1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo " Một số vấn đề về phiên toà sơ thẩm" ppt

6 560 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 133,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm thứ hai vì trong trường hợp viện kiểm sát khởi tố vụ án thì theo quy định tại Điều 166 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự, viện kiểm sát phải có trác

Trang 1

ThS NguyÔn ThÞ THu Hµ *

ét xử tại phiên toà sơ thẩm là giai

đoạn tố tụng quan trọng nhất, quyết

định nhất Tuy vậy, khi nghiên cứu các

quy định về phiên tòa sơ thẩm trong Dự

thảo Bộ luật tố tụng dân sự chúng tôi thấy

vẫn còn một số quy định chưa hợp lí, vẫn

còn nhiều ý kiến khác nhau

1 Về sự tham gia tố tụng tại phiên

toà của viện kiểm sát nhân dân

Điều 208 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân

sự quy định: ''1 Kiểm sát viên viện kiểm

sát cùng c ấp có nhiệm vụ tham gia phiên

toà xét x ử vụ án mà viện kiểm sát khởi tố

Đối với những vụ án khác, kiểm sát viên

có th ể tham gia phiên toà, nếu xét thấy

c ần thiết…" Tuy nhiên, trong quá trình

xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự có nhiều

ý kiến khác nhau về vấn đề này Có ý kiến

cho rằng viện kiểm sát cần phải tham gia

tất cả các phiên toà và phát biểu quan

điểm về việc giải quyết vụ án vì theo

khoản 3 Điều 20 Luật tổ chức viện kiểm

sát thì viện kiểm sát tham gia các phiên

toà và phát biểu quan điểm về việc giải

quyết vụ án Ngoài ra, việc viện kiểm sát

tham gia phiên toà là để thực hiện tốt hơn

chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp Do

đó, cần quy định trong Bộ luật tố tụng dân

sự tinh thần này của Luật tổ chức viện

kiểm sát

Ý kiến khác lại cho rằng theo quy

định tại Điều 20 Luật tổ chức viện kiểm

sát nhân dân thì: "Viện kiểm sát nhân dân

ki ểm sát việc giải quyết vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định

c ủa pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quy ết các vụ án " Viện kiểm sát kiểm sát

hoạt động xét xử của toà án bằng nhiều biện pháp khác nhau chứ không bắt buộc phải tham gia tất cả các phiên toà xét xử các vụ án Mặt khác, khi viện kiểm sát tham gia tất cả các phiên tòa thì toà án nhân dân bắt buộc phải chuyển tất cả hồ

sơ cho viện kiểm sát nghiên cứu trước khi

mở phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm và như vậy ảnh hưởng đến thời gian giải quyết vụ

án Do đó quy định như trong Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự là hợp lí và phù hợp với thực tế

Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm thứ hai vì trong trường hợp viện kiểm sát khởi tố vụ án thì theo quy định tại Điều 166 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân

sự, viện kiểm sát phải có trách nhiệm cung cấp những tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho quyền lợi của bên đương

sự mà viện kiểm sát đứng ra bảo vệ đồng thời viện kiểm sát phải đưa ra những chứng cứ, lí lẽ, căn cứ pháp lí bác bỏ yêu cầu của đương sự phía bên kia đưa ra Để

X

* Giảng viên Khoa luật dân sự Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

có thể làm được điều đó thì khi xét xử tại

phiên toà viện kiểm sát phải tham gia tố

tụng Còn trong trường hợp viện kiểm sát

không khởi tố vụ án thì viện kiểm sát

đứng về phía ai, nguyên đơn, bị đơn hay

người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và

nếu họ không đứng về phía đương sự nào

mà chỉ là cơ quan tiến hành tố tụng để

kiểm sát hoạt động xét xử của toà án thì

không cần thiết phải tham gia phiên toà

Và trên thực tế "Tỉ lệ kiểm sát viên tham

gia phiên toà hi ện nay là khá cao nhưng tỉ

l ệ án bị huỷ và cải sửa vẫn rất lớn Nhiều

sai sót v ề thủ tục, về hồ sơ nhưng kiểm sát

ki ểm sát hồ sơ và tham gia phiên toà".(1)

