1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo "Về đương sự trong tố tụng dân sự " docx

6 377 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Về Đương Sự Trong Tố Tụng Dân Sự
Tác giả Nguyễn Triều Dương
Người hướng dẫn Giảng Viên Khoa Luật Dân Sự Trường Đại Học Luật Hà Nội
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Đặc San
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 126,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật tố tụng dân sự hiện hành tuy có quy định về thành phần đương sự; quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự; năng lực hành vi tố tụng của các đương sự từ Điều 19 đến Điều 22 Chương

Trang 1

NguyÔn TriÒu d−¬ng * rong quá trình giải quyết các vụ án dân

sự, việc xác định thành phần đương sự,

tư cách của đương sự là vấn đề có ý nghĩa

hết sức quan trọng Thông qua việc xác định

thành phần đương sự, tư cách đương sự, toà

án sẽ triệu tập các đương sự tham gia tố

tụng, tạo điều kiện cho các đương sự thực

hiện được các quyền, nghĩa vụ tố tụng của

họ, bảo đảm việc giải quyết vụ án dân sự

được đúng đắn

Pháp luật tố tụng dân sự hiện hành tuy có

quy định về thành phần đương sự; quyền và

nghĩa vụ tố tụng của đương sự; năng lực

hành vi tố tụng của các đương sự (từ Điều 19

đến Điều 22 Chương IV Pháp lệnh thủ tục

giải quyết các vụ án dân sự năm 1989)

nhưng còn quá sơ sài, nhiều vấn đề liên quan

đến đương sự chưa được quy định nên việc

thực hiện trên thực tế đã không tránh khỏi

những vướng mắc Vì vậy, việc xây dựng Bộ

luật tố tụng dân sự cần phải khắc phục

những hạn chế đó Trong bài viết này, chúng

tôi xin trao đổi một số ý kiến xung quanh các

quy định về đương sự trong Dự thảo Bộ luật

tố tụng dân sự

1 Về khái niệm đương sự

Điều 55 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự

quy định: “1 Đương sự trong vụ án dân sự có

thể là cá nhân, tổ chức bao gồm nguyên đơn,

bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan

2 Nguyên đơn trong vụ án dân sự là

người khởi kiện, người được viện kiểm sát

khởi tố vụ án dân sự hoặc cá nhân, tổ chức khác có thẩm quyền do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm

3 Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện, người bị viện kiểm sát khởi tố vụ án dân sự hoặc cá nhân, tổ chức khác có thẩm quyền do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm

4 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ và do đó họ tự mình đề nghị hoặc do các đương sự khác đề nghị và

được toà án chấp nhận đưa họ vào tham gia

tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan

Trong trường hợp việc giải quyết vụ án dân

sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì toà án phải

đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”

Như vậy, khoản 1 của điều luật này đã

T

* Giảng viên Khoa luật dân sự Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

quy định thành phần của đương sự nói chung

và khoản 2, 3, 4 cũng đã đưa ra định nghĩa

về nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự Tuy

nhiên, qua nghiên cứu quy định này chúng

tôi thấy còn một số vấn đề chưa được quy

định rõ, như khái niệm về đương sự, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu

độc lập, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan tham gia tố tụng đứng về phía nguyên

đơn, bị đơn

- Bộ luật tố tụng dân sự cần quy định

như thế nào là đương sự vì hiện nay, do

không có quy định về vấn đề này nên không

ít trường hợp toà án đã xác định sai đương

sự, dẫn đến việc triệu tập thiếu đương sự

hoặc triệu tập cả những người không liên

quan đến vụ án tham gia tố tụng Việc triệu

tập thừa hay thiếu đương sự đến tham gia tố

tụng đều có thể làm cho việc giải quyết vụ

án không đúng Đương sự có đặc điểm

chung là có quyền, lợi ích liên quan đến vụ

án Do đó, có thể quy định đương sự là cá

nhân, tổ chức hay chủ thể khác có quyền,

nghĩa vụ liên quan đến vụ án mà toà án đang

giải quyết

- Bộ luật tố tụng dân sự cũng cần quy

định rõ các loại người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan Trên thực tế có người có quyền

lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng đứng

về phía nguyên đơn hoặc bị đơn nhưng có

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham

gia tố tụng độc lập Việc tham gia tố tụng

của hai loại người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan nói trên là khác nhau nên quyền và

nghĩa vụ tố tụng của họ cũng cần phải được

quy định khác nhau Theo chúng tôi có thể quy định các khái niệm về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như sau:

