Mặc dù vẫn tiếp tục quy định: “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự… nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật” Đi
Trang 1TS TrÇn V¨n Trung * nước ta, bộ máy nhà nước được
tổ chức và hoạt động theo nguyên
tắc quyền lực nhà nước là thống nhất,
tập trung vào Quốc hội, có sự phân
công, phân nhiệm giữa Quốc hội, Chính
phủ, toà án và viện kiểm sát, để mỗi cơ
quan thi hành có hiệu lực chức năng,
nhiệm vụ của mình, với sự phối hợp và
hiệp đồng chặt chẽ, tạo nên sức mạnh
tổng hợp của quyền lực nhà nước Theo
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi), viện
kiểm sát nhân dân là một hệ thống cơ
quan có vị trí độc lập trong bộ máy nhà
nước, được tổ chức thành một hệ thống
từ trung ương xuống địa phương (cấp
huyện), có chức năng thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư
pháp Theo Điều 20 Luật tổ chức viện
kiểm sát nhân dân năm 2002, viện kiểm
sát nhân dân là cơ quan kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tố
tụng dân sự. So với viện công tố các
nước, nhiệm vụ và quyền hạn của viện
kiểm sát trong tố tụng dân sự ở Việt
Nam được quy định rộng hơn nhiều
Ngoài quyền tham gia tố tụng như viện
công tố các nước, viện kiểm sát còn
được trao thêm thẩm quyền đặc thù của
một cơ quan thực hiện chức năng kiểm
sát việc tuân theo pháp luật mà viện
công tố một số nước không có, chẳng
hạn như quyền kiểm sát việc tuân theo
pháp luật của toà án nhân dân và những người tham gia tố tụng, quyền kháng nghị tất cả các bản án, quyết định dân sự của toà án theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm nếu phát hiện có
vi phạm pháp luật
1 Ở nước ta, vấn đề viện kiểm sát tham gia phiên toà dân sự được quy định khá sớm Ngay sau khi đất nước giành độc lập, Sắc lệnh số 13 ngày 24 tháng 1 năm 1946 về tổ chức các toà án và các
ngạch thẩm phán quy định: “Mỗi tuần lễ
ít ra cũng phải có hai phiên toà công khai: một phiên hộ và một phiên hình Tại phiên toà, chánh án ngồi xử, biện lý ngồi ghế công tố viên” Sau đó ít lâu, Hồ
Chủ tịch đã ký Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 ấn định thẩm quyền các toà án
và sự phân công giữa các nhân viên trong toà án Trong Sắc lệnh này, vị trí chức năng và nhiệm vụ của viện công tố
được quy định khá rõ ràng: “Ông biện lý
bó buộc phải có mặt tại phiên toà hình
và hộ Khi ra toà, ông biện lý cũng như bên bị cùng bên dân sự nguyên cáo có quyền yêu cầu toà thi hành mọi phương sách cần thiết để chứng tỏ sự thật”
(Điều 26); “về mặt hộ, ông biện lý có
nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của các vị thành niên, của các người bị cấm quyền
Ở
* Phó Viện trưởng Viện khoa học kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 2cùng các pháp nhân hành chính Ông
biện lý có nhiệm vụ phải can thiệp vào
những việc quan hệ đến thân phận và
căn cước cùng những việc mà pháp luật
bắt buộc phải có ý kiến công tố viên”
(Điều 30); “ông chưởng lý và các thẩm
phán trong công tố viện có quyền phát
ngôn ở những phiên toà hộ và hình toà
thượng thẩm” (Điều 38); “về bên hộ,
dưới quyền điều khiển của ông chưởng
lý, các thẩm phán trong công tố viện
có quyền đứng làm chánh tố trong
những trường hợp do luật lệ định trước
(Điều 41)
Công văn số 1137/HCTP ngày 5/6/1958
của Bộ tư pháp về việc đơn giản một số thủ
tục ở phiên toà quy định rõ hơn về
quyền khởi tố và tham gia tố tụng của
Công tố viện như sau: “Về việc dân sự,
công tố viện có nhiệm vụ khởi tố và tham
gia tố tụng đối với những vụ án dân sự
quan trọng có liên quan đến lợi ích của
Nhà nước và của nhân dân Còn đối với
những vụ án dân sự thường thì công tố
viện không cần phải tham dự phiên toà,
công tố viện và toà án thể theo tinh thần
nói trên mà trao đổi với nhau và quy
cần có mặt công tố viện tại phiên toà”
Sau đó, các văn bản pháp luật về vấn
đề này (có thể kể đến như: Luật tổ chức
viện kiểm sát nhân dân năm 1960, Luật
tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm
1981, Luật tổ chức viện kiểm sát nhân
dân năm 1992, Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp
lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
năm 1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 tiếp tục khẳng định nguyên tắc tham gia phiên toà dân sự của viện kiểm sát đồng thời quy định cụ thể hơn, rõ ràng hơn về nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát khi tham gia phiên toà dân sự Theo các quy định của này, việc tham gia tố tụng của viện kiểm sát nhân dân tại các phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hay tái thẩm được thực hiện dưới hai hình thức bắt buộc và không bắt buộc Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm tham gia phiên toà xét xử những vụ án
mà viện kiểm sát nhân dân đã khởi tố hoặc kháng nghị; đối với những vụ án khác, viện kiểm sát nhân dân có thể tham gia tố tụng vào bất cứ giai đoạn nào, nếu thấy cần thiết Nguyên tắc này khá tương đồng với pháp luật các nước trên thế giới
Khác với các quy định này, Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2002
đã có sự thay đổi quan niệm về vai trò của viện kiểm sát nhân dân trong phiên
toà dân sự khi xác định: “Viện kiểm sát
nhân dân có trách nhiệm tham gia tất cả các phiên toà xét xử vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động, ở tất
cả các giai đoạn tố tụng” (khoản 3 Điều
21) Quy định này nhằm tăng cường kiểm sát các hoạt động tư pháp, trong đó
có hoạt động xét xử các vụ án dân sự, kinh tế, lao động Có thể nói, những nội dung mới trong Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2002 về nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát nhân dân
Trang 3trong tố tụng dân sự tạo nên sự thay đổi
trong việc tham gia phiên toà dân sự của
viện kiểm sát nhân dân Tuy nhiên, ngay
từ khi xây dựng và thông qua những quy
định này của Luật tổ chức viện kiểm sát
nhân dân năm 2002 đã có nhiều ý kiến
cho rằng, các quy định này chỉ phù hợp
với các quy định của pháp luật tố tụng
dân sự hiện hành với sự đề cao vai trò
chủ động của toà án trong việc điều tra,
lập hồ sơ vụ án Trong điều kiện đó, đòi
hỏi việc nâng cao trách nhiệm của viện
kiểm sát trong kiểm sát việc thụ lý, lập
hồ sơ, tham gia đầy đủ các phiên toà dân
sự là rất cần thiết Đây cũng là sự khác
biệt giữa vai trò của viện kiểm sát Việt
Nam và viện công tố các nước khác
trong tố tụng dân sự
2 Chỉ sau một thời gian ngắn, Bộ
luật tố tụng dân sự (BLTTDS) lại một
lần nữa thay đổi các quy định về việc
tham gia phiên toà dân sự của viện kiểm
sát nhân dân Mặc dù vẫn tiếp tục quy
định: “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong tố tụng
dân sự… nhằm bảo đảm việc giải quyết
vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật”
(Điều 21) với những nhiệm vụ, quyền
hạn cụ thể như: Kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong việc giải quyết các vụ
việc dân sự của toà án, kiểm sát việc
tuân theo pháp luật của những người
tham gia tố tụng, kiểm sát các bản án,
quyết định của toà án, tham gia phiên
toà xét xử vụ án dân sự trong những
trường hợp pháp luật quy định và phiên
họp giải quyết việc dân sự và phát biểu ý
kiến về việc giải quyết vụ việc dân sự, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của toà án, kiểm sát việc giải quyết kiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự… (các điều 45, 250, 264, 285, 307, 313,
316, 404 ) nhưng dường như tiêu chí tham gia phiên toà dân sự của viện kiểm
sát đã có sự thay đổi, từ “bảo vệ lợi ích
công” như pháp luật của nước ta trước
kia và pháp luật của khá nhiều nước quy
định sang “những vụ việc phức tạp”
Từng quy định cụ thể của Bộ luật tố tụng dân sự về vấn đề này cũng đã có những thay đổi
a Ở trình tự xét xử sơ thẩm
Theo quy định tại khoản 2 Điều 195
và khoản 2 Điều 21 BLTTDS thì “viện
kiểm sát tham gia phiên toà đối với những vụ án dân sự do toà án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại”
Khi nghiên cứu quy định này, chúng tôi nhận thấy một số vấn đề sau:
Thứ nhất, cần phải hiểu như thế nào
là đương sự có khiếu nại về việc thu thập chứng cứ của toà án?
