Bạn hãy phân tích cấu trúc của một giáo án HLTT hoặc GDTC Thông qua buổi HLTT hoặc GDTC các chức năng của người HLV hoặc giáo viên GDTC (sư phạm, điều khiển, kiểm tra đánh giá) được thể hiện như thế nào thông qua trình tự buổi huấn luyện hoặc giảng dạy hợp lý và có tính liên tục” Tâm lý học là ngành học nghiên cứu về tâm trí, hành vi, là một bộ môn học thuật tìm hiểu mọi mặt ý thức, vô thức và tư duy con người Tâm lý học cũng tập trung phân tích sự ảnh hưởng của hoạt động thể chất, trạng thái tâ.
Trang 1Bạn hãy phân tích cấu trúc của một giáo án HLTT hoặc GDTC Thông qua buổi HLTT hoặc GDTC các chức năng của người HLV hoặc giáo viên GDTC (sư phạm, điều khiển, kiểm tra đánh giá) được thể hiện như thế nào thông qua trình tự buổi huấn luyện hoặc giảng dạy hợp lý và có tính liên tục”
Tâm lý học là ngành học nghiên cứu về tâm trí, hành vi, là một bộ môn họcthuật tìm hiểu mọi mặt ý thức, vô thức và tư duy con người Tâm lý học cũng tậptrung phân tích sự ảnh hưởng của hoạt động thể chất, trạng thái tâm lý và các yếu
tố bên ngoài lên hành vi và tinh thần con người
Tâm lý học thể thao là giúp vận động viên giành chiến thắng thông qua việc
ổn định tâm lý, hiểu rõ bản thân hơn
Tâm lý học TDTT là một lĩnh vực chuyên nghành của khoa học tâm lý Lýthuyết hoạt động trong tâm lý học hiện đại cũng cho rằng: hoạt động thể lực vàhoạt động tâm lý luôn thống nhất Chúng là yếu tố nội hàm trong cấu trúc hoạtđộng của con người Hoạt động TDTT tuy có tính chất đặc trưng là hoạt động thểlực nhưng không thể tách rời được hoạt động tâm lý Hoặc coi nhẹ vai trò của nótrong tổ chức hoạt động, cũng như trong giảng dạy giáo dục, huấn luyện
Hoạt động TDTT của con người bắt nguồn từ nhu cầu tất yếu khách quan:tích cực vận động sống của cơ thể người, tích cực tồn tại và sáng tạo của nhân cáchcon người trong xã hội Đó là loại hình hoạt động đòi hỏi động cơ bền vững, mụcđích rõ ràng, nhiệm vụ cụ thể, cũng như các con đường tiếp cận sức khỏe thể chấtmột cách khoa học
Trong lĩnh vực hoạt động này, người hoạt động vừa là chủ thể vừa là kháchthể hoạt động Tập luyện là để tác động lên cơ thể mình, kết quả hoat động là đểcho mình khỏe mạnh và thành tài về hoạt động thể thao Vì vậy đòi hỏi ở người tâp
Trang 2giác ngộ vai trò chủ thể sâu sắc Đó là một yêu cầu tâm lý không thể thiếu được đốivới người hoạt động TDTT.
