Pháp luật tố tụng dân sự hiện hành tuy có quy định về thành phần đương sự; quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự; năng lực hành vi tố tụng của các đương sự từ Điều 19 đến Điều 22 Chương
Trang 1
NguyÔn TriÒu d−¬ng * rong quá trình giải quyết các vụ án dân
sự, việc xác định thành phần đương sự,
tư cách của đương sự là vấn đề có ý nghĩa
hết sức quan trọng Thông qua việc xác định
thành phần đương sự, tư cách đương sự, toà
án sẽ triệu tập các đương sự tham gia tố
tụng, tạo điều kiện cho các đương sự thực
hiện được các quyền, nghĩa vụ tố tụng của
họ, bảo đảm việc giải quyết vụ án dân sự
được đúng đắn
Pháp luật tố tụng dân sự hiện hành tuy có
quy định về thành phần đương sự; quyền và
nghĩa vụ tố tụng của đương sự; năng lực
hành vi tố tụng của các đương sự (từ Điều 19
đến Điều 22 Chương IV Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án dân sự năm 1989)
nhưng còn quá sơ sài, nhiều vấn đề liên quan
đến đương sự chưa được quy định nên việc
thực hiện trên thực tế đã không tránh khỏi
những vướng mắc Vì vậy, việc xây dựng Bộ
luật tố tụng dân sự cần phải khắc phục
những hạn chế đó Trong bài viết này, chúng
tôi xin trao đổi một số ý kiến xung quanh các
quy định về đương sự trong Dự thảo Bộ luật
tố tụng dân sự
1 Về khái niệm đương sự
Điều 55 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự
quy định: “1 Đương sự trong vụ án dân sự có
thể là cá nhân, tổ chức bao gồm nguyên đơn,
bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
2 Nguyên đơn trong vụ án dân sự là
người khởi kiện, người được viện kiểm sát
khởi tố vụ án dân sự hoặc cá nhân, tổ chức khác có thẩm quyền do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm
3 Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện, người bị viện kiểm sát khởi tố vụ án dân sự hoặc cá nhân, tổ chức khác có thẩm quyền do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm
4 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ và do đó họ tự mình đề nghị hoặc do các đương sự khác đề nghị và
được toà án chấp nhận đưa họ vào tham gia
tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan
Trong trường hợp việc giải quyết vụ án dân
sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì toà án phải
đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”
Như vậy, khoản 1 của điều luật này đã
T
* Giảng viên Khoa luật dân sự Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2quy định thành phần của đương sự nói chung
và khoản 2, 3, 4 cũng đã đưa ra định nghĩa
về nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự Tuy
nhiên, qua nghiên cứu quy định này chúng
tôi thấy còn một số vấn đề chưa được quy
định rõ, như khái niệm về đương sự, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu
độc lập, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan tham gia tố tụng đứng về phía nguyên
đơn, bị đơn
- Bộ luật tố tụng dân sự cần quy định
như thế nào là đương sự vì hiện nay, do
không có quy định về vấn đề này nên không
ít trường hợp toà án đã xác định sai đương
sự, dẫn đến việc triệu tập thiếu đương sự
hoặc triệu tập cả những người không liên
quan đến vụ án tham gia tố tụng Việc triệu
tập thừa hay thiếu đương sự đến tham gia tố
tụng đều có thể làm cho việc giải quyết vụ
án không đúng Đương sự có đặc điểm
chung là có quyền, lợi ích liên quan đến vụ
án Do đó, có thể quy định đương sự là cá
nhân, tổ chức hay chủ thể khác có quyền,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án mà toà án đang
giải quyết
- Bộ luật tố tụng dân sự cũng cần quy
định rõ các loại người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan Trên thực tế có người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng đứng
về phía nguyên đơn hoặc bị đơn nhưng có
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham
gia tố tụng độc lập Việc tham gia tố tụng
của hai loại người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan nói trên là khác nhau nên quyền và
nghĩa vụ tố tụng của họ cũng cần phải được
quy định khác nhau Theo chúng tôi có thể quy định các khái niệm về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như sau:
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
có yêu cầu độc lập là người tham gia vào vụ
án đã xảy ra giữa nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ quyền lợi của mình, yêu cầu của họ độc lập với yêu cầu của nguyên đơn và bị đơn;
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng đứng về phía nguyên đơn hoặc bị đơn là người tham gia vào vụ án để bảo vệ quyền lợi của mình, yêu cầu của họ phụ thuộc vào yêu cầu hay phản yêu cầu của nguyên đơn hay bị đơn