Vì vậy, viện kiểm sát chỉ bắt buộc tham

gia phiên tòa xét xử vụ án mà viện kiểm

sát khởi tố để bảo đảm chất lượng tham

gia phiên toà cũng như bảo đảm việc giải

quyết vụ án đúng pháp luật, kịp thời

Nếu chúng ta tham khảo pháp luật

nước ngoài thì thấy rất ít nước quy định

trong Bộ luật tố tụng dân sự về sự tham

gia tố tụng tại phiên toà sơ thẩm của viện

kiểm sát và nếu có thì cũng chỉ trong một

số trường hợp nhất định, ví dụ, Điều 431

Bộ luật tố tụng dân sự của Pháp quy định:

"Viện công tố chỉ phải dự phiên toà trong

nh ững trường hợp viện công tố với tư

cách các bên đương sự chính tham gia tố

t ụng hoặc đại diện cho người khác hoặc

khi pháp lu ật quy định viện công tố phải

có m ặt tại phiên toà"

Vì vậy, chúng tôi cho rằng quy định về

sự tham gia tố tụng tại phiên toà của viện

kiểm sát như trong Điều 208 Dự thảo Bộ

luật tố tụng dân sự là hoàn toàn hợp lí

2 Về thủ tục xét hỏi và tranh luận

tại phiên toà

a Điều 223 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự quy định về thứ tự xét hỏi, Điều

224, 225, 226, 227, 231 Dự thảo quy định

về việc hỏi nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người giám định

Việc quy định về thủ tục xét hỏi như trong Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự vẫn

là kiểu tố tụng xét hỏi, trong đó đề cao vai trò của thẩm phán và coi nhẹ vai trò của các bên đương sự Trong quá trình xét xử tại phiên tòa, hội đồng xét xử vẫn giữ vai trò chủ động và tích cực tham gia vào các hoạt động xét hỏi các đương sự, người đại diện của đương sự, người làm chứng, người giám định… Việc quy định về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa như vậy là chưa hợp lí, chưa bảo đảm tính dân chủ và bảo

vệ các quyền con người trong quá trình tham gia tố tụng tại phiên tòa, làm đương

sự ỷ lại, phụ thuộc vào tòa án, “hạn chế tính tích c ực, chủ động của đương sự trong t ố tụng”,(2) vai trò của luật sư tại phiên tòa bị mờ nhạt, toàn bộ trách nhiệm chứng minh được đặt lên vai hội đồng xét

xử đặt biệt là chủ tọa phiên tòa, còn các bên đương sự, người đại diện của đương

sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, những người tham gia tố tụng khác chỉ tham gia vào quá trình chứng minh ở mức

độ hạn chế Và khi phải đảm nhiệm toàn

bộ trách nhiệm chứng minh ở phiên tòa thì hội đồng xét xử không có điều kiện tập trung vào xem xét, đánh giá các chứng cứ,

Trang 3

hướng quá trình tranh tụng giữa các bên

đương sự vào việc làm sáng tỏ các yêu

cầu, các căn cứ thực tiễn và pháp lí của

các yêu cầu đó cũng như các tình tiết khác

nhau về quan hệ pháp luật dân sự mà từ

đó phát sinh tranh chấp giữa các đương

sự Ngoài ra, việc quy định như vậy không

phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp đã

được quán triệt trong Nghị quyết số

08/NQ-TƯ của Bộ chính trị ngày 2/1/2002

về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư

pháp trong thời gian tới đó là: “Việc phán

quy ết của tòa án phải căn cứ chủ yếu vào

k ết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ

s ở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng

c ứ, ý kiến của kiểm sát viên… nguyên đơn,

b ị đơn và những người có quyền, lợi ích

h ợp pháp để ra những bản án, quyết định

đúng pháp luật, có sức thuyết phục và

trong th ời hạn pháp luật quy định”.(3)