Theo quy định của BLTTDS, đương
sự có yêu cầu toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó
là có căn cứ và hợp pháp (Điều 79) Tuy nhiên, trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và
có yêu cầu thì thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp theo luật định để thu thập chứng cứ (khoản 2 Điều 85) Đồng thời, toà án có thể tự
Trang 4mình thu thập chứng cứ trong một số
trường hợp như: Tiến hành lấy lời khai
của người làm chứng khi xét thấy cần
thiết (khoản 1 Điều 87); tiến hành đối
chất giữa các đương sự với nhau, giữa
đương sự với người làm chứng hoặc giữa
người làm chứng với nhau khi xét thấy
có sự mâu thuẫn trong lời khai của các
đương sự, người làm chứng (khoản 1
Điều 88); hoặc ra quyết định định giá tài
sản đang tranh chấp trong trường hợp
các bên thoả thuận theo mức giá thấp
nhằm mục đích trốn thuế hoặc giảm mức
đóng án phí (điểm b khoản 2 Điều 92)
Khi toà án tiến hành thu thập chứng
cứ trong các trường hợp nêu trên, đương
sự có quyền khiếu nại về việc thu thập
chứng cứ của toà án Tuy nhiên, quyền
khiếu nại về việc thu thập chứng cứ của
toà án cũng còn có nhiều cách hiểu khác
nhau Có ý kiến cho rằng, theo quy định
tại khoản 3 Điều 85 BLTTDS, đương sự
chỉ có quyền khiếu nại quyết định áp
dụng biện pháp thu thập chứng cứ của
toà án mà toà án chỉ phải ra quyết định
khi tiến hành các biện pháp trưng cầu
giám định, quyết định định giá tài sản,
xem xét thẩm định tại chỗ, ủy thác thu
thập chứng cứ, yêu cầu cá nhân, cơ
quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc
được, nghe được, nhìn được hoặc hiện
vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ
việc dân sự Như vậy, trong các trường
hợp toà án lấy lời khai của đương sự,
người làm chứng hoặc tiến hành đối chất
thì toà án không phải ra quyết định và
đương sự không có quyền khiếu nại về
việc thu thập chứng cứ của toà án trong các trường hợp này Mặt khác, đối với các trường hợp toà án ra quyết định áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ thì đương sự cũng chỉ có quyền khiếu nại nội dung của quyết định đó
Chúng tôi cho rằng, nếu hiểu như trên là bó hẹp phạm vi quyền khiếu nại của đương sự Theo quy định của BLTTDS, đương sự không chỉ có quyền khiếu nại đối với quyết định áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ của toà án theo quy định tại khoản 3 Điều 85 của
Bộ luật này mà còn có quyền khiếu nại
cả các hành vi thu thập chứng cứ của toà
án (việc lấy lời khai, đối chất là các hành vi tố tụng) Mặt khác, cần phải hiểu “quyền khiếu nại quyết định áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ của toà án” bao gồm cả khiếu nại về việc ra hoặc không ra quyết định, khiếu nại về nội dung của quyết định và khiếu nại
về kết quả của việc thực hiện quyết định đó
Với cách hiểu như vậy, chúng tôi cho rằng các trường hợp đương sự khiếu nại về việc thu thập chứng cứ của toà án bao gồm:
- Đương sự có yêu cầu toà án thu thập chứng cứ nhưng đương sự khiếu nại
về việc thu thập hoặc không thu thập chứng cứ của toà án;
- Đương sự khiếu nại về việc toà án thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự khác theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 58 BLTTDS;
- Đương sự khiếu nại về việc toà án
Trang 5tự thu thập chứng cứ trong các trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều 87, khoản
1 Điều 88 và điểm b khoản 1 Điều 92
BLTTDS
Các khiếu nại của đương sự trong
các trường hợp trên có thể là khiếu nại
về thủ tục thu thập chứng cứ của toà án
(ví dụ: Thẩm phán không ra quyết định
thu thập chứng cứ trong những trường
hợp pháp luật quy định phải ra quyết
định) hoặc khiếu nại về hành vi thu
thập chứng cứ của toà án (ví dụ: Thẩm
phán không khách quan khi thu thập
chứng cứ)
Thứ hai, khi đương sự có khiếu nại
về việc thu thập chứng cứ của toà án thì
việc tham gia phiên toà dân sự của viện
kiểm sát như thế nào?
