1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo " Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự" doc

6 1,8K 28
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 138,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 3 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 quy định: "Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình; còn tòa án khi cần thiết có thể thu thập

Trang 1

TS Hoµng Ngäc ThØnh * hứng cứ và chứng minh là những vấn đề

rất quan trọng của luật tố tụng dân sự Tuy

vậy, trong pháp luật hiện hành vấn đề này còn

quy định rất đơn giản và còn nhiều bất cập

Nhân dịp ủy ban Thường vụ Quốc hội công bố

Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự để lấy ý kiến

nhân dân, chúng tôi xin trao đổi ý kiến xung

quanh chế định này

1 Những bất cập và vướng mắc về chứng

cứ trong pháp luật hiện hành

Trong ba văn bản pháp luật tố tụng hiện nay

mặc dù được ban hành qua các thời gian khác

nhau nhưng đều không có quy phạm định nghĩa

nào về khái niệm tên gọi của chứng cứ Vì vậy,

đã gây rất nhiều khó khăn cho các cơ quan tiến

hành tố tụng và những người tham gia tố tụng

khi giải quyết các vụ án dân sự nói chung Điều

3 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự

năm 1989 quy định: "Đương sự có nghĩa vụ

cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của

mình; còn tòa án khi cần thiết có thể thu thập

thêm chứng cứ" Khoản 3 Điều 28 quy định:

"Nếu viện kiểm sát khởi tố vụ án thì viện kiểm

sát có trách nhiệm cung cấp chứng cứ" Điều 38

quy định: "Để chuẩn bị cho việc hòa giải, xét

xử, tòa án có thể tiến hành các biện pháp như

lấy lời khai của đương sự, nhân chứng, yêu cầu

cơ quan nhà nước hay tổ chức xã hội cung cấp

bằng chứng hoặc xuống tận nơi tranh chấp để

xem xét tại chỗ hoặc trưng cầu giám định…"

Điều 40 quy định: "Việc xem xét bằng chứng tố

cáo là giả mạo" Tóm lại trong 88 điều của Pháp

lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự có 4

điều đề cập vấn đề chứng cứ nhưng đều không

có quy định nào về tên gọi chứng cứ

Đến năm 1994, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế Trong 90 điều quy định, có 6 điều liên quan đến chứng cứ Điều 3: Nghĩa vụ chứng minh; Điều 4: Xác minh thu thập chứng cứ; Điều 21: Quyền và nghĩa vụ của đương sự; Điều 24: Người giám định, Điều 25: Người làm chứng; Điều 35: Xác minh, thu thập chứng cứ của tòa án Tuy vậy, Pháp lệnh này cũng không có điều nào đặt tên gọi cho những cái gọi là chứng cứ Hai năm sau, năm 1996, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động Trong toàn bộ Phần thứ nhất quy định thủ tục giải quyết các vụ án lao động, trong tổng số 78 điều quy định về loại tố tụng này có 6 điều đề cập vấn đề chứng cứ và chủ thể cung cấp và thu thập chứng cứ như các điều 2, 3, 20 (khoản 2 và khoản 3), 23, 25, 37

Và cũng giống như 2 pháp lệnh trên, cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đều

có nhận thức không giống nhau về vấn đề chứng

cứ chỉ vì Pháp lệnh không có điều nào giải nghĩa

về vấn đề này

Tóm lại, cả ba pháp lệnh tố tụng dân sự, kinh tế, lao động và hôn nhân và gia đình hiện hành đều không có quy phạm định nghĩa nào

để chuẩn hóa khái niệm về chứng cứ Điều đó

đã gây nhiều khó khăn và phức tạp trong nhận thức cũng như trong đánh giá và sử dụng chứng cứ, ảnh hưởng không tốt tới việc giải quyết các vụ án