Chúng tôi cho rằng trong Bộ luật tố

tụng dân sự cần bỏ thủ tục xét hỏi Sau

thủ tục bắt đầu phiên tòa, hội đồng xét xử

cho đương sự trình bày yêu cầu, xuất

trình chứng cứ và tranh luận Tòa án chỉ

thẩm tra tư cách các đương sự và những

người tham gia tố tụng khác để bảo đảm

tính hợp pháp của quá trình tranh tụng tại

phiên tòa Hội đồng xét xử có quyền

tham gia vào quá trình tranh luận của

đương sự bất cứ thời điểm nào khi thấy

cần thiết phải làm sáng tỏ các tình tiết,

chứng cứ nào đó về vụ án chưa được các

bên làm rõ

b Hiện nay, tranh luận tại phiên tòa

trong Dự thảo cũng mới chỉ đề cập trình

tự phát biểu khi tranh luận, phát biểu của

viện kiểm sát và trở lại việc xét hỏi mà chưa đề cập những người có quyền tham gia tranh luận, phạm vi tranh luận, cơ sở của việc tranh luận trong khi đó đây là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng để ra những bản án, quyết định có căn cứ và hợp pháp

- V ề những người tham gia tranh luận

Các quan hệ dân sự là những quan hệ diễn ra trong đời sống dân sự của xã hội, theo đó các chủ thể của quan hệ dân sự có quyền tự do, tự nguyện, bình đẳng trong việc thiết lập các quyền và nghĩa vụ dân

sự phục vụ cho lợi ích của mình phù hợp với lợi ích chung của xã hội Trong trường hợp có tranh chấp hoặc vi phạm xảy ra thì

họ cũng có quyền lựa chọn cách thức, biện pháp để giải quyết tranh chấp Khi họ lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng tòa án thì trách nhiệm chứng minh cho yêu cầu, phản yêu cầu của mình phải thuộc về các đương sự Vì vậy, trong quá trình tranh luận tại phiên tòa, các bên đương sự, người đại diện hoặc người bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ giữ vai trò chủ động và tích cực trong quá trình tranh luận Đối với những vụ án do viện kiểm sát khởi tố hoặc cơ quan nhà nước,

tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung thì mặc dù viện kiểm sát, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội không phải là chủ thể của quan hệ pháp luật tranh chấp nhưng viện kiểm sát, cơ quan nhà nước, tổ chức

xã hội là người đưa ra yêu cầu khởi kiện, khởi tố nên để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, khởi tố của mình là có căn cứ

và hợp pháp thì viện kiểm sát, cơ quan

Trang 4

nhà nước, tổ chức xã hội phải có quyền

tranh luận Trong quá trình tranh luận,

thẩm phán là người trọng tài “cầm cân

công lí” để phân xử giữa hai bên tham gia

tranh luận, duy trì trật tự phiên tòa và quá

trình tranh luận giữa hai bên, hướng quá

trình tranh luận vào việc giải quyết các

yêu cầu của các đương sự, các căn cứ thực

tiễn và pháp lí của các yêu cầu đó cũng

như các tình tiết khác nhau về quan hệ

pháp luật dân sự mà từ đó phát sinh tranh

chấp giữa các đương sự Như vậy, chúng

tôi cho rằng cần bổ sung thêm điều luật

quy định về những người có quyền tham

gia tranh luận tại phiên tòa là đương sự,

người đại diện của đương sự hoặc người

bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương

sự Trong trường hợp viện kiểm sát khởi

tố, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội khởi

kiện vì lợi ích chung thì kiểm sát viên, đại

diện của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội

có quyền tranh luận

- V ề phạm vi tranh luận

Khi tiến hành tranh luận, vấn đề cơ

bản là phải xác định chính xác nội dung

những vấn đề các đương sự tranh luận tại

phiên tòa hay nói cách khác là phải xác

định phạm vi tranh luận Theo quy định

tại điểm a và điểm c khoản 2 Điều 57 Dự

thảo thì đương sự có quyền và nghĩa vụ

cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình,

được biết và ghi chép, sao chụp các chứng

cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc

do tòa án thu thập Do đó, đương sự là

người có nghĩa vụ phải trả lời các yêu cầu,

tự nhận thấy yêu cầu, các chứng cứ mà đương sự phía bên kia đưa ra là hoàn toàn đúng đắn, có cơ sở và họ thừa nhận những chứng cứ, những yêu cầu đó Việc thừa nhận này sẽ giải phóng cho đương sự phía bên kia khỏi nghĩa vụ chứng minh Tuy vậy, vẫn có những yêu cầu, sự việc các bên hoặc một bên đương sự không chấp nhận Tại phiên tòa những vấn đề đó phải được tranh luận làm rõ Như vậy, Dự thảo