- Theo Điều 163 Dự thảo Bộ luật tố tụng
dân sự thì: “1 Cá nhân, tổ chức có thể khởi
kiện một hoặc nhiều cá nhân, tổ chức khác
về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan
hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án dân sự
2 Nhiều cá nhân, tổ chức có thể cùng khởi kiện một cá nhân, tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án
3 Viện kiểm sát khởi tố, cá nhân, tổ chức
có thể khởi kiện đối với một cá nhân hoặc nhiều cá nhân, tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết cùng một vụ
án dân sự” Với quy định này, trong một vụ án dân
sự có thể có nhiều nguyên đơn, nhiều bị đơn Trên thực tế, có vụ án giữa các nguyên đơn, giữa các bị đơn với nhau không mâu thuẫn
Trang 3về quyền, lợi ích mà quyền, lợi ích của họ
chỉ đối lập với đương sự phía bên kia nhưng
cũng có những vụ án giữa các nguyên đơn,
giữa các bị đơn lại mâu thuẫn với nhau về
quyền, lợi ích Vì thế việc giải quyết các vụ
án dân sự trong những trường hợp trên có
khác nhau Do vậy, trong Bộ luật tố tụng dân
sự cần có những quy định phân biệt việc
tham gia tố tụng của các nguyên đơn, các bị
đơn trong từng trường hợp cụ thể Theo
chúng tôi, đối với những vụ án mà giữa các
nguyên đơn, giữa các bị đơn không mâu
thuẫn với nhau về quyền và lợi ích thì nên
quy định họ là đồng nguyên đơn, đồng bị
đơn Đối với những vụ án có thể có nhiều
nguyên đơn, nhiều bị đơn nhưng giữa các
nguyên đơn, giữa các bị đơn với nhau có
mâu thuẫn về quyền và lợi ích thì không quy
định họ là đồng nguyên đơn, đồng bị đơn
Ngoài ra, theo Điều 55 Dự thảo Bộ luật
tố tụng dân thì chỉ trong vụ án dân sự mới có
đương sự Những người tham gia trong các
việc dân sự thì không có quy định là đương
sự Vậy họ tham gia với tư cách gì? Như
vậy, Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự thiếu
phần quy định về những người tham gia
trong việc dân sự, đặc biệt là những quy định
về quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ Điều này
nếu không được khắc phục sẽ dẫn tới những
bất cập trong việc thực hiện, toà án sẽ khó
khăn trong việc giải quyết các việc dân sự và
sẽ không bảo đảm được quyền bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của những người có quyền
lợi liên quan đến việc dân sự trước toà án
Theo chúng tôi, cần quy định những người
này cũng là đương sự và khi tham gia tố tụng,
họ cũng có các quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự được quy định tại các điều 57, 58,
59, 60 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự
2 Về năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự
Năng lực pháp luật và năng lực hành vi
tố tụng dân sự của đương sự đã được quy định tại Điều 56 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân
sự Các quy định này tuy đã khá đầy đủ nhưng chúng tôi xin trao đổi một số ý kiến sau:
Thứ nhất, không cần thiết phải đưa ra định nghĩa năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự Bởi vì, đây là vấn đề
lí luận khoa học pháp lí chỉ có ý nghĩa nhiều đối với việc nghiên cứu, giảng dạy chứ không có ý nghĩa nhiều về thi hành pháp luật
Thứ hai, điều luật cần quy định đương sự
là người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Còn người dưới 18 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì không thể
có năng lực hành vi tố tụng dân sự Người từ
đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự, lao động nhưng không thể tự mình tham gia tố tụng được vì họ chưa có sự hiểu biết đầy đủ về pháp luật và chưa có khả năng tự mình bảo vệ quyền lợi của mình trước tòa án
3 Hậu quả pháp lí của việc nguyên
đơn vắng mặt
Theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều
57 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự thì đương
Trang 4sự “phải có mặt theo giấy triệu tập của toà
án và chấp hành các quyết định của toà án
trong thời gian giải quyết vụ án” Sự có mặt
của đương sự tham gia tố tụng vào tất cả các
giai đoạn khác nhau của quá trình tố tụng
dân sự là cần thiết bảo đảm cho toà án giải
quyết vụ án được nhanh chóng Tuy nhiên,
trên thực tế do những nguyên nhân khách
quan và chủ quan khác nhau đương sự có thể
vắng mặt Việc đương sự vắng mặt thì tuỳ
từng trường hợp họ sẽ phải gánh chịu những
hậu quả pháp lí nhất định
Khoản 2 Điều 58 Dự thảo Bộ luật tố tụng
dân sự quy định: “Nguyên đơn đã được toà
án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai liên tiếp
mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc khởi