Nhà tâm lý học thể thao muốn chăm sóc một vận động viên trẻ trong lĩnhvực thể thao thành tích cao, trước tiên phải hiểu được các nhiệm vụ giáo dục tâm lý
và phải có những hành động đáp ứng phù hợp có thể nói là chưa đầy đủ nếu ta chỉquan tâm đến phát triển các tố chất thể lực để có thành tích thể thao cao, hoặc chỉđơn thuần chú ý tới việc điều chỉnh tâm lý để loại bỏ các yếu tố gây ảnh hưởng đến
họ nhà tâm lý học phải cân nhắc xem mức độ của ngoại cảnh ảnh hưởng đến tuổitrẻ như thế nào trong sự phát triển toàn diện của nó Mặt khác phải có trách nhiệmlàm cho các yếu tố môi trường sống của vận động viên được đồng thuận hướng vàonội tâm nhân cách, để đảm bảo cho các yếu tố này luôn được sẵn sàng tiếp nhậnmột cách cởi mở những biện pháp tâm lý liên quân đến thế hệ trẻ đều mang tính sưphạm
Mục đích chính của công tác giáo dục huấn luyện, đào tạo về mặt tâm lý choVĐV là gúp phần nâng cao năng lực thi đấu thể thao trên cơ sở phát triển các phẩmchất và năng lực hoạt động tâm lý cần thiết cho VĐV giành thắng lợi trong cáccuộc thi đấu quan trọng bằng phương tiện tâm lý và ảnh hưởng tâm lý
Giáo viên và huấn luyện viên là nhà sư phạm về giáo dục thể chất và huấnluyện thể thao, người đưa các tư tưởng giáo dục và giáo dưỡng vào thực tiễn hoạtđộng thể thao
Bằng các thủ pháp chuyên môn, người giáo viên, huấn luyện viên – nhà sư phạm thúc đẩy sự phát triển các hoạt tính trí tuệ và thể chất, động viên sự nỗ lực ý chi của VĐV, tìm cách sử dụng các nguồn dự trữ cảm xúc , tiềm năng các mặt của VĐV để đạt được trình độ hoàn thiện thể thao và các mặt phẩm chất đạo đức ý chí cần thiết
Trang 3Quá trình giảng dạy của giảng viên, huấn luyện viên phải cung cấp kiến thức
để tạo ra sự chuyển biến nhận thức, tri thức và kỹ năng vận động nâng cao trình độ chuyên môn (trình độ tập luyện của vận động viên)
Đặc điểm tâm lý khi giảng dạy kỹ thuật động tác đó là phân biệt cảm giácnhững đặc tính cơ bản của động tác, biểu tượng trực quan hành động về các hànhđộng vận động của vận động viên, đặc điểm sự phản ánh bằng các khái niệm củavận động viên những khái niệm vận động do họ thực hiện
Việc tiếp thu kỹ thuật động tác là quá trình tiếp thu hành động vận động trên
cơ sở nhận thức cảm giác hợp lý, đó là các bài tập hoàn thiện của cả ba thành phần.Bản chất của nó là ở chỗ, biến hành động được nhận thức thnàh hành động haythao tác được điều kiển có ý thức, tức là thực hiện hành động phù hợp với điềukiện chủ quan của hoạt động Sự biến hoá đó phù hợp với các giai đoạn giảng dạy
1 và 2 (giai đoạn bắt đầu học và giai đoạn học sâu và chi tiết hành động), còn việcđiều kiển có ý thức hành động đó thuộc về giai đoạn 2 và 3 (giai đoạn củng cố vàhoàn thiện hành động) Do tính chất không đồng đều và hình sóng của việc hìnhthành kỹ năng vận động nên không phải tất cả các thành phần hành động có thể đạtđược ở mức độ chuyển hoá cùng một lúc
Từ đặc điểm về cấu trúc của hành động và quá trình tiếp thu chúng người ta điđến kết luận là: điều khiển quá trình này được đảm bảo bằng hai khâu điều chỉnhkhép kín.Tính quyết định của khâu điều chỉnh bên ngoài là những điều kiện kháchquan bên ngoài thực hiện hành động (tình huống cụ thể của hoạt động) và đặc biệttrong quá trình giảng dạy là tác động điều khiển của huấn luyện viên
Tính quyết định của khâu điều chỉnh bên trong là ảnh hưởng điều khiển củachính bản thân người được điều khiển ở mức độ nhận thức được và không nhậnthức được Ở mức độ nhận thức được theo I.M Xêtrênôp: “Những động tác củachúng ta được điều khiển bằng ý nghĩ và cảm giác để nhận thực theo các dấu hiệu
rõ ràng” Điều kkiển không có nhận thức xảy ra ở mức độ siêu cảm giác Một điều
Trang 4rất quan trọng là cả hai mức độ đã gắn bó về chức năng với nhau một cách có mậtthiết và giữa chúng có sự chuyển hoá.