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

có yêu cầu độc lập là người tham gia vào vụ

án đã xảy ra giữa nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ quyền lợi của mình, yêu cầu của họ độc lập với yêu cầu của nguyên đơn và bị đơn;

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng đứng về phía nguyên đơn hoặc bị đơn là người tham gia vào vụ án để bảo vệ quyền lợi của mình, yêu cầu của họ phụ thuộc vào yêu cầu hay phản yêu cầu của nguyên đơn hay bị đơn

- Theo Điều 163 Dự thảo Bộ luật tố tụng

dân sự thì: “1 Cá nhân, tổ chức có thể khởi

kiện một hoặc nhiều cá nhân, tổ chức khác

về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan

hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án dân sự

2 Nhiều cá nhân, tổ chức có thể cùng khởi kiện một cá nhân, tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án

3 Viện kiểm sát khởi tố, cá nhân, tổ chức

có thể khởi kiện đối với một cá nhân hoặc nhiều cá nhân, tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết cùng một vụ

án dân sự” Với quy định này, trong một vụ án dân

sự có thể có nhiều nguyên đơn, nhiều bị đơn Trên thực tế, có vụ án giữa các nguyên đơn, giữa các bị đơn với nhau không mâu thuẫn

Trang 3

về quyền, lợi ích mà quyền, lợi ích của họ

chỉ đối lập với đương sự phía bên kia nhưng

cũng có những vụ án giữa các nguyên đơn,

giữa các bị đơn lại mâu thuẫn với nhau về

quyền, lợi ích Vì thế việc giải quyết các vụ

án dân sự trong những trường hợp trên có

khác nhau Do vậy, trong Bộ luật tố tụng dân

sự cần có những quy định phân biệt việc

tham gia tố tụng của các nguyên đơn, các bị

đơn trong từng trường hợp cụ thể Theo

chúng tôi, đối với những vụ án mà giữa các

nguyên đơn, giữa các bị đơn không mâu

thuẫn với nhau về quyền và lợi ích thì nên

quy định họ là đồng nguyên đơn, đồng bị

đơn Đối với những vụ án có thể có nhiều

nguyên đơn, nhiều bị đơn nhưng giữa các

nguyên đơn, giữa các bị đơn với nhau có

mâu thuẫn về quyền và lợi ích thì không quy

định họ là đồng nguyên đơn, đồng bị đơn

Ngoài ra, theo Điều 55 Dự thảo Bộ luật

tố tụng dân thì chỉ trong vụ án dân sự mới có

đương sự Những người tham gia trong các

việc dân sự thì không có quy định là đương

sự Vậy họ tham gia với tư cách gì? Như

vậy, Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự thiếu

phần quy định về những người tham gia

trong việc dân sự, đặc biệt là những quy định

về quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ Điều này

nếu không được khắc phục sẽ dẫn tới những

bất cập trong việc thực hiện, toà án sẽ khó

khăn trong việc giải quyết các việc dân sự và

sẽ không bảo đảm được quyền bảo vệ quyền,

lợi ích hợp pháp của những người có quyền

lợi liên quan đến việc dân sự trước toà án

Theo chúng tôi, cần quy định những người

này cũng là đương sự và khi tham gia tố tụng,

họ cũng có các quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự được quy định tại các điều 57, 58,