kiện” Như vậy, khoản 2 của điều luật không
đề cập việc nguyên đơn vắng mặt có lí do
chính đáng hay không có lí do chính đáng
mà chỉ đề cập sự vắng mặt lần thứ hai liên
tiếp Việc vắng mặt của họ nhiều lần dù có lí
do chính đáng hay không cũng vẫn dẫn đến
việc xác định họ đã từ bỏ việc khởi kiện Ở
đây phát sinh sự bất cập đó là các lần nguyên
đơn được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt
nhưng các lần vắng mặt không có tính liên
tiếp thì dù sự vắng mặt của các lần đó đều
không có lí do chính đáng cũng sẽ không
dẫn đến việc coi là nguyên đơn đã từ bỏ việc
khởi kiện Ví dụ: Lần thứ nhất đương sự
được triệu tập hợp lệ thì có mặt bị đơn
nhưng vắng mặt nguyên đơn không có lí do
chính đáng, lần thứ hai đương sự được triệu
tập hợp lệ thì có mặt nguyên đơn nhưng bị
đơn vắng mặt không có lí do chính đáng, lần
thứ 3 đương sự được triệu tập hợp lệ thì có
mặt bị đơn nhưng nguyên đơn lại vắng mặt không có lí do chính đáng Trong trường hợp này theo quy định tại khoản 2 Điều 58 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự thì cũng chưa thể coi nguyên đơn đã từ bỏ việc khởi kiện, mặc
dù trong trường hợp này nguyên đơn đã vắng mặt đến lần thứ hai và đều không có lí do chính đáng Trong khi đó nguyên đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai liên tiếp dù có lí do chính đáng thì vẫn bị coi
là nguyên đơn đã từ bỏ việc khởi kiện của mình Xuất phát từ sự bất cập này, Bộ luật tố tụng dân sự cần có sự phân định rõ ràng giữa trường hợp nguyên đơn vắng mặt có lí do chính đáng với trường hợp nguyên đơn vắng mặt không có lí do chính đáng để đảm bảo tính hợp lí khi tòa án đưa ra các cách xử lí khác nhau Nếu vắng mặt có lí do chính đáng thì cần triệu tập họ tiếp lần tiếp theo Chỉ khi nguyên đơn vắng mặt nhiều lần không có lí
do chính đáng thì mới suy đoán là nguyên đơn đã từ bỏ việc khởi kiện
Một lí do khác đòi hỏi cần có sự thay đổi trong quy định tại khoản 2 Điều 58 Dự thảo
Bộ luật tố tụng dân sự đó là sự mâu thuẫn giữa quy định tại khoản 2 Điều 58, khoản 2 Điều 200 với quy định tại điểm e khoản 1 Điều 193 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự Theo quy định tại khoản 2 Điều 58, khoản 2 Điều 200 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự thì
“Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến
lần thứ 2 liên tiếp mà vẫn vắng mặt thì bị coi
là từ bỏ việc khởi kiện”, trong khi đó theo điểm e khoản 1 Điều 193 thì tòa án đình chỉ
giải quyết vụ án dân sự khi “Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn
Trang 5vắng mặt” Như vậy, theo khoản 2 Điều 58,
khoản 2 Điều 200 đều đòi hỏi “Nguyên đơn
đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai liên
tiếp ” còn điểm e khoản 1 Điều 193 lại
không đòi hỏi “sự liên tiếp”
Để khắc phục những hạn chế và mâu
thuẫn trên, chúng tôi kiến nghị nên sửa các
quy định tại khoản 2 Điều 58, điểm e khoản
1 Điều 193, khoản 2 Điều 200 Dự thảo Bộ
luật tố tụng dân sự theo hướng thống nhất
chung như sau: “Nguyên đơn đã được toà án
triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng
mặt không có lí do chính đáng thì coi là từ
bỏ việc kiện”
4 Hậu quả pháp lí của việc bị đơn
vắng mặt
Khoản 2 Điều 59 Dự thảo Bộ luật tố
tụng dân sự quy định hậu quả pháp lí đối với
trường hợp bị đơn đã được triệu tập hợp lệ
nhưng vắng mặt như sau: “Bị đơn đã được
triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai liên tiếp mà
vẫn vắng mặt thì toà án xét xử vắng mặt bị
đơn” Như vậy, theo quy định này thì khi bị
đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai
liên tiếp mà vẫn vắng mặt thì toà án xét xử
vắng mặt bị đơn Vấn đề đặt ra ở đây là nếu
bị đơn vắng mặt có lí do chính đáng đến lần
thứ hai liên tiếp thì toà án có xét xử vắng
mặt bị đơn hay không? hay toà án phải hoãn
phiên toà ? Theo quy định khoản 2 Điều 59
Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự thì không đòi
hỏi việc vắng mặt là có lí do chính đáng hay
không có lí do chính đáng mà chỉ cần tính
liên tiếp của hai lần triệu tập hợp lệ mà bị
đơn vắng mặt Về vấn đề này chúng tôi thấy
rằng quy định tại khoản 2 Điều 59 là chưa
hợp lí, bởi hai lí do sau đây:
Thứ nhất, trong quá trình giải quyết các
vụ án dân sự thì đương sự nói chung hay bị đơn nói riêng có thể vắng mặt khi được toà
án triệu tập Việc vắng mặt này có thể do nguyên nhân khách quan, cũng có thể do nguyên nhân chủ quan, có thể vắng mặt không có lí do chính đáng, có thể vắng mặt
có lí do chính đáng mà việc bị đơn vắng mặt