Hoạt động của người giáo viên, HLV trong quá trình giảng dậy có thể chia ralàm 3 giai đoạn: chuẩn bị, thực hiện và kiểm tra Mỗi giai đoạn bao gồm nhiều hoạtđộng được tập hợp theo thứ tự thời gian mà nó được thực hiện và xu hướng của cáchành động đó Ở đây chúng ta muốn đề cập đến hoạt động của HLV theo kế hoạchgiảng dạy, theo tổ chức hoạt động của VĐV, theo sự truyền đạt trực tiếp lượngthông tin, kiểm tra, phân tích và đánh giá hoạt động của VĐV Còn cấu trúc một
buổi lên lớp huấn luyện thể thao nói chung bao gồm 3 phần: phần chuẩn bị, phần
Tập làm quen với cảm giác bóng
Chuẩn bị về tinh thần cho buổi tập sắp tới:
Trang 5Đặt quy tắc nền tảng
Nhận thức về ranh giới, vấn đề an toàn
Chuẩn bị tâm lý, nhịp độ và nhịp điệu cho buổi tập
II PHẦN CƠ BẢN
Nội dung của phần này nhằm giải quyết nhiệm vụ chính của buổi học huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật, thể lực và bài tập tâm lý (biện pháp tâm lý sư phạm củahuấn luyện viên, điều khiển tâm lý vận động viên, phương pháp kiếm tra đánh giá).Thời gian phần này chiếm khoảng 60 – 70%
1 Những biện pháp tâm lý sư phạm của người huấn luyện viên trong quá trình huấn luyện
- Cự tuyệt đối với việc chỉ trích cá nhân: những thanh niên có tính sợ hãi nóichung chỉ có thể lập được thành tích tốt khi họ thấy có sự cảm thông và thườngkhông chịu đựng được bất kỳ sự chỉ trích cá nhân nào Việc sữa chữa những hành
vi ứng sử của họ cần phải tiến hành bằng biện pháp động viên khích lệ Cần tạodựng những cảm xúc về sự thành đạt và nhấn mạnh những khả năng tốt đẹp trongtương lại
- Lường trước về một giáo án tập luyện: Một giáo án lên lớp hay tập luyệnphải rõ ràng và dễ hiểu Quy mô của nó phải được xây dựng từ chương trình giảngdạy và đặt trong mối quan hệ với mức độ sợ hãi hiện hữu ở người tập Trong nhữngđiều kiện học tập không có cấu trúc chặt chẽ thì kết quả học tập cuae các em cótính sợ hãi thường bị kém đi
- Cho phép có thể có sơ suất, thất bại: không có vận động viên nào lại muốnthua trận cả Nếu coi việc thua gắn liền với việc không được khen thưởng, biểudương hoặc sẽ bị chê bôi, phỉ báng thì sẽ làm tăng sợ hãi ở vận động viên về nhữngthất bại đó Cho nên một biện pháp sư phạm có tính quyết định là phải làm cho vận
Trang 6động viên thấy được rằng chưa đạt được thành tích không phải là làm mất đi danh
dự cá nhân Thành tích ngày mai có thể sẽ tốt lên Bạn bè hay thành viên trong tậpthể cần được chỉ bảo rằng trên bước đường trưởng thành có khi họ phải chấp nhậnnhững thất bại, thua kém về mình Chỉ dưới điều kiện đó thì những vận động viênchưa vững vàng, chưa chắc chắn mới có thể phát triển thành tích của mình hợp lýđược
- Có thể thú nhận có sợ hãi: chỉ khi vận động viên có năng lực để khẳng địnhđược cảm xúc, thể hiện cảm xúc đó bằng lời và thể hiện nó qua tình cảm tươngxứng thì mới có thể hiểu biết và nắm được cảm xúc của mình hay của người khác.Những vận động viên có niềm tin và muốn nói hết nỗi sợ hãi của mình để huấnluyện viên hiểu về nó thì sẽ mất đi phần nào sự tái hiện mối đe dọa của sợ hãi đó.Việc có thể thú nhận và nói ra được nỗi sợ hãi sẽ có 2 kết quả tích cực: thứ nhất làviệc hiểu rõ được những động lực đẫn tới sự sợ hãi sẽ làm giảm được cuwongf độ
sợ hãi Thứ 2 là đem đến cho các vận động viên và cà huấn luyện viên khả năngthay đổi các yếu tố gây ra sợ hãi