59, 60 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự

2 Về năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự

Năng lực pháp luật và năng lực hành vi

tố tụng dân sự của đương sự đã được quy định tại Điều 56 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân

sự Các quy định này tuy đã khá đầy đủ nhưng chúng tôi xin trao đổi một số ý kiến sau:

Thứ nhất, không cần thiết phải đưa ra định nghĩa năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự Bởi vì, đây là vấn đề

lí luận khoa học pháp lí chỉ có ý nghĩa nhiều đối với việc nghiên cứu, giảng dạy chứ không có ý nghĩa nhiều về thi hành pháp luật

Thứ hai, điều luật cần quy định đương sự

là người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Còn người dưới 18 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì không thể

có năng lực hành vi tố tụng dân sự Người từ

đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự, lao động nhưng không thể tự mình tham gia tố tụng được vì họ chưa có sự hiểu biết đầy đủ về pháp luật và chưa có khả năng tự mình bảo vệ quyền lợi của mình trước tòa án

3 Hậu quả pháp lí của việc nguyên

đơn vắng mặt

Theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều

57 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự thì đương

Trang 4

sự “phải có mặt theo giấy triệu tập của toà

án và chấp hành các quyết định của toà án

trong thời gian giải quyết vụ án” Sự có mặt

của đương sự tham gia tố tụng vào tất cả các

giai đoạn khác nhau của quá trình tố tụng

dân sự là cần thiết bảo đảm cho toà án giải

quyết vụ án được nhanh chóng Tuy nhiên,

trên thực tế do những nguyên nhân khách

quan và chủ quan khác nhau đương sự có thể

vắng mặt Việc đương sự vắng mặt thì tuỳ

từng trường hợp họ sẽ phải gánh chịu những

hậu quả pháp lí nhất định

Khoản 2 Điều 58 Dự thảo Bộ luật tố tụng

dân sự quy định: “Nguyên đơn đã được toà

án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai liên tiếp

mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc khởi

kiện” Như vậy, khoản 2 của điều luật không

đề cập việc nguyên đơn vắng mặt có lí do

chính đáng hay không có lí do chính đáng

mà chỉ đề cập sự vắng mặt lần thứ hai liên

tiếp Việc vắng mặt của họ nhiều lần dù có lí

do chính đáng hay không cũng vẫn dẫn đến

việc xác định họ đã từ bỏ việc khởi kiện Ở

đây phát sinh sự bất cập đó là các lần nguyên

đơn được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt

nhưng các lần vắng mặt không có tính liên

tiếp thì dù sự vắng mặt của các lần đó đều

không có lí do chính đáng cũng sẽ không

dẫn đến việc coi là nguyên đơn đã từ bỏ việc

khởi kiện Ví dụ: Lần thứ nhất đương sự

được triệu tập hợp lệ thì có mặt bị đơn

nhưng vắng mặt nguyên đơn không có lí do

chính đáng, lần thứ hai đương sự được triệu

tập hợp lệ thì có mặt nguyên đơn nhưng bị

đơn vắng mặt không có lí do chính đáng, lần

thứ 3 đương sự được triệu tập hợp lệ thì có

mặt bị đơn nhưng nguyên đơn lại vắng mặt không có lí do chính đáng Trong trường hợp này theo quy định tại khoản 2 Điều 58 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự thì cũng chưa thể coi nguyên đơn đã từ bỏ việc khởi kiện, mặc

dù trong trường hợp này nguyên đơn đã vắng mặt đến lần thứ hai và đều không có lí do chính đáng Trong khi đó nguyên đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai liên tiếp dù có lí do chính đáng thì vẫn bị coi

là nguyên đơn đã từ bỏ việc khởi kiện của mình Xuất phát từ sự bất cập này, Bộ luật tố tụng dân sự cần có sự phân định rõ ràng giữa trường hợp nguyên đơn vắng mặt có lí do chính đáng với trường hợp nguyên đơn vắng mặt không có lí do chính đáng để đảm bảo tính hợp lí khi tòa án đưa ra các cách xử lí khác nhau Nếu vắng mặt có lí do chính đáng thì cần triệu tập họ tiếp lần tiếp theo Chỉ khi nguyên đơn vắng mặt nhiều lần không có lí

do chính đáng thì mới suy đoán là nguyên đơn đã từ bỏ việc khởi kiện

Một lí do khác đòi hỏi cần có sự thay đổi trong quy định tại khoản 2 Điều 58 Dự thảo

