1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo " Kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm dân sự" pptx

6 723 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 127,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Theo quy định của Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự, những đối tượng có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là b

Trang 1

hế độ xét xử hai cấp là một trong

những nguyên tắc quan trọng của luật

tố tụng dân sự Sau khi tuyên án sơ thẩm,

nếu không đồng ý với bản án, quyết định sơ

thẩm, đương sự, người đại diện hợp pháp

của đương sự, cơ quan nhà nước, tổ chức xã

hội đã khởi kiện vì lợi ích chung có quyền

kháng cáo, viện kiểm sát cùng cấp và viện

kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng

nghị theo thủ tục phúc thẩm Trong Dự thảo

Bộ luật tố tụng dân sự, việc kháng cáo,

kháng nghị được quy định tại chương XV

Phần thứ 3 Chương này bao gồm 15 điều,

từ Điều 243 đến Điều 257 So với Pháp lệnh

thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm

1989, Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự đã

quy định chi tiết hơn, cụ thể hơn các vấn đề

liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị

đối với bản án, quyết định sơ thẩm dân sự

Tuy nhiên, vẫn còn một số bất cập, trong

bài viết chúng tôi xin nêu một vài ý kiến

xung quanh vấn đề này

1 Đối tượng của kháng cáo, kháng

nghị theo thủ tục phúc thẩm

Theo quy định của Dự thảo Bộ luật tố

tụng dân sự, những đối tượng có thể bị

kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc

thẩm là bản án sơ thẩm, quyết định tạm

đình chỉ và quyết định đình chỉ việc giải

quyết vụ án dân sự Trong ba đối tượng này

thì bản án sơ thẩm và quyết định đình chỉ

việc giải quyết vụ án dân sự có thể bị kháng

cáo, kháng nghị, yêu cầu xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm dân sự là hợp lí bởi đương sự có quyền không đồng ý với việc giải quyết vụ án của toà án sơ thẩm khi cho rằng việc giải quyết vụ án như vậy là không đúng Nhưng đối với quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự lại khác Quyết định này chỉ có ý nghĩa tạm dừng tố tụng vì vụ án có những căn cứ khiến cho việc giải quyết vụ án đó không thể tiếp tục được Bao giờ những căn cứ đó chấm dứt, toà án lại tiếp tục việc giải quyết vụ án Việc toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án không phải là toà án đã giải quyết vụ án nên Dự thảo Bộ luật tố tụng dân

sự quy định quyết định tạm đình chỉ cũng

có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là không cần thiết Theo chúng tôi, trong Dự thảo Bộ luật tố tụng nên loại quyết định tạm đình chỉ ra khỏi những đối tượng có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm

2 Về thời hạn kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm

Điều 246 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân

sự quy định: “1 Thời hạn kháng cáo là 15

ngày, kể từ ngày tuyên án hoặc ra quyết

định Đối với đương sự không có mặt tại

phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính từ

C

* Giảng viên Khoa luật dân sự Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

ngày họ nhận được bản sao bản án, quyết

định hoặc ngày niêm yết bản sao bản án

2 Trong trường hợp đơn kháng cáo gửi

qua bưu điện thì ngày kháng cáo được tính

căn cứ vào ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu

ở phong bì”.Theo quy định của điều luật

này thì đương sự, người đại diện hợp pháp

của đương sự, cơ quan nhà nước, tổ chức xã

hội có 15 ngày để kháng cáo sau khi biết

được kết quả xét xử sơ thẩm So với quy

định tại Điều 59 Pháp lệnh thủ tục giải

quyết các vụ án dân sự, thời hạn kháng cáo

bản án, quyết định sơ thẩm quy định giống

nhau Theo chúng tôi, việc quy định thời

hạn kháng cáo 15 ngày này là hợp lí Với

thời hạn này, người kháng cáo có đủ thời

gian cần thiết để suy nghĩ và quyết định

xem mình có nên kháng cáo hay không

Điều 246 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự chỉ

khác Điều 59 Pháp lệnh thủ tục giải quyết

các vụ án dân sự ở chỗ bổ sung thêm khoản

2 của điều luật ghi nhận trường hợp kháng

cáo được gửi qua đường bưu điện Như vậy,

khi Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực, áp

dụng Điều 246 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân

sự trên thực tế sẽ gặp một số vướng mắc

như sau:

Thứ nhất, việc xác định thời điểm bắt

đầu của thời hạn kháng cáo Theo Điều 246

quy định thì thời hạn kháng cáo bản án,

quyết định sơ thẩm dân sự được xác định

theo từng trường hợp khác nhau Nếu người

có quyền kháng cáo có mặt tại phiên toà sơ

thẩm thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ

ngày toà án tuyên bản án, quyết định Nếu

người có quyền kháng cáo không có mặt tại

phiên toà sơ thẩm thì thời hạn tính từ ngày

họ nhận được bản sao bản án, quyết định hoặc ngày niêm yết bản sao bản án, quyết định Tuy nhiên, Điều 246 không chỉ rõ thời hạn 15 ngày bắt đầu tính cụ thể là từ ngày nào: Tính cả ngày tuyên bản án, quyết định, ngày giao bản án, quyết định, ngày niêm yết bản án, quyết định hay tính từ ngày kế tiếp của những ngày đó Trên thực tế, các toà án trong một thời gian dài đã không thống nhất được vấn đề này Chính vì vậy, Toà án nhân dân tối cao đã phải ra Công văn số 166/2001/KHXX ngày 14/12/2001 hướng dẫn áp dụng Điều 59 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự về cách tính thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Điều 161, 162 Bộ luật dân sự như sau:

“Thời điểm bắt đầu thời hạn kháng cáo, kháng nghị là ngày tiếp theo của ngày được xác định” Lẽ ra hạn chế này phải được khắc phục khi xây dựng Bộ luật tố tụng dân

sự nhưng Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự mới chỉ bổ sung trường hợp kháng cáo được gửi qua đường bưu điện mà không quy định thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo Theo chúng tôi, Điều 246 Dự thảo Bộ luật

tố tụng dân sự phải quy định cụ thể hơn về thời hạn kháng cáo theo hướng ngày đầu tiên của thời hạn kháng cáo là ngày tiếp theo của ngày tuyên, ngày giao, ngày niêm yết bản án, quyết định

Thứ hai, về thời điểm kết thúc thời hạn kháng cáo Cũng như thời điểm bắt đầu, Điều 246 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự cũng không quy định rõ thời điểm kết thúc của thời hạn kháng cáo Hiện tại theo hướng dẫn tại Công văn số 166/2001/KHXX của Toà án nhân dân tối cao thì thời điểm kết

Trang 3

thúc thời hạn kháng cáo sẽ là thời điểm kết

thúc ngày cuối cùng của thời hạn Thời

điểm kết thúc ngày cuối cùng đó là vào lúc

12 giờ đêm Nếu ngày cuối cùng của thời

hạn là ngày lễ, ngày nghỉ cuối tuần (thứ

bảy, chủ nhật) thì “thời hạn kết thúc tại thời

điểm kết thúc ngày làm việc tiếp theo ngày

nghỉ đó” Với hướng dẫn này, hiện tại các

toà án tạm thống nhất được cách xác định

thời điểm kết thúc thời hạn kháng cáo

Nhưng theo Quyết định số

188/1999/QĐ-TTg ngày 17/9/1999 của Thủ tướng Chính

phủ về thực hiện chế độ tuần làm việc 40

giờ thì kể từ ngày 02/10/1999, chế độ tuần

làm việc 40 giờ trong 5 ngày, ngày thứ bảy

và chủ nhật là ngày nghỉ hàng tuần đối với

cán bộ, công chức và người lao động trong

các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp,

tổ chức chính trị, tổ chức - chính trị xã hội;

do đó khi ngày cuối cùng của thời hạn là

ngày thứ bảy, ngày chủ nhật hoặc ngày nghỉ

lễ thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết

thúc ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó

Trên thực tế, kết thúc giờ làm việc thì cũng

chẳng có toà án nào còn tiếp nhận đơn

kháng cáo của đương sự Do vậy, đương sự

có thể sẽ khiếu nại về việc nộp đơn kháng

cáo không được nhận sau giờ làm việc của

ngày cuối cùng của thời hạn kháng cáo (ví

dụ: Sau 17 giờ trước 24 giờ) Theo chúng

tôi, thời điểm kết thúc của thời hạn kháng

cáo theo thủ tục phúc thẩm chỉ nên giới hạn

đến hết giờ làm việc hành chính bình

thường của một cơ quan nhà nước

3 Về thời hạn kháng nghị bản án, quyết

định sơ thẩm dân sự của viện kiểm sát

Theo Điều 253 Dự thảo Bộ luật tố tụng

dân sự thì “Thời hạn kháng nghị của viện

trưởng viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của viện trưởng viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày, kể từ ngày tuyên án hoặc ra quyết định” Về quy định này của Dự thảo