C

* Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

Các nội dung cơ bản cần phải làm rõ xung

quanh vấn đề chứng cứ như thế nào là chứng cứ,

nguồn chứng cứ, giá trị chứng minh của từng

loại chứng cứ, ai có nghĩa vụ phải cung cấp

chứng cứ và trong trường hợp nào thì cơ quan tố

tụng phải vào cuộc để thu thập tài liệu Thực

tiễn xét xử trong thời gian qua có không ít

trường hợp trong cùng một vụ án, các chủ thể tố

tụng dân sự có nhận thức rất khác nhau về các

vấn đề này Có người đồng nhất giữa chứng cứ

với nguồn chứng cứ, giữa chứng cứ với phương

tiện chứng minh, xác định không đúng nghĩa vụ

của đương sự và trách nhiệm của cơ quan tiến

hành tố tụng Tất cả những vướng mắc này rất

cần được phúc đáp của Bộ luật tố tụng dân sự

Đứng trước các đòi hỏi của thực tiễn xét xử,

Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự đã xây dựng chế

định chứng cứ trong một chương riêng biệt với

20 điều luật thuộc phần những quy định chung -

phần đầu tiên của Bộ luật, với tên gọi là chứng

minh và chứng cứ

2 Vấn đề chứng cứ và chứng minh trong

Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự

a Về khái niệm chứng cứ (Điều 80)

Nghiên cứu khái quát toàn bộ các vấn đề

chứng minh và chứng cứ trong Dự thảo, chúng

tôi thấy Dự luật đã khắc phục về cơ bản các

vướng mắc và bất cập trong pháp luật tố tụng

dân sự hiện hành Tháo gỡ được những trở ngại

trong hoạt động của các cơ quan tiến hành tố

tụng và người tham gia tố tụng trong vấn đề

nhận thức về chứng cứ, xác định đúng nghĩa vụ

và trách nhiệm của các chủ thể pháp luật tố

tụng Trên cơ sở đó giữa các chủ thể có sự

tương đồng trong việc xác định, đánh giá và sử

dụng chứng cứ Với 20 điều luật, Dự thảo đã

thể chế 5 vấn đề lớn:

- Bước đầu đã xây dựng quy phạm định

nghĩa về chứng cứ (Điều 80);

- Thống kê có 8 loại chứng cứ thông dụng trong thực tiễn xét xử (Điều 81 và 82);

- Quy định 6 phương tiện, biện pháp được coi là công cụ để tòa án sử dụng trong việc thu thập, củng cố chứng cứ (Điều 85 đến Điều 97);

- Quy định nghĩa vụ cụ thể của người khởi kiện khi tham gia vào quá trình tố tụng (Điều 78);

- Quy định trách nhiệm của cơ quan tiến hành thụ lí vụ án phải thực hiện trong quá trình

tố tụng như thu thập, bảo toàn và đánh giá sử dụng chứng cứ (Điều 83 đến Điều 97)

Điều 80 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự quy định: Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì

có thật được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự

là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự

Xét về nội hàm thì định nghĩa ở Điều 80

đã phản ánh được ba thuộc tính của chứng

cứ, đó là:

- Tính khách quan: Có nghĩa là chứng cứ phải là tài liệu, đồ vật có thật, nó gắn liền với vụ việc tranh chấp, nó tồn tại độc lập ngoài ý chí của đương sự;

- Tính liên quan: Nghĩa là tài liệu, đồ vật đó phải liên quan tới nội dung vụ án có quan hệ với yêu cầu hay phản yêu cầu của đương sự;

- Tính hợp pháp: Đòi hỏi của thuộc tính này

là các tài liệu đồ vật của vụ kiện phải được thu thập theo trình tự và thủ tục do Bộ luật quy định Nếu thu thập không đúng trình tự thì bị coi là tài liệu ngoài luồng không có giá trị chứng minh Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học thì khái niệm tại Điều 80 cần được xem xét kĩ hơn Căn

Trang 3

cứ vào thực tiễn xét xử và các loại chứng cứ

được quy định trong Điều 81 của Dự thảo, theo

chúng tôi cần sửa đổi hai nội dung trong định

nghĩa về chứng cứ như sau:

- Thay thế cụm từ “những gì có thật” ở

dòng đầu tiên của khái niệm chứng cứ ở Điều 80

bằng cụm từ “những tin tức có thật” Cụm từ đó

sẽ làm cho định nghĩa về chứng cứ cụ thể hơn,

sát với thực tế cuộc sống hơn Nó giúp cho các

chủ thể nhận thức về chứng cứ dễ dàng hơn vì

chứng cứ là những cái có thể xác định được, rất

cụ thể, tồn tại xung quanh ta; nó là cái có thể đọc

được, nghe được, nhìn được, thậm chí chiếm giữ

được trên thực tế Cụm từ “những gì” được

dùng trong Dự thảo, mang tính trừu tượng,

không xác định, không thoát ý

Thiết nghĩ có thể cụm từ mà chúng tôi đề

nghị thay thế cụm từ trong Dự thảo chắc chắn

chưa thể khái quát hết được các loại chứng cứ

vốn phong phú, đa dạng như nó vốn có ở cuộc

sống nhưng nhìn chung cụm từ này đã có tính

khái quát và có mang tính xác định rõ ràng

- Việc dự thảo xác định những gì có thật

được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật

này quy định và chỉ có tòa án dùng làm căn cứ

để xác định tính hợp pháp và có căn cứ của yêu

cầu đương sự là sự bỏ sót chủ thể, vì thế điều

luật chưa bao quát hết được hoạt động của các

chủ thể tố tụng trong việc xác lập chứng cứ

Thực tiễn đã chứng minh rằng trong tố tụng

dân sự phần lớn các chứng cứ của vụ án được

dựng lại trong hồ sơ là do các đương sự chủ

động cung cấp giao nộp cho tòa Trong quá trình

tố tụng, đương sự có thái độ hợp tác tích cực với

tòa, đặc biệt là người khởi kiện muốn công khai

sự thật và mong muốn vụ việc sớm được giải

quyết Hoạt động của đương sự trong tố tụng

dân sự hoàn toàn khác với quy trình thu thập

chứng cứ trong tố tụng hình sự Trong hoạt động phòng chống tội phạm, các cơ quan điều tra, truy tố là chủ thể chủ yếu của hoạt động điều tra, phải chủ động tiến hành các biện pháp tố tụng cần thiết một cách tích cực để truy tìm chứng cứ, bởi vì hầu hết bị can, bị cáo sau khi phạm tội đều tìm mọi cách xóa bỏ dấu vết tội phạm, che giấu hành vi phạm tội của mình nhằm thủ tiêu chứng cứ Theo pháp luật tố tụng hình sự, bị can, bị cáo không có nghĩa vụ phải chứng minh

mà trách nhiệm này thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng

Ngược lại, trong tố tụng dân sự, đương sự, nhất là người khởi kiện hay người nêu yêu cầu phản tố phải thực hiện trách nhiệm cung cấp chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh cho các yêu cầu của mình Do đặc điểm của tố tụng dân sự, cho nên không có chủ thể nào hiểu ngọn ngành

vụ kiện như đương sự, không có ai biết nhiều sự kiện của vụ án như đương sự và cũng chính vì vậy mà cũng không có chủ thể nào quản lí và sở hữu nhiều loại chứng cứ như đương sự trong vụ

án Bởi vậy, trong quá trình tố tụng không phải chỉ có tòa án mới viện dẫn chứng cứ mà bản thân các đương sự cũng viện dẫn chứng cứ (đặc biệt là người khởi kiện và người có yêu cầu phản tố), họ cũng rất khẩn trương và chủ động tìm kiếm chứng cứ để giao nộp cho tòa và họ cũng muốn thông qua việc cung cấp chứng cứ

để chứng minh cho yêu cầu của họ là có căn cứ

và lợi ích của họ là hợp pháp Như vậy, trong tố tụng dân sự không phải chỉ có một mình toà án phải dựa vào những tin tức chứa đựng trong các tài liệu, vật chứng của vụ án để xem xét giải quyết mà trong quá trình này chính các đương

sự mới là chủ thể quan trọng trong việc thu thập chứng cứ Và cũng chính là đương sự - loại chủ thể thứ hai tham gia tố tụng cùng với toà án đều