Bộ luật tố tụng dân sự đó là sự mâu thuẫn giữa quy định tại khoản 2 Điều 58, khoản 2 Điều 200 với quy định tại điểm e khoản 1 Điều 193 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự Theo quy định tại khoản 2 Điều 58, khoản 2 Điều 200 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự thì

“Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến

lần thứ 2 liên tiếp mà vẫn vắng mặt thì bị coi

là từ bỏ việc khởi kiện”, trong khi đó theo điểm e khoản 1 Điều 193 thì tòa án đình chỉ

giải quyết vụ án dân sự khi “Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn

Trang 5

vắng mặt” Như vậy, theo khoản 2 Điều 58,

khoản 2 Điều 200 đều đòi hỏi “Nguyên đơn

đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai liên

tiếp ” còn điểm e khoản 1 Điều 193 lại

không đòi hỏi “sự liên tiếp”

Để khắc phục những hạn chế và mâu

thuẫn trên, chúng tôi kiến nghị nên sửa các

quy định tại khoản 2 Điều 58, điểm e khoản

1 Điều 193, khoản 2 Điều 200 Dự thảo Bộ

luật tố tụng dân sự theo hướng thống nhất

chung như sau: “Nguyên đơn đã được toà án

triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng

mặt không có lí do chính đáng thì coi là từ

bỏ việc kiện”

4 Hậu quả pháp lí của việc bị đơn

vắng mặt

Khoản 2 Điều 59 Dự thảo Bộ luật tố

tụng dân sự quy định hậu quả pháp lí đối với

trường hợp bị đơn đã được triệu tập hợp lệ

nhưng vắng mặt như sau: “Bị đơn đã được

triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai liên tiếp mà

vẫn vắng mặt thì toà án xét xử vắng mặt bị

đơn” Như vậy, theo quy định này thì khi bị

đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai

liên tiếp mà vẫn vắng mặt thì toà án xét xử

vắng mặt bị đơn Vấn đề đặt ra ở đây là nếu

bị đơn vắng mặt có lí do chính đáng đến lần

thứ hai liên tiếp thì toà án có xét xử vắng

mặt bị đơn hay không? hay toà án phải hoãn

phiên toà ? Theo quy định khoản 2 Điều 59

Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự thì không đòi

hỏi việc vắng mặt là có lí do chính đáng hay

không có lí do chính đáng mà chỉ cần tính

liên tiếp của hai lần triệu tập hợp lệ mà bị

đơn vắng mặt Về vấn đề này chúng tôi thấy

rằng quy định tại khoản 2 Điều 59 là chưa

hợp lí, bởi hai lí do sau đây:

Thứ nhất, trong quá trình giải quyết các

vụ án dân sự thì đương sự nói chung hay bị đơn nói riêng có thể vắng mặt khi được toà

án triệu tập Việc vắng mặt này có thể do nguyên nhân khách quan, cũng có thể do nguyên nhân chủ quan, có thể vắng mặt không có lí do chính đáng, có thể vắng mặt

có lí do chính đáng mà việc bị đơn vắng mặt

có lí do chính đáng thì không thể xác định lỗi thuộc về họ được

Thứ hai, trong trường hợp bị đơn được triệu tập hợp lệ nhiều lần không liên tiếp mà vẫn vắng mặt không có lí do chính đáng thì toà án cũng không thể xét xử vắng mặt bị đơn