- Hòa nhập với mọi người: Một nhóm nhỏ khoảng 5 thành viên thường gâyảnh hưởng sợ hãi ít hơn là một nhóm lớn Nhóm nhỏ đem đến cho vận động viênkhả năng trao đổi thông tin và tiếp nhận các quan hệ cá nhân trực tiếp Vận độngviên trong đó có thể giải tỏa nỗi sợ của mình, việc chúng ta cảm thấy của cả nhóm
là biểu hiện của sự đùm bọc và an toàn
- Tiếp xúc cơ thể: Đứa trẻ đang khóc sẽ nín lại không khóc nữa, nếu chúng ta
ôm nó vào lòng Trong thể thao có nhiều trường hợp nếu chạm vào cơ thể vận độngviên sẽ có tác dụng làm giảm sự sợ hãi một cách rõ ràng Tư thế bảo hiểm của huấnluyện viên đối với vận động viên thể dục dụng cụ có tác dụng làm giảm sợ hãi hơn
là dây bảo hiểm hay các dụng cụ bảo hiểm khác Thông thường chỉ cần đặt taymình vào tay vận động viên là đã đủ làm cho phản ứng sợ hãi của em đó biến mất
Trang 7- Tạo sự tin cậy: niềm tin là cơ sở cho sự thân quen, mối quan hệ đáng tincậy đối với huấn luyện viên tạo cho vận động viên tre khả năng hành động mootjjcách không sợ hãi Những người thân quen, dụng cụ và kích thích của môi trường
đã quen thuộc có tác dụng làm giảm sợ hãi và nó cần được kết hợp tích cực vớitình huống mới
- Cung cấp đầy đủ thông tin: Thông tin về những sự kiện sảy ra sẽ làm giảm
đi sự sợ hãi trước những cái gì chưa biết và đưa đến cho vận động viên một sựvững tin rất lớn Mỗi huấn luyện viên cần phải chú là phải thông tin cho vận độngviên của mình về những khả nưng sảy ra trong tương laimootj cách đầy đủ, ví dụ
về đối thủ, phản ứng của khán giả, các điều kiện của ngoại cảnh, điều kiện thi đấu.Việc hiểu biết đầy đủ về yêu cầu đạt được thành tích cũng có vi trí quan trọng Cónhiều cách để truyền đạt thông tin như gặp gỡ, nói chuyện, tranh ảnh, phim
- Khơi dậy không khí ấm cúng và thiện cảm: sự thư thái sẽ làm giảm sợ hãi.Việc đạt được bầu không khí cởi mở và thiện cảm trong quan hệ như sự tôn trọng,gắn bó, thông cảm và sẵn sàng chuyện trò sẽ làm cho sợ hãi giảm đi và loại bỏđược hưng phấn mạnh
- Người sợ hãi chú ý người không sợ hãi: Cảm xúc thường có tác động lantruyền, tức là việc quan sát cách thức ứng sử khi có cảm xúc sẽ làm nảy sinh nhữngphản ứng cảm xúc tương tự ở những người quan sát Cho nên những người sợ hãi
mà thông qua sự tiếp xúc với những người gan dạ, dũng cảm sẽ có cơ hội để tăngcường thái độ và hành vi can đảm hơn
Sự khác biệt giữa hai thái cực trên nhất thiết không được vượt qua mức giớihạn của nó Vì nếu không thì chức năng đồng hóa hay làm theo một tấm gươngdũng cảm không còn tác dụng nữa
- Xác định nhiệm vụ rõ ràng:Việc xác định nhiệm vụ cần phải tương tích vớinăng lực của học sinh Diễn giải rõ ràng và hướng dẫn thao tác một chách chính
Trang 8xác sẽ hạn chế được sự hiểu sai và làm cho người có tính sợ hãi biết chính xác anh
ta phải làm gì
- Học cách diễn đạt: Sợ xấu hổ phần lớn xuất hiện ở những thanh niên nhútnhát trong các tình huống mà họ bị người khác theo dõi ở những em nhỏ thiếukinh nghiệm và thiếu vững vàng, kể cả những vận động viên đang thi đấu, sự phôtrương cơ thể và năng lực vận động có thể làm các em có những sợ hãi khôngđánh có Cho nên cần phải hỗ trợ, tạo ra những tình huống tương tự kiểu như vậytrong buổi tập luyện mà ở đó có mặt những người quen, ít làm họ sợ hãi Các cuộcđấu tập để đánh giá quá trình tập luyện mà kết quả trận đấu không phải là quantrọng lắm thì có thể trình diện trước công chúng
2 Điều khiển tâm lý vận động viên trong quá trình huấn luyện