Trang 4

phải căn cứ vào tài liệu vật chứng đó để đề đạt

yêu cầu làm cơ sở cho toà án xem xét giải quyết

Với những phân tích nêu trên thấy cần thiết phải

bổ sung vào quy phạm định nghĩa đó thêm một

loại hoạt động phổ biến của đương sự trong việc

xác lập chứng cứ và xin đưa ra định nghĩa về

chứng cứ như sau:

Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những tin

tức có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục

do Bộ luật này quy định mà tòa án và đương sự

viện dẫn ra để dùng làm căn cứ cho việc xác

định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có

căn cứ và hợp pháp hay không cũng như để xác

định những tình tiết khác cần thiết cho việc giải

quyết đúng đắn vụ việc dân sự

Tham khảo Bộ luật tố tụng dân sự của Cộng

hòa Pháp cũng tìm thấy điều luật quy định tương

tự rằng thẩm phán chỉ có thể đưa ra quyết định

khi dựa trên những căn cứ, tài liệu do đương sự

viện dẫn hoặc xuất trình; thẩm phán không thể

ra quyết định mà chỉ dựa trên căn cứ pháp luật

do tòa viện dẫn.(1)

b Về nghĩa vụ chứng minh của đương sự và

nhiệm vụ của tòa án trong tố tụng dân sự

Trong pháp luật hiện hành, cũng như trong

thực tiễn hiện nay đang tồn tại hai loại ý kiến

khác nhau về việc này

- Ý kiến thứ nhất dựa theo Điều 2 và Điều 3

của các pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án

dân sự, kinh tế, lao động cho nên họ cho rằng

đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo

vệ quyền lợi của mình; Đồng thời trong giai đoạn

chuẩn bị xét xử, nếu xét thấy cần thiết tòa án phải

tiến hành các biện pháp điều tra để thu thập

chứng cứ Đó là trách nhiệm của công chức trong

bộ máy nhà nước của dân do dân và vì dân

- Ý kiến thứ hai cho là trong tố tụng dân sự

các đương sự phải thực hiện nghĩa vụ cung cấp,

thu thập chứng cứ, tòa án không có trách nhiệm phải đi thu thập chứng cứ

Trước hai luồng ý kiến trái ngược như trên, chúng tôi xin có ý kiến như sau:

- Trong tố tụng dân sự, người tiến hành tố tụng phải tôn trọng nguyên tắc quyền quyết định

và tự định đoạt của đương sự, bởi lẽ: Điều 5 Dự thảo quy định:

+ Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Tòa án chỉ thụ lí giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó;

+ Các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình bằng việc rút lại, thừa nhận hoặc thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội

Như ta đã biết, Điều 5 nêu trên là một trong các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Vì vậy, phải coi đây là tư tưởng pháp lí có tính chất chủ đạo đối với tất cả các giai đoạn tố tụng, có giá trị định hướng cho các hoạt động tố tụng của các chủ thể tố tụng Đồng thời việc tôn trọng tối đa quyền tự định đoạt của đương sự chính là đòi hỏi của nguyên tắc bảo đảm pháp chế trong tố tụng dân sự Bởi vậy cơ quan tiến hành tố tụng

và người tham gia tố tụng phải quán triệt sâu sắc nguyên tắc đó, đặc biệt là người tiến hành tố tụng như thẩm phán

Trong giải quyết các vụ việc dân sự, cơ quan xét xử phải thực sự công tâm, phải thật sự

là cơ quan bảo vệ công lí, giữ đúng trọng trách của người trọng tài cho người dân trông cậy, tuyệt đối không được gây sức ép cho một bên và cũng không được thiên vị quá lo lắng cho một bên Hơn nữa, quá trình giải quyết vi phạm hay