Một vấn đề khác cần lưu ý đó là sự mâu thuẫn, không thống nhất giữa quy định tại khoản 2 Điều 59, Điều 201 với quy định tại khoản 1 Điều 183 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự Theo khoản 2 Điều 59 và Điều 201

thì “Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần

thứ hai liên tiếp mà vẫn vắng mặt thì tòa án xét xử vắng mặt bị đơn” Trong khi đó, theo

khoản 1 Điều 183 thì "nếu bị đơn đã được

toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt thì không tiến hành hoà giải được" Như vậy, khoản 2 Điều 59

và Điều 201 đều đòi hỏi bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai liên tiếp mà vẫn vắng mặt dù việc vắng mặt này là có lí do chính đáng hay cố tình vắng mặt thì toà án vẫn xét xử vắng mặt bị đơn Còn khoản 1 Điều 183 thì đòi hỏi bị đơn đã được toà án

triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình

vắng mặt Quy định này không đòi hỏi tính liên tiếp của các lần triệu tập hợp lệ bị đơn mà

bị đơn vắng mặt nhưng lại tính đến lí do của việc vắng mặt để xác định lỗi của bị đơn Hiện tại khoản 3 Điều 48 Pháp lệnh thủ

Trang 6

tục giải quyết các vụ án dân sự cũng quy

định tương tự nên trên thực tế không ít

những vụ án các bị đơn đã lợi dụng quy định

này thay nhau vắng mặt để đối phó với

nguyên đơn và toà án Nếu vẫn quy định bị

đơn đã được toà án triệu tập hợp lệ đến lần

thứ hai mà cố tình vắng mặt mới đưa vụ án

ra xét xử thì sẽ không khắc phục được tình

trạng này

Xuất phát từ những mâu thuẫn, bất cập

trên đây chúng tôi kiến nghị cần sửa các quy

định tại khoản 2 Điều 59; khoản 1 Điều 183;

khoản 2 Điều 201 thống nhất như sau: “Bị

đơn đã được toà án triệu tập hợp lệ mà vắng

mặt không có lí do chính đáng thì toà án xét

xử vắng mặt họ”

5 Hậu quả pháp lí của việc người có

quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt

Điều 60 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự

quy định: “2 Khi tham gia tố tụng với tư

cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan

thì người có yêu cầu độc lập có các quyền,

nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều

58 của Bộ luật này

3 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan nếu tham gia tố tụng với bên nguyên

đơn hoặc chỉ có quyền lợi thì có các quyền,

nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều

58 của Bộ luật này

4 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan nếu tham gia tố tụng với bên bị đơn

hoặc chỉ có nghĩa vụ thì có các quyền, nghĩa

vụ của bị đơn quy định tại Điều 59 của Bộ

luật này”.

Với quy định trên chúng ta thấy rằng

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có

yêu cầu độc lập đã được toà án triệu tập hợp

lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi

là từ bỏ yêu cầu của mình và toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của người này Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng việc xử lí hậu quả đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập như quy định trên chỉ nên áp dụng trong trường hợp yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có thể tách ra để giải quyết ở vụ án khác Còn trong trường hợp yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thể tách ra để giải quyết riêng thì nếu người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan có yêu cầu độc lập được toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì toà án giải quyết vụ án vắng mặt họ Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc bị đơn thì không thể coi họ có quyền nghĩa vụ như nguyên đơn hoặc bị đơn như quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 60

Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự Vì những người này không thể đưa ra yêu cầu độc lập

mà yêu cầu của họ bao giờ cũng phụ thuộc vào yêu cầu của nguyên đơn hay bị đơn, họ không thể tham gia tố tụng một cách độc lập

mà bao giờ cũng phải tham gia cùng với nguyên đơn hay bị đơn Bởi vậy, chúng tôi kiến nghị cần sửa các quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 60 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân

sự theo hướng “người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan than gia tố tụng đứng về phía nguyên đơn hay bị đơn mà được toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt không có lí do chính đáng thì tòa án xét xử vắng mặt họ"./

Ngày đăng: 21/02/2014, 12:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w