có lí do chính đáng thì không thể xác định lỗi thuộc về họ được
Thứ hai, trong trường hợp bị đơn được triệu tập hợp lệ nhiều lần không liên tiếp mà vẫn vắng mặt không có lí do chính đáng thì toà án cũng không thể xét xử vắng mặt bị đơn
Một vấn đề khác cần lưu ý đó là sự mâu thuẫn, không thống nhất giữa quy định tại khoản 2 Điều 59, Điều 201 với quy định tại khoản 1 Điều 183 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự Theo khoản 2 Điều 59 và Điều 201
thì “Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần
thứ hai liên tiếp mà vẫn vắng mặt thì tòa án xét xử vắng mặt bị đơn” Trong khi đó, theo
khoản 1 Điều 183 thì "nếu bị đơn đã được
toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt thì không tiến hành hoà giải được" Như vậy, khoản 2 Điều 59
và Điều 201 đều đòi hỏi bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai liên tiếp mà vẫn vắng mặt dù việc vắng mặt này là có lí do chính đáng hay cố tình vắng mặt thì toà án vẫn xét xử vắng mặt bị đơn Còn khoản 1 Điều 183 thì đòi hỏi bị đơn đã được toà án
triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình
vắng mặt Quy định này không đòi hỏi tính liên tiếp của các lần triệu tập hợp lệ bị đơn mà
bị đơn vắng mặt nhưng lại tính đến lí do của việc vắng mặt để xác định lỗi của bị đơn Hiện tại khoản 3 Điều 48 Pháp lệnh thủ
Trang 6tục giải quyết các vụ án dân sự cũng quy
định tương tự nên trên thực tế không ít
những vụ án các bị đơn đã lợi dụng quy định
này thay nhau vắng mặt để đối phó với
nguyên đơn và toà án Nếu vẫn quy định bị
đơn đã được toà án triệu tập hợp lệ đến lần
thứ hai mà cố tình vắng mặt mới đưa vụ án
ra xét xử thì sẽ không khắc phục được tình
trạng này
Xuất phát từ những mâu thuẫn, bất cập
trên đây chúng tôi kiến nghị cần sửa các quy
định tại khoản 2 Điều 59; khoản 1 Điều 183;
khoản 2 Điều 201 thống nhất như sau: “Bị
đơn đã được toà án triệu tập hợp lệ mà vắng
mặt không có lí do chính đáng thì toà án xét
xử vắng mặt họ”
5 Hậu quả pháp lí của việc người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt
Điều 60 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự
quy định: “2 Khi tham gia tố tụng với tư
cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
thì người có yêu cầu độc lập có các quyền,
nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều
58 của Bộ luật này
3 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan nếu tham gia tố tụng với bên nguyên
đơn hoặc chỉ có quyền lợi thì có các quyền,
nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều
58 của Bộ luật này
4 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan nếu tham gia tố tụng với bên bị đơn
hoặc chỉ có nghĩa vụ thì có các quyền, nghĩa
vụ của bị đơn quy định tại Điều 59 của Bộ
luật này”.
Với quy định trên chúng ta thấy rằng
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
yêu cầu độc lập đã được toà án triệu tập hợp
lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi
là từ bỏ yêu cầu của mình và toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của người này Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng việc xử lí hậu quả đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập như quy định trên chỉ nên áp dụng trong trường hợp yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có thể tách ra để giải quyết ở vụ án khác Còn trong trường hợp yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thể tách ra để giải quyết riêng thì nếu người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan có yêu cầu độc lập được toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì toà án giải quyết vụ án vắng mặt họ Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc bị đơn thì không thể coi họ có quyền nghĩa vụ như nguyên đơn hoặc bị đơn như quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 60
Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự Vì những người này không thể đưa ra yêu cầu độc lập
mà yêu cầu của họ bao giờ cũng phụ thuộc vào yêu cầu của nguyên đơn hay bị đơn, họ không thể tham gia tố tụng một cách độc lập
mà bao giờ cũng phải tham gia cùng với nguyên đơn hay bị đơn Bởi vậy, chúng tôi kiến nghị cần sửa các quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 60 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân
sự theo hướng “người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan than gia tố tụng đứng về phía nguyên đơn hay bị đơn mà được toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt không có lí do chính đáng thì tòa án xét xử vắng mặt họ"./