Điều chỉnh tâm lý là biện pháp dùng các yếu tố tâm lý gây ảnh hưởng tớihoạt động, làm cho hoạt động đó có kết quả tốt nhất Những biên pháp điều chỉnhtâm lý có thể không những vận động viên tự tiến hành (tự điều chỉnh) mà còn đượctiến hành nhờ người khác (người khác điều chỉnh) Cụ thể theo từng bối cảnh, tìnhhuống gây căng thẳng riêng và có thể dựa vào thời gian để định ra các biện pháp.Tức là có thể phân biệt thành điều chỉnh tâm lý dài hạn hoặc ngắn hạn
Việc áp dụng các biện pháp điều chỉnh tâm lý đòi hỏi phải có sự hiểu biết vềnhững tình huống rắc rối của mỗi cá nhân
Mục đích của các biện pháp điều chỉnh tâm lý là tạo ra sự tác động thích hợpcủa tất cả các yếu tố tâm lý tham gia vào phát triển thành tích, những khả năng cótính động viên, tăng cường, điều chỉnh tâm lý và trí tuệ cũng như đặc tính nhâncách có tác động qua lại với nhau
-Điều chỉnh năng lực định hướng tâm lý: bên cạnh những động cơ vag mụcđích của vận động viên thì khả năng định hướng tâm lý cũng được coi là một quátrình hành động Khi gặp khó khăn phức tạp, không phải cứ có động cơ là vậnđộng viên có được những năng lực cần thiết để đạt được thành tích
Trang 9Khả năng định hướng tâm lý cho phép đánh giá được những loại hình vàcách thức để khắc phục và khống chế được những khó khăn trên đường đến mụcđích Ý chí, lòng quyết tâm, tính tự chủ, sự tập trung chú ý bền bỉ, rất cần thiết vớinhiều môn thể thao khác nhau Và chúng xuất hiện rất khác nhau Chất lượng củanăng lực định hướng tâm lý của 1 vận động viên thể hiện rõ ở chỗ anh ta vượt quanhững trạng thái kém nhất của mình không bị ảnh hưởng khi có sự lo âu sợ hãi,vượt qua những đắn do do dự hoặc không bị người khác lôi cuốn Năng lực địnhhướng tâm lý có quan hệ mật thiết đến từng loại hình tâm lý của vận động viên ởđây ta phải hiểu đó là sự kéo dài và độ sâu của khả năng gây cảm xúc.
- Điều chỉnh cảm xúc: Độ sâu, sự kéo dài và loại hình các qua trình cảm xúc
có vai trò quyết định trong phát triển thành tích thể thao, bởi sự điều khiển của nó
sẽ gây ảnh hưởng đến nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài Các biện pháp điềuchỉnh tâm lý phải tính đến phản ứng xúc cảm ccuar mỗi cá nhân Đồng thời phảihướng vào làm rõ ý nghĩa của hành vi ý thức, xúc cảm hoặc việc khắc phục, củng
cố hay kiểm tra của các biện pháp đó
Việc chuẩn đoán những phản ứng cá nhân khi thực hiện lượng vận độngchuyên môn và biểu hiện có tính chuyên môn của các phản ứng này là điều kiệncho việc lựa chọn các phương pháp đã hoạch định
- Điều chỉnh trí tuệ: năng lực trí tuệ và nhận thức được coi như là mộtphương tiện tinh thần mà hoạt động thể thao luôn cần đến nó để đạt mục đích đề ra.Trong khi những động cơ và nhu cầu làm nảy sinh hành động, khả năng địnhhướng tâm lý xác định diễn biến của quá trình ấy, thì chất lượng năng lực tinh thầnlại gây ảnh hưởng đến cách thức và sự lựa chọn mục tiêu cũng như ảnh hưởng đếnviệc sử dụng phương tiện và các phương pháp Trong nhiều trường hợp chất lượngcác cảm giác, năng lực quan sát, kết quả ghi nhớ, sự hiểu biết và suy nghĩ quyếtđịnh khả năng đạt thành tích thể thao Năng lực trí tuệ có ảnh hưởng đến hành độngtheo các hướng sau:
Trang 10+ Kích thích cho hành động đòi hỏi phải có phần tham gia của năng lực tinhthần thì mới đảm bảo cho việc hoàn thành mục đích của hành động đó Những vậnđộng viên nhanh chóng nhận biết, lựa chọn được cách giải quyết tối ưu, hoặc pháchọa được kế hoạch, chiến thuật tốt đều có thể đạt thành tích thể thao cao trong thiđấu Trong ý nghĩa này thì năng lực trí tuệ giữ chức năng hỗ trợ.