Có ý kiến cho rằng, trong bất kỳ
trường hợp nào, cứ có khiếu nại của
đương sự về việc thu thập chứng cứ của
toà án là viện kiểm sát phải tham gia
phiên toà Chúng tôi cho rằng, khiếu nại
của đương sự về việc thu thập chứng cứ
của toà án cũng là một loại khiếu nại về
quyết định, hành vi tố tụng dân sự và
thuộc thẩm quyền giải quyết của chánh
án toà án theo quy định tại Điều 396
BLTTDS, do đó nếu đến thời điểm mở
phiên toà xét xử vụ án dân sự mà khiếu
nại của đương sự đã được giải quyết và
đương sự không có khiếu nại tiếp theo
hoặc đã có quyết định giải quyết khiếu
nại cuối cùng thì viện kiểm sát không
tham gia phiên toà; viện kiểm sát chỉ
tham gia phiên toà khi đương sự có
khiếu nại về việc thu thập chứng cứ của
toà án mà cho đến thời điểm mở phiên toà, khiếu nại của đương sự vẫn chưa được giải quyết hoặc tuy đã được giải quyết nhưng đương sự vẫn tiếp tục khiếu nại Tuy nhiên, viện kiểm sát cũng không thể tham gia phiên toà nếu không còn đủ thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án
và chuẩn bị ý kiến của viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án (theo quy định tại khoản 2 Điều 195, trong trường hợp viện kiểm sát tham gia phiên toà, toà án phải gửi hồ sơ vụ án cho viện kiểm sát nghiên cứu trong thời hạn 15 ngày) Vì vậy, việc tham gia phiên toà của viện kiểm sát cần phân thành những trường hợp như sau:
- Trường hợp đương sự khiếu nại trước khi toà án có quyết định đưa vụ án
ra xét xử thì viện kiểm sát phải tham gia phiên toà Trong trường hợp này, nếu đương sự gửi đơn khiếu nại đến toà án thì toà án phải gửi ngay khiếu nại của đương sự kèm theo hồ sơ vụ án cho viện kiểm sát cùng cấp theo quy định tại khoản 3 Điều 85 BLTTDS Căn cứ vào khiếu nại của đương sự, viện kiểm sát có quyền yêu cầu toà án xác minh, thu thập chứng cứ và xem xét việc tham gia phiên toà Nếu đương sự gửi đơn khiếu nại đến viện kiểm sát thì viện kiểm sát cũng thông báo bằng văn bản cho toà án biết việc khiếu nại của đương sự và yêu cầu toà án chuyển hồ sơ vụ án cho viện kiểm sát nghiên cứu để tham gia phiên toà
- Trường hợp đương sự khiếu nại sau khi toà án có quyết định đưa vụ án ra xét
xử thì viện kiểm sát chỉ tham gia phiên
Trang 6toà sơ thẩm khi còn đủ thời gian để viện
kiểm sát nghiên cứu hồ sơ vụ án theo
quy định tại khoản 2 Điều 195 BLTTDS
Nếu kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại
đến thời điểm mở phiên toà được ghi
trong quyết định đưa vụ án ra xét xử còn
đủ thời hạn 15 ngày để viện kiểm sát
nghiên cứu hồ sơ vụ án thì viện kiểm sát
sẽ tham gia phiên toà, nếu không còn đủ
thời hạn nghiên cứu hồ sơ thì viện kiểm
sát không tham gia phiên toà sơ thẩm
nhưng toà án cũng phải thông báo bằng
văn bản cho viện kiểm sát biết việc
khiếu nại của đương sự để viện kiểm sát
xem xét việc kháng nghị và tham gia
phiên toà phúc thẩm
- Trường hợp tại phiên toà sơ thẩm
đương sự mới khiếu nại về việc thu thập
chứng cứ của toà án mà phiên toà đó lại
không có viện kiểm sát tham gia thì hội
đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử hay phải
hoãn phiên toà để chờ viện kiểm sát
tham gia? Chúng tôi cho rằng, theo quy
định của BLTTDS thì việc khiếu nại của
đương sự tại phiên toà không phải là căn
cứ để hội đồng xét xử hoãn phiên toà, do
đó hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử
nhưng ngay sau khi kết thúc phiên toà,
toà án phải thông báo bằng văn bản cho
viện kiểm sát cùng cấp biết việc khiếu
nại của đương sự để viện kiểm sát xem
xét việc kháng nghị
b Ở trình tự xét xử phúc thẩm
Có sự không rõ ràng và nhất quán
trong BLTTDS về sự tham gia của viện
