Đối với giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạođức xã hội; giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo thì thời hiệu yêu cầu Tòa ántuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng

Theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì thời hiệukhởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp phápcủa mình bị xâm phạm

Đây là điểm mới so với quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 Theoquy định tại Điều 427 của Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện đểyêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 02 năm, kể từ ngày quyền

và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm hại

Điều kiện tiền tố tụng

Không phải trong mọi trường hợp khi người có yêu cầu nộp đơn khởikiện cũng sẽ được Tòa án chấp nhận, thụ lý Ngoài các điều kiện chung mà vụkiện nào cũng phải có thì đối với một số vụ án cần phải đáp ứng được nhữngđiều kiện riêng của vụ án Khi đáp ứng hết các điều kiện đó thì đơn khởi kiệnmới được xem là hợp lệ Tùy vào từng loại tranh chấp mà pháp luật yêu cầuthủ tục tiền tố tụng tương ứng khác nhau

Ví dụ: Với một số tranh chấp về đất đai, tranh chấp lao động tập thể vềquyền giữa người lao động và người sử dụng lao động cần phải thông qua thủtục hòa giải cơ sở trước khi khởi kiện vụ án tại Tòa án Sau khi hòa giải cơ sở

Trang 24

mà các bên tranh chấp vẫn không đồng ý với kết quả hòa giải hoặc vụ việckhông được giải quyết trong thời gian pháp luật quy định thì khi đó các bêntranh chấp mới được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2 Phạm vi khởi kiện

Phạm vi khởi kiện VADS là giới hạn những vấn đề khởi kiện trong mộtVADS mà các chủ thể có thể yêu cầu Tòa án giải quyết Phạm vi khởi kiệnVADS được quy định tại Điều 188 BLTTDS năm 2015, so với quy định vềphạm vi khởi kiện của BLTTDS sửa đổi năm 2011 về cơ bản được giữnguyên

Theo đó, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể khởi kiện một hoặc nhiều cơquan, tổ chức, cá nhân khác và ngược lại nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân cóthể khởi kiện một cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc là cá nhân, cơ quan, tổ chứcquy định tại Điều 187 Bộ luật này có thể khởi kiện một hoặc nhiều cơ quan, tổchức, cá nhân khác Tuy nhiên phải là về cùng một quan hệ pháp luật hoặcnhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một

vụ án Những quan hệ pháp luật được coi là có liên quan với nhau để giảiquyết trong cùng một vụ án khi thuộc một trong các trường hợp sau: Việc giảiquyết quan hệ pháp luật này đòi hỏi phải giải quyết đồng thời quan hệ phápluật khác; Việc giải quyết quan hệ pháp luật có cùng đương sự và cùng loạitranh chấp quy định trong cùng một điều luật tương ứng tại một trong cácĐiều 26, 28, 30, 32 của BLTTDS năm 2015 [10, 51-52]

Nhìn chung thì phạm vi khởi kiện trong VADS sẽ do đương sự toànquyền quyết định, Tòa án có trách nhiệm xem xét, giải quyết đơn khởi kiệntrong phạm vi yêu cầu của đương sự Bên cạnh đó, đương sự được tự quyếtđịnh mình sẽ khởi kiện ai, khởi kiện một người hay nhiều người, khởi kiệnmột quan hệ pháp luật hay nhiều quan hệ pháp luật trong vụ án đó Việc cóxem xét, giải quyết nhiều yêu cầu của đương sự trong cùng một vụ án haykhông là do Tòa án quyết định

3 Hình thức, nội dung đơn khởi kiện và phương thức khởi kiện

Hình thức, nội dung đơn khởi kiện

Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi kiện gửi đếnTòa án có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết Hình thức của đơn khởi kiệnphải rõ ràng, đầy đủ Còn nội dung thì phải tuân theo quy định tại khoản 4Điều 189 BLTTDS năm 2015, cụ thể phải bao gồm những nội dung sau:

- Ngày tháng năm làm đơn khởi kiện

Ngày đăng: 26/05/2022, 18:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w