Bộ luật tố tụng dân sự chúng tôi cũng có một số ý kiến sau:

Thứ nhất, so với khoản 2 Điều 59 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì Điều 253 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự đã quy định cụ thể hơn: Chủ thể có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là viện trưởng viện kiểm sát cùng cấp và viện trưởng viện kiểm sát trên một cấp Việc quy định rõ chủ thể có quyền kháng nghị như vậy sẽ giúp cho việc xác định trách nhiệm một cách cụ thể

Thứ hai, so với quy định tại Điều 59 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân

sự, thời hạn kháng nghị bản án, quyết định

sơ thẩm của viện kiểm sát được quy định tại Điều 253 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự là giống nhau Nhưng có điểm khác là Điều 59 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân

sự có quy định về trường hợp: "Nếu kiểm

sát viên không tham gia phiên toà thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản sao bản án, quyết

định" còn Điều 253 Dự thảo Bộ luật tố tụng

dân sự thì không có quy định này Vậy vấn

đề đặt ra là đối với viện kiểm sát thì việc cử kiểm sát viên tham gia phiên toà sơ thẩm dân sự có là bắt buộc trong mọi trường hợp hay không? Điều 208 dự thảo Bộ luật tố

tụng dân sự quy định: "Kiểm sát viên viện

kiểm sát cùng cấp có nhiệm vụ tham gia phiên toà xét xử vụ án mà viện kiểm sát

Trang 4

khởi tố Đối với những vụ án khác, kiểm sát

viên có thể tham gia phiên toà, nếu xét thấy

cần thiết Trong trường hợp cần thiết có thể

có kiểm sát viên dự khuyết" Như vậy, theo

Điều 208 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự thì

không phải mọi phiên toà sơ thẩm dân sự

viện kiểm sát đều phải cử kiểm sát viên

tham gia mà chỉ là những vụ án dân sự do

viện kiểm sát khởi tố Các vụ án khác thì

chỉ khi thấy cần thiết thì viện kiểm sát mới

cử kiểm sát viên tham gia phiên toà Vì vậy,

để phù hợp với Điều 208 Dự thảo Bộ luật tố

tụng dân sự, Điều 253 nên bổ sung trường

hợp: Đối với các vụ án dân sự mà viện kiểm

sát không tham gia phiên toà sơ thẩm thì

thời hạn kháng nghị của viện kiểm sát được

tính từ ngày viện kiểm sát nhận được bản

sao bản án, quyết định

Ngoài ra, Điều 246, Điều 253 Dự thảo

Bộ luật tố tụng dân sự cũng không quy định

rõ thời điểm bắt đầu và kết thúc của thời

hạn kháng nghị Theo chúng tôi nên quy

định rõ hơn theo hướng giống như quy định

về cách tính thời điểm bắt đầu và kết thúc

của thời hạn kháng cáo bản án, quyết định

sơ thẩm

4 Về thời hạn kháng cáo, kháng nghị

quá hạn

Điều 248 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân

sự quy định: “1 Kháng cáo không làm

đúng trong thời hạn quy định tại Điều 247

của Bộ luật này là quá hạn Sau khi nhận

được đơn kháng cáo quá hạn toà án cấp sơ

thẩm phải gửi đơn kháng cáo, bản tường

trình của người kháng cáo vì lí do kháng

cáo quá hạn và các chứng cứ (nếu có) cho

toà án cấp phúc thẩm

Việc kháng cáo quá hạn có thể được toà

án cấp phúc thẩm chấp nhận nếu có lí do chính đáng” Theo quy định này thì kháng cáo quá hạn là kháng cáo quá thời hạn 15 ngày theo luật định Điều này có nghĩa là trong thời hạn 15 ngày sau, kể từ khi tuyên