Bộ luật tố tụng dân sự cần bổ sung thêm điều luật quy định về phạm vi tranh luận

đó là: Những người tham gia tranh luận chỉ tranh luận về những vấn đề mà các bên đương sự còn mâu thuẫn và không thống nhất

- V ề cơ sở của việc tranh luận

Trong tố tụng dân sự, đương sự có trách nhiệm chứng minh cho tòa án và những người tham gia tố tụng khác thấy được sự đúng đắn trong yêu cầu của mình đồng thời chứng minh rằng đương sự phía bên kia phải có nghĩa vụ đối với yêu cầu của mình Để thực hiện trách nhiệm chứng minh các đương sự phải tìm kiếm, thu thập và cung cấp cho tòa án mọi chứng cứ cần thiết để bảo vệ quyền lợi của mình Đồng thời các đương sự cũng phải được tranh luận về chứng cứ, khẳng định giá trị chứng minh của chứng cứ mà mình xuất trình trước hội đồng xét xử, trình bày quan điểm, lập luận của mình về các tình tiết của vụ án, về kết luận giám định, đưa

ra các căn cứ pháp lí, lí lẽ để chứng minh rằng yêu cầu của mình hoặc để phản đối yêu cầu của đối phương là có căn cứ, hợp

Trang 5

pháp Với việc tranh luận này của các

đương sự, hội đồng xét xử sẽ nhận thức

được một cách toàn diện các vấn đề của

vụ án từ các yêu cầu của đương sự, quan

hệ pháp luật dân sự giữa các đương sự cần

giải quyết, chứng cứ, tài liệu được sử

dụng để giải quyết vụ án, pháp luật áp

dụng cần giải quyết vụ án, quyền và nghĩa

vụ của mỗi bên đương sự trong vụ án theo

quy định của pháp luật Như vậy, cần bổ

sung thêm điều luật quy định về cơ sở của

việc tranh luận đó là: "Khi tiến hành tranh

luận thì đương sự, người đại diện của

đương sự hoặc người bảo vệ quyền lợi của

đương sự lần lượt trình bày trước hội

đồng xét xử ý kiến của họ về các chứng

cứ (giấy tờ, tài liệu, vật chứng, người làm

chứng…), lập luận về các tình tiết của vụ

án, về kết luận giám định, đưa ra các căn

cứ pháp lí, lí lẽ và đề xuất hướng giải

quyết vụ án Trong trường hợp vụ án do

viện kiểm sát khởi tố, cơ quan nhà nước,

tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung

thì kiểm sát viên, đại diện của cơ quan

nhà nước, tổ chức xã hội trình bày các

chứng cứ, lí lẽ, căn cứ pháp lí và đề xuất

hướng giải quyết vụ án"

3 Về phát biểu của kiểm sát viên

Điều 235 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân

sự quy định: "Sau khi những người tham

gia t ố tụng phát biểu tranh luận và đối

đáp xong, chủ toạ phiên toà đề nghị kiểm

sát viên phát bi ểu quan điểm của viện

ki ểm sát về việc giải quyết vụ án" Theo

quy định này thì kiểm sát viên vẫn là

người phát biểu quan điểm của mình về

việc giải quyết vụ án Đương sự, người

đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự không tranh luận với viện kiểm sát Sau khi đại diện viện kiểm sát trình bày kết luận của mình thì những người tham gia tranh luận không phát biểu gì thêm

Về vấn đề này chúng tôi cho rằng trong tố tụng dân sự, đương sự có quyền

tự định đoạt, đương sự có quyền tự mình hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền lợi cho mình Nếu viện kiểm sát là người đưa ra hướng giải quyết vụ án thì phải đưa ra các chứng cứ, căn cứ pháp lí, lí lẽ làm cơ sở cho việc đề xuất hướng giải quyết vụ án

Vì những đề xuất đó có thể có lợi cho phía đương sự này hoặc phía đương sự kia và ít nhiều có tác động đến hội đồng xét xử,