kiểm sát trong phiên toà phúc thẩm các
vụ án dân sự Theo quy định tại khoản 1
Điều 21 BLTTDS thì viện kiểm sát phải tham gia phiên toà đối với những vụ án dân sự do toà án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại Khiếu nại của đương sự trong trường hợp này là khiếu nại về hoạt động thu thập chứng cứ của toà án trong giai đoạn phúc thẩm mà khiếu nại đó chưa được giải quyết hoặc giải quyết chưa thoả đáng nhưng tại khoản 2 Điều 264 BLTTDS lại quy định:
“Kiểm sát viên viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên toà phúc thẩm trong trường hợp viện kiểm sát kháng nghị hoặc đã tham gia phiên toà sơ thẩm”
Theo quy định này thì việc đương sự khiếu nại về hoạt động thu thập chứng
cứ của toà án không phải là căn cứ bắt buộc viện kiểm sát phải tham gia phiên toà phúc thẩm Vấn đề này còn trở thành phức tạp hơn nữa khi khoản 1 Điều 262
BLTTDS quy định: “Sau khi thụ lý vụ
án để xét xử phúc thẩm, toà án cấp phúc thẩm phải chuyển hồ sơ vụ án cho viện kiểm sát nghiên cứu” Hiểu theo quy
định này thì tất cả hồ sơ vụ án dân sự phúc thẩm đều phải chuyển cho viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu Tuy nhiên, viện kiểm sát có cần thiết phải nghiên cứu tất cả các hồ sơ vụ án dân sự không khi mà chỉ tham gia phiên toà phúc thẩm trong một số trường hợp? Đây là một trong nhiều vấn đề của BLTTDS cần được các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn hoặc giải thích để thống nhất áp dụng Chúng tôi cho rằng,
sẽ là hợp lý hơn khi kết hợp nội dung của cả Điều 21 và Điều 264 BLTTDS để
Trang 7hiểu viện kiểm sát tham gia phiên toà
phúc thẩm trong các trường hợp viện
kiểm sát kháng nghị bản án, quyết định
của toà án cấp sơ thẩm hoặc khi viện
kiểm sát đã tham gia phiên toà sơ thẩm,
hoặc khi ở giai đoạn phúc thẩm đương
sự có khiếu nại về việc thu thập chứng
cứ của toà án
Bộ luật tố tụng dân sự quy định viện
kiểm sát phải tham gia phiên toà phúc
thẩm khi viện kiểm sát kháng nghị bởi vì
đây là trường hợp viện kiểm sát cho rằng
bản án, quyết định của toà án cấp sơ
thẩm có vi phạm pháp luật nên đã kháng
nghị yêu cầu toà án cấp phúc thẩm kiểm
tra lại để khắc phục vi phạm Do đó,
viện kiểm sát phải tham gia phiên toà để
bảo vệ quan điểm kháng nghị của viện
kiểm sát đồng thời để bảo đảm việc giải
quyết vụ án đúng pháp luật
Trường hợp viện kiểm sát tham gia
phiên toà phúc thẩm khi viện kiểm sát đã
tham gia phiên toà sơ thẩm là trường
hợp đương sự đã có khiếu nại về việc
thu thập chứng cứ của toà án cấp sơ
thẩm và viện kiểm sát đã tham gia phiên
toà sơ thẩm nhưng sau khi xét xử sơ
thẩm có đương sự kháng cáo hoặc viện
kiểm sát kháng nghị và vụ án được đưa
ra xét xử phúc thẩm thì viện kiểm sát
phải tham gia phiên toà phúc thẩm
Trong trường hợp ở giai đoạn phúc
thẩm đương sự có khiếu nại về việc thu
thập chứng cứ của toà án cấp sơ thẩm
hoặc của toà án cấp phúc thẩm thì tương
tự như giai đoạn sơ thẩm, việc tham gia
phiên toà của viện kiểm sát được thực
hiện như sau:
- Nếu ở trình tự xét xử sơ thẩm, đương sự đã có khiếu nại về việc thu thập chứng cứ của toà án cấp sơ thẩm nhưng viện kiểm sát chưa tham gia phiên toà sơ thẩm vì không còn đủ thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 195 BLTTDS mà cho đến thời điểm mở phiên toà xét xử phúc thẩm, khiếu nại của đương sự vẫn chưa được giải quyết xong thì viện kiểm sát phải tham gia phiên toà phúc thẩm