án, người có quyền kháng cáo không nộp đơn kháng cáo mà quá 15 ngày họ mới nộp đơn Việc họ nộp đơn kháng cáo muộn là có

lí do và việc họ nộp muộn này có thể sẽ được toà án cấp phúc thẩm chấp nhận nếu lí

do họ đưa ra là chính đáng Tuy nhiên, trên thực tế, hiện đang có hai quan điểm trái ngược nhau về việc chấp nhận kháng cáo quá hạn

- Quan điểm thứ nhất cho rằng không nên quy định toà phúc thẩm sẽ chấp nhận kháng cáo quá hạn vì bản án, quyết định hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà không

có kháng cáo, kháng nghị thì đã có hiệu lực pháp luật Nếu chấp nhận kháng cáo, kháng nghị quá hạn thì đối với trường hợp bản án, quyết định đã thi hành xong trên thực tế sẽ giải quyết như thế nào với kết quả thi hành

án và liệu có khắc phục được hậu quả không? Hơn nữa, việc chấp nhận kháng cáo quá hạn chỉ bảo vệ cho quyền lợi của một bên đương sự Nếu quy định kháng cáo quá hạn được chấp nhận thì vô hình trung lại tạo

ra sự bất bình đẳng trong việc giải quyết vụ

án dân sự Điều này rất có thể sẽ kéo theo hậu quả là bên đương sự có quyền lợi không được bảo vệ sẽ khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm

- Quan điểm thứ hai lại cho rằng cần thiết phải quy định về kháng cáo quá hạn

Lí do để giải trình cho quan điểm này là

Trang 5

trong thực tế cuộc sống có những trở ngại,

khó khăn khách quan mà bản thân đương sự

không thể khắc phục được như ốm đau, tai

nạn, lũ lụt… nên họ không thể nộp đơn

kháng cáo đúng hạn được Đối với những

trường hợp này toà án phải tạo điều kiện

giúp họ bảo vệ các quyền trong tố tụng dân

sự Tuy nhiên, để tránh tình trạng lạm dụng

các quy định này trong thực tiễn thì cần quy

định các điều kiện khi chấp nhận kháng cáo

quá hạn

Chúng tôi ủng hộ quan điểm thứ hai

Tuy nhiên, để khắc phục được các vướng

mắc xảy ra khi áp dụng, Bộ luật tố tụng dân

sự phải quy định rõ như thế nào là có lí do

chính đáng Nếu có thể liệt kê một số

trường hợp cụ thể để các toà án áp dụng

thống nhất, tránh tình trạng mỗi toà xác

định một kiểu Mặt khác, chỉ chấp nhận

kháng cáo quá hạn khi trên thực tế bản án,

quyết định này chưa được thi hành, mới thi

hành được một phần không đáng kể hoặc có

thể khắc phục được hậu quả của việc đã thi

hành án Quy định này nhằm đảm bảo khả

năng sẽ sửa chữa được những thiếu sót của

bản án, quyết định sơ thẩm

Ngoài ra, khi Bộ luật tố tụng dân sự quy

định về kháng cáo quá hạn cũng cần phải

quy định thời hạn cụ thể được kháng cáo

quá hạn Thời hạn kháng cáo quá hạn này

không nên lâu quá Theo kinh nghiệm một

số nước thì thời hạn này dao động từ một

tháng đến ba tháng Nếu thời gian quá hạn

lâu quá e rằng khó có thể khắc phục được

các thiếu sót vì bản án đã thi hành xong

hoặc các quyền và lợi ích trong bản án,

quyết định sơ thẩm đã không còn nữa Đồng

thời điều luật nên nêu cụ thể thời hạn kháng cáo quá hạn là 15 ngày giống như thông thường nhưng được kể từ ngày trở ngại khách quan cho việc kháng cáo quá hạn không còn

Về trình tự, thủ tục của việc xem xét đơn kháng cáo quá hạn, khoản 2 Điều 248

Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự quy định:

“Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn và các tài liệu kèm theo, toà án cấp phúc thẩm thành lập một hội đồng gồm ba thẩm phán

để xem xét kháng cáo quá hạn Khi xét

kháng cáo quá hạn, hội đồng có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn Lí do chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn phải được ghi

rõ trong quyết định Toà án cấp phúc thẩm phải gửi bản sao bản án, quyết định cho người kháng cáo quá hạn và toà án cấp sơ thẩm Nếu toà án cấp phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo quá hạn thì toà án cấp sơ thẩm tiến hành các thủ tục do Bộ luật này quy định và gửi hồ sơ vụ án cho toà án cấp phúc thẩm”.