+ Khỉ có con người mới có thể tự coi mình như đối tượng của sự phản ánhmột cách có ý thức với tư cách là con người mới ý thức được quá trình cảm giác và
tư duy của mình để điều khiển hành vi trong các tình huống nhất định Việc điềukhiển suy nghĩ một cách có ý thức đã làm thay đổi về chất lượng vốn sống củachúng ta, gây ảnh hưởng tới các trạng thái hưng phấn cảm xúc và làm thay đổi điềukiện trí tuệ của việc đạt thành tích
- Điều chỉnh năng lượng: Một điều không còn phải bàn cãi là năng lượng cơthể là điều kiện cho phát huy thành tích thể thao Năng lượng có thể được tạo nên
và điều chỉnh qua tập luyện và dinh dưỡng
Đối với vận động viên và huấn luyện viên thì việc chuẩn bị và kiểm tra nănglượng tâm lý có ý nghĩa như việc cung cấp nặng lượng cho cơ thể Trường hợpthiếu các nguồn năng lượng tâm lý thì không thể sử dụng được năng lực thể chất
Sự nóng nảy, bực bội, sợ hãi kéo dài hoặc cảm giác quá căng thẳng đều tiêu haonăng lượng và từ đó làm làm cho vận động viên thi đấu không tốt
- Sự điều chỉnh kích thước tâm lý: Mục đích thứ 5 của các biện pháp tâm lý
là tạo dựng và tăng cường những động cơ hành động Chỉ ai có động cơ thúc đẩymới có hành động Động cơ là nguồn năng lượng tích cực, không có nó thì thànhtích thể thao sẽ không có kết quả cao được Động cơ xuất phát từ nhu cầu và mongước của vận động viên đạt cái gì hay cần khắc phục cái gì
Những vận động viên đã trưởng thành và tự xác định được mình thì có thểkhông bị lệ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh Động cơ hình thành từ việc sẵn sàngthể hiện cái tốt nhất, tự tìm tòi và thực hiện để đạt được thành tích Nếu xác định
Trang 11được động cơ thì vận động viên đó sẽ có hoạt động sáng tạo, tìm ra những điểmmạnh, sử dụng tốt năng lực của mình và sẽ tìm được những niềm vui trong pháttriển thành tích
3 Phương pháp kiểm tra đánh giá tâm lý vận động viên
3.1 Phương pháp kiểm tra tâm lý về các loại hình thần kinh
Đây là phương pháp dùng biểu đồ 808 do các nhà khoa học Trung Quốc xây dựng lên trong tuyển chọn VĐV Đây là biểu đồ sử dụng các dạng biến thiên của
ký hiệu “cái ly” (cải biến từ bảng chữ casiAnphimop) vì vậy nó loại trừ được sự khác biệt về trình độ văn hóa, dân tộc, chính trị Khi xử lý kết quả các nhà khoa học đã tính tới độ tuổi và giới tính
Đối tượng phải thực hiện trắc nghiệm trên 3 biểu mẫu với 3 yêu cầu khác nhau trong thời gian 5 phút cho mỗi biểu Sau khi xử lý bằng cách tính điểm (K),
% sai, % sót để so với bảng chuẩn tìm ra loại hình thần kinh của từng VĐV
Các nhà khoa học Trung Quốc phân chia loại hình thần kinh chi tiết hơn
cách phân chia của Paplop (nhưng vẫn trên cơ sở khoa học về 3 đặc tính: Cường
độ, tính linh hoạt và tính cân bằng của 2 quá trình thần kinh hưng phấn và ức chế)