“thực tiễn cũng đã cho thấy không phải

k ết luận nào của viện kiểm sát cũng là chân lí mà đôi khi có trường hợp vô tình

lu ật”.(4) Do đó, cần phải để cho các đương

sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự có quyền đáp lại ý kiến của viện kiểm sát về những vấn đề mà họ không đồng ý Có như vậy, mới giúp hội đồng xét xử có được nhận thức đầy đủ về vụ án, trên cơ sở đó hội đồng xét xử ra bản án, quyết định đúng đắn và chính xác Như vậy, Điều 235 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự cần quy định như sau: "Đại diện viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án Trong trường hợp các đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền, lợi

Trang 6

ích hợp pháp của đương sự không đồng ý

với ý kiến của kiểm sát viên thì họ có

quyền đối đáp lại"

4 Thời gian nghị án

Bản án tổng kết lại toàn bộ quá trình

xét xử vụ án, xác định sự thật khách quan

vụ án, rút ra những kết luận về giải quyết

vụ án Thẩm phán phải mất rất nhiều thời

gian để viết bản án Trong một thời gian

ngắn thì không thể viết được bản án cho

nên trên thực tế hầu như các bản án đều

được viết trước Về mặt lí luận, bản án

được chuẩn bị trước khi nghị án là không

đúng và khi bản án đã được viết trước như

vậy thì quá trình tranh luận tại phiên tòa

trở nên vô nghĩa bởi các thành viên của

hội đồng xét xử đã định hình sẵn phương

hướng giải quyết vụ án trước khi việc xét

xử được diễn ra Vì vậy, chúng tôi cho

rằng thời gian nghị án không chỉ áp dụng

đối với những vụ án có nhiều tình tiết

phức tạp mà thời gian nghị án này phải

được áp dụng đối với tất cả các vụ án

ngay cả đối với những vụ án có thể nghị

án ngay được thì cũng không nên tuyên

án ngay vì hội đồng xét xử cần có đủ thời

gian cần thiết để bàn bạc, thảo luận về

các vấn đề cần phải giải quyết trong vụ

án, trên cơ sở đó hội đồng xét xử ra được

bản án, quyết định đúng đắn, chính xác

và bảo vệ quyền lợi chính đáng của các

đương sự

Nếu chúng ta tham khảo các quy định

của pháp luật nước ngoài thì thấy trong

Bộ luật tố tụng dân sự đều có quy định về

thời hạn nghị án và thời hạn này được áp

dụng cho tất cả các vụ án Ví dụ: Bộ luật

tố tụng dân sự Đài Loan quy định: “Bản

án ph ải được tuyên công khai trong vòng

n ăm ngày sau khi kết thúc thủ tục thẩm

v ấn, tranh luận Bản án phải được hoàn thi ện và chuyển cho thư kí trong vòng năm ngày sau ngày tuyên án”.(5) Pháp luật tố tụng dân sự của Thái Lan cũng quy định:

“Khi việc xem xét thẩm vấn đã kết thúc, tòa án ấn định và công bố ngày tuyên án

Vi ệc tuyên án phải được tiến hành tại phiên tòa có đầy đủ thành phần hội đồng xét x ử và công khai, có mặt tất cả các bên

N ếu tất cả các bên đều không có mặt tại ngày tuyên án thì tòa án có th ể không cần tuyên án và được coi rằng bản án đã tuyên theo pháp lu ật”.(6)

Do đó, Điều 239 cần quy định lại như sau: "Sau khi kết thúc phần tranh luận, chủ tọa phiên tòa tuyên bố và quyết định thời gian nghị án nhưng không được quá năm ngày làm việc…"./

(1).Xem: TS Trần Văn Trung, "Vai trò của viện kiểm

Bộ luật tố tụng dân sự, Câu lạc bộ luật gia Việt - Đức

và văn phòng Viện Konard Adenauer, 11/2003

(2).Xem: Nguyễn Công Bình, "Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam", Luận văn thạc sĩ luật học năm 1998, tr 83

(3).Xem: Nghị quyết số 08/NQ-TƯ của Bộ chính trị ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác

tư pháp trong thời gian tới

(4).Xem: Khánh Tuệ, Văn Vũ, "Nâng cao chất lượng

Văn hóa dân tộc TANDTC, H 2000, tr.129

Ngày đăng: 21/02/2014, 12:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w