Trang 5

tranh chấp dân sự là quá trình tự giải quyết các

mâu thuẫn của các bên bằng biện pháp thương

lượng, hòa giải nhằm tìm ra một thỏa thuận mà

hai bên có thể chấp nhận được Tòa án chỉ phán

xét, phân xử khi thật cần thiết Thực trạng bấy

lâu, tòa án đi điều tra thu thập chứng cứ, nhiều

việc toà đã làm thay đương sự, từ đó tạo thói ỷ

lại vào tòa án, làm mất đi tính tự giác chủ động

và thái độ hợp tác tích cực của đương sự Do

vậy, cơ quan xét xử và người tiến hành tố tụng

phải thấm nhuần sâu sắc nguyên tắc tôn trọng

quyền tự định đoạt của đương sự, tuyệt đối

không làm thay đương sự trong việc thu thập

chứng cứ Tòa án chỉ hoạt động trong phạm vi

yêu cầu của đương sự mà thôi

- Trong tố tụng dân sự không nên giao cho

tòa án trách nhiệm phải đi thu thập chứng cứ

Đây chính là hệ quả của việc tôn trọng tối đa

nguyên tắc quyền quyết định và quyền tự định

đoạt của đương sự

Trước vấn đề mới như vậy, có người cho

rằng tòa không đi thu thập chứng cứ thì làm sao

tòa có thể xử được Để giải quyết băn khoăn

này, xin hãy tìm hiểu cơ chế trong tố tụng hình

sự Trong hoạt động xét xử tội phạm, tòa án chỉ

thực hiện quyền lực xét xử khi hồ sơ vụ án đã

được các cơ quan tố tụng trước đó hoàn tất, nó

thể hiện đầy đủ ở quyết định truy tố của viện

kiểm sát bằng bản cáo trạng với đầy đủ chứng

cứ Ở đây, tòa án đâu có phải đi điều tra và toà

án đâu có phải đi thu thập chứng cứ, vậy mà tòa

án vẫn xét xử trên cơ sở hồ sơ của các cơ quan

tố tụng khác và bản án được tuyên hầu hết là có

sức thuyết phục

Ngoài ra, không nên quy định nhiệm vụ này

cho toà án cũng vì với cơ cấu tổ chức và biên

chế của tòa án như hiện nay, đặc biệt đứng trước

yêu cầu của cải cách tư pháp, cần phải tăng thẩm

quyền cho tòa án cấp huyện xét xử sơ thẩm, tòa

án cấp tỉnh đảm đương việc xét xử phúc thẩm là

cơ bản và tòa án tối cao thực hiện chủ yếu chức năng giám đốc xét xử Bởi vậy, tòa án các cấp không thể đủ lực lượng để đảm đương các hoạt động điều tra thu thập chứng cứ của vụ kiện dân

sự được Thực tế án tồn đọng, án quá hạn tố tụng ở các tòa án vừa qua đã phần nào phản ánh cái sự lực bất tòng tâm ở tòa cấp huyện và tòa cấp tỉnh vì người thì ít mà việc lại quá nhiều Đây cũng là yêu cầu của cải cách tư pháp, cần mạnh dạn đổi mới hoạt động tố tụng dân sự Tòa án cần xã hội hóa một số loại hoạt động tố tụng và phải để cho đương sự làm tròn bổn phận của họ và tòa án cần phải thực hiện đúng chức năng của mình

Với cơ sở lí luận và thực tiễn như đã phân tích ở trên, chúng tôi đề nghị Bộ luật tố tụng dân

sự không nên quy định tòa án phải làm thay, lo thay đương sự trong việc thu thập chứng cứ đối với các vụ án dân sự Hãy để cho đương sự tự mình thực hiện việc thu thập chứng cứ vì quyền lợi của chính họ, có như vậy mới tạo ra sự hợp tác tích cực của đương sự với tòa Thực hiện được giải pháp đột phá này, bản thân người đi kiện phải cân nhắc trước khi khởi kiện, có đáng đưa việc đó ra tòa hay không và ra tòa rồi liệu có thắng được hay không? Thiết nghĩ pháp luật phải xác lập cho công dân thói quen suy nghĩ và hành động theo pháp luật Và khi nhiều người dân đều

có chung suy nghĩ như vậy, chắc chắn số lượng kiện dân sự sẽ giảm đi rất nhiều và tòa án sẽ không phải ngập đầu trong núi công việc kiện tụng nữa, số án tồn đọng sẽ giảm, uy tín tòa án sẽ tăng cao; trật tự kỉ cương xã hội được tôn trọng./

(1).Xem: Điều 16 Bộ luật tố tụng dân sự Cộng hòa Pháp

Ngày đăng: 21/02/2014, 12:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w