Đây là loại trắc nghiệm có tính chất định tính để xác định xem đặc điểm các quá trình thần kinh của VĐV có phù hợp với môn thể thao đã chọn ở trình độ cao không
Sau đây là bảng chuẩn đánh giá loại hình thần kinh theo 05 nhóm:
Nhóm 1 Linh hoạt – Cận linh hoạt
Nhóm 2 Ổn định – Cận ổn định
Nhóm 3 Hưng phấn – Cận hưng phấn
Nhóm 4 Trung gian – Dưới trung bình – Cẩn thận
Nhóm 5 Dễ nhiễu – Phân tán – Ức chế – Mơ hồ
3.2 Phương pháp kiểm tra về thời gian phản xạ:
Đây là phương pháp xác định thời gian của phản ứng vận động Đối tượng phải thực hiện trắc nghiệm trên máy đo thời gian phản xạ
Trang 12Trắc nghiệm này có tính chất định lượng Sau đây là cách tiến hành và bảng điểm chuẩn (K là ký hiệu kết quả khả năng phản xạ của đối tượng – đơn vị ms).
3.2.1 Phản xạ đơn: Khi có tín hiệu đơn (một tần số, 1 cường độ) thì VĐV
phải tắt tín hiệu càng nhanh càng tốt
3.2.2 Phản xạ phức (ms): Khi có tín hiệu phức (hai tần số, hai cường độ)
thì VĐV phải tắt tín hiệu theo quy định càng nhanh, càng chính xác càng tốt
3.3 Phương pháp kiểm tra đánh giá về khả năng trí tuệ
Để đánh giá năng lực trí tuệ, người ta có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, trong đó, phương pháp trắc nghiệm (test) là phổ biến Đây là phương tiện hữu hiệu để các nhà nghiên cứu khái quát hóa, lượng hóa lí luận của mình về trí tuệ và là thước đo trí tuệ một cách tương đối
Hiện nay, có nhiều bài trắc nghiệm (test) được sử dụng để xác định chỉ số vềnăng lực trí tuệ Một trong số bài trắc nghiệm là bộ trắc nghiệm khuôn hình tiếp diễn của Raven (còn gọi là test Raven)
Trang 13Test Raven là loại trắc nghiệm phi ngôn ngữ do J.C.Raven (người Anh) xây dựng và công bố vào năm 1936 Nó được dùng để đo năng lực trí tuệ trên bình diệnrộng nhất và được sử dụng rộng rãi cho từng cá nhân cũng như từng nhóm người
có độ tuổi từ 6 đến 65
Test Raven gồm các khuôn hình tiếp diễn trong 5 bộ được kí hiệu là A, B, C,
D, E Mỗi bộ có 12 khuôn hình với mức độ phức tạp tăng dần từ bài 1 đến bài 12 Trong mỗi bộ khuôn hình có các hình vẽ chưa đầy đủ, đòi hỏi cá nhân phải quan sát để tìm ra mối liên hệ giữa các hình, nhận ra bản chất hình vẽ để bổ sung và hoàn chỉnh hệ thống các mối quan hệ từ đó phát triển được một phương pháp suy luận và phán đoán nhanh trong các tình huống xảy ra Dựa vào đây có thể phát triển phương pháp suy luận có hệ thống
Năm 1960, test Raven được UNESCO chính thức cho phép sử dụng để đo trítuệ của con người
Chấm điểm cho bài test Raven được thực hiện theo bộ khóa chấm điểm Tổng điểm của bài test được xử lí và tính theo công thức IQ = (X-X)/SD x 15 +
100 và phân loại mức trí tuệ theo bảng gồm 7 mức như sau:
Chỉ số IQ Phân loại Mức trí tuệ