Như vậy, so với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự đã quy định cụ thể hơn thủ tục xét đơn kháng cáo quá hạn Tuy nhiên, cách thức làm việc của hội đồng xét đơn kháng cáo quá hạn như thế nào thì Dự thảo Bộ luật

tố tụng dân sự lại quy định không rõ Theo chúng tôi, để tránh sự tuỳ tiện, Bộ luật tố tụng dân sự nên quy định rõ thủ tục xét kháng cáo quá hạn Thủ tục này nên quy định theo hướng hội đồng làm việc theo thủ tục rút gọn, có nghĩa là không cần mở phiên

Trang 6

tòa, thủ tục xét duyệt thật ngắn gọn, thậm

chí cho phép trong một số trường hợp chỉ

cần một thẩm phán xem xét và quyết định

để nhằm khắc phục nhanh nhất sai lầm đã

xảy ra Việc chuyển giao hồ sơ giữa toà án

cấp sơ thẩm cho toà án cấp phúc thẩm chỉ

tiến hành sau khi kháng cáo quá hạn được

chấp nhận

Về việc kháng nghị quá hạn của viện

kiểm sát trong Dự thảo Bộ luật tố tụng dân

sự không có quy định Liệu từ đó chúng ta

có thể hiểu viện kiểm sát chỉ có quyền

kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm

trong đúng thời hạn luật định Theo chúng

tôi, Bộ luật tố tụng dân sự cũng cần quy

định về việc viện kiểm sát kháng nghị quá

hạn Mặc dù so với người có quyền kháng

cáo, người có quyền kháng nghị là viện

kiểm sát có nhiều điều kiện thuận lợi để

thực hiện việc kháng nghị hơn Song đối

với viện kiểm sát cấp trên mặc dù có thời

hạn kháng nghị dài gấp đôi so với viện

kiểm sát cùng cấp (30 ngày) nhưng việc

theo dõi hoạt động xét xử của toà án cấp

dưới gặp nhiều khó khăn nên rất có thể sẽ

kháng nghị quá hạn Vì vậy, Dự thảo Bộ

luật tố tụng dân sự nên bổ sung quy định về

việc viện kiểm sát kháng nghị quá hạn

5 Hậu quả pháp lí sau khi hết thời

hạn kháng cáo, kháng nghị

Theo quy định tại Điều 255 Dự thảo Bộ

luật tố tụng dân thì “Những phần của bản

án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng

nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ

trường hợp pháp luật quy định cho thi hành

ngay” Như vậy, về nguyên tắc phải đảm

bảo đúng thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo luật định Các toà án phải chờ hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị thì mới xem xét đến các vấn đề liên quan Trong thời gian kháng cáo, kháng nghị bản án, quyết định

sơ thẩm chưa phát sinh hiệu lực, vì vậy, đương nhiên nó chưa được thi hành Sau khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo luật định nếu không có kháng cáo, kháng nghị thì mới được đưa bản án, quyết định sơ thẩm ra thi hành, trừ trường hợp có quy định khác Còn nếu hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà thấy có kháng cáo, kháng nghị thì phải xem kháng cáo, kháng nghị một phần hay toàn bộ Điều luật này theo chúng tôi cũng chưa được rõ Trên thực tế

từ trước đến nay tại các toà án thì dù kháng cáo, kháng nghị một phần hay toàn bộ thì nhìn chung bản án, quyết định đó đều không được đưa ra thi hành Mặt khác, khi toà án cấp phúc thẩm xem xét phần bị kháng cáo, kháng nghị nhưng để giải quyết được vấn đề đó thì lại phải xem xét đến phần liên quan không bị kháng cáo, kháng nghị nhưng đến thời điểm này thì phần không bị kháng cáo, kháng nghị có thể đã thi hành rồi thì liệu có khắc phục được sai lầm của toà án cấp dưới nữa hay không Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, để đảm bảo khả năng khắc phục sai lầm của toà án cấp dưới một cách tốt nhất, Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự nên quy định rõ khi có kháng cáo, kháng nghị thì không được đưa bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị ra thi hành, trừ trường hợp cần thi hành ngay./

Ngày đăng: 21/02/2014, 12:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w