- Nếu ở trình tự xét xử sơ thẩm, đương sự không có khiếu nại về việc thu thập chứng cứ của toà án cấp sơ thẩm nhưng sau khi xét xử đương sự kháng cáo bản án, quyết định của toà án mà trong nội dung kháng cáo đương sự đồng thời khiếu nại về việc thu thập chứng cứ của toà án cấp sơ thẩm thì viện kiểm sát phải tham gia phiên toà phúc thẩm Trong trường hợp này, toà án cấp phúc thẩm phải thông báo ngay bằng văn bản việc khiếu nại của đương sự cho viện kiểm sát cùng cấp và ngay sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, toà án phải chuyển hồ sơ vụ án cho viện kiểm sát nghiên cứu để tham gia phiên toà phúc thẩm
- Nếu đương sự khiếu nại về việc thu thập chứng cứ của toà án cấp phúc thẩm
mà việc khiếu nại trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm hoặc khiếu nại sau khi toà án có quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm nhưng vẫn còn đủ thời gian để viện kiểm sát
Trang 8nghiên cứu hồ sơ vụ án theo quy định tại
khoản 2 Điều 262 BLTTDS thì viện
kiểm sát phải tham gia phiên toà phúc
thẩm Nếu tại phiên toà phúc thẩm,
đương sự mới có khiếu nại thì hội đồng
xét xử phúc thẩm vẫn tiếp tục xét xử,
sau khi xét xử, toà án thông báo bằng
văn bản việc khiếu nại của đương sự cho
viện kiểm sát biết để viện kiểm sát xem
xét việc kháng nghị giám đốc thẩm
c Ở trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm
Cũng có sự không thống nhất giữa
quy định của Điều 21 với Điều 292 và
Điều 310 BLTTDS Theo quy định tại
các Điều 21 BLTTDS thì viện kiểm sát
chỉ tham gia phiên toà giám đốc thẩm,
tái thẩm khi viện kiểm sát kháng nghị
nhưng theo quy định tại Điều 292 và
Điều 310 BLTTDS thì viện kiểm sát
phải tham gia tất cả các phiên toà giám
đốc thẩm, tái thẩm, bất kể do viện kiểm
sát hay toà án kháng nghị giám đốc
thẩm, tái thẩm Có lẽ, sẽ là hợp lý hơn
nếu hiểu theo nội dung Điều 292 và Điều
310 BLTTDS vì không nên để toà án
kháng nghị rồi lại xét xử một mình (mặc
dù pháp luật quy định: khi cần thiết, toà
án có thể triệu tập những người tham gia
tố tụng và những người khác có liên
quan đến việc kháng cáo, kháng nghị
tham gia phiên toà giám đốc thẩm, tái
thẩm nhưng trên thực tế hầu như chưa
bao giờ họ được tham gia) Quy định
viện kiểm sát phải tham gia tất cả các
phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm xuất
phát từ nhiệm vụ “kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong việc giải quyết các
vụ án dân sự của toà án” (khoản 1 Điều
45) Hơn nữa, giám đốc thẩm, tái thẩm
là những thủ tục tố tụng đặc biệt, nhằm xem xét lại những bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của toà án, có hiệu lực thi hành, thậm chí có thể đã thi hành xong; bản án, quyết định của hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm có thể được xem như “khuôn mẫu” để giải quyết các
vụ việc tương tự, do đó phải hết sức thận trọng khi ra bản án, quyết định Xuất phát
từ tính chất phức tạp của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đòi hỏi phải có sự tham gia giám sát của viện kiểm sát để bảo đảm việc giải quyết vụ án đúng pháp luật Mặt khác, khác với các trình tự xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm được tiến hành do có kháng nghị của toà án hoặc viện kiểm sát (ở trình tự sơ thẩm là
do có đương sự khởi kiện, trình tự phúc thẩm là do đương sự kháng cáo hoặc viện kiểm sát kháng nghị), hay nói cách khác, người “khởi động” trình tự xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm là các cơ quan công quyền
Do đó, nếu viện kiểm sát kháng nghị thì viện kiểm sát phải tham gia phiên toà để bảo vệ quan điểm kháng nghị và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của toà án Nếu toà án kháng nghị thì viện kiểm sát cũng phải tham gia phiên toà để kiểm sát việc tuân theo pháp luật của toà án, bảo đảm việc giải quyết vụ án được khách quan, đúng pháp luật./