KHÁI NIỆM CỦA VI PHẠM PHÁP LUẬTVi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật và có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật b
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA LUẬT
BÀI TẬP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Đề tài: Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý
Sinh viên thực hiện Mã sinh viên
Dương Nguyễn Thanh Thảo 11215361
Nguyễn Trọng Nghĩa 11214265
Nguyễn Phương Thanh 11216808
Trương Thị Phương Thảo 11216812
Lớp: Kinh tế phát triển 63C
Giảng viên giảng dạy: thầy Phạm Đức Chung
Hà Nội, Tháng 11 Năm 2021
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền.”
Quy định trên đã xác định vai trò của pháp luật đối với toàn bộ hoạt động của đờisống xã hội Pháp luật thể hiện ý chí của nhân dân, đem lại hạnh phúc cho nhân dân, cho nên các quy định của pháp luật được đông đảo nhân dân tôn trọng và tự giác thực hiện nghiêm minh Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong
xã hội vẫn còn nhiều hiện tượng vi phạm pháp luật, xâm hại đến các lợi ích vật chất và tinh thần của nhà nước, xã hội và của nhân dân Đó là hiện tượng nguy hiểm, tác động tiêu cực đến các mặt của đời sống xã hội Vậy để có thể tìm hiểu
và nghiên cứu một cách đầy đủ và chính xác, chúng em lựa chọn chủ đề thảo luận của gồm: “Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý”
Bài viết này được hoàn thành với sự đóng góp nhiệt tình của các thành viên trongnhóm nhưng trong quá trình viết không thể tránh khỏi sai sót nên chúng em kính mong nhận được sự góp ý, chỉnh sửa của thầy để bài viết này thêm phần hoàn thiện hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
MỤC LỤC
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU 2
2.1 KHÁI NIỆM CỦA TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ 8
Trang 42.4.5 Bảng tổng kết các loại trách nhiệm pháp lý 19
Trang 5Chương 1 VI PHẠM PHÁP LUẬT1.1 KHÁI NIỆM CỦA VI PHẠM PHÁP LUẬT
Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật và có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo
1.2 DẤU HIỆU CỦA VI PHẠM PHÁP LUẬT
Thứ nhất, vi phạm pháp luật phải là hành vi xác định của con người (hành
động hoặc không thành động) Nói cách khác, pháp luật không điều chỉnh những suy nghĩ hoặc đặc tính cá nhân khác của con người nếu những đặc tính đó không biểu hiện thành các hành vi cụ thể của họ
Thứ hai, vi phạm pháp luật là hành vi trái với các quy định của pháp luật,
xâm phạm tới các quan hệ xã hội được nhà nước bảo vệ Hành vi trái với quy định của pháp luật được hiểu là hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ các quy định của quy phạm pháp luật hoặc thực hiện hành vi bị pháp luật cấm
Thứ ba, vi phạm pháp luật là những hành vi trái pháp luật, nhưng hành vi trái
pháp luật đó phải chứa đựng lỗi của chủ thể Có thể khẳng định mọi vi phạm pháp luật trước hết phải là hành vi trái pháp luật, nhưng không phải tất cả mọi hành vi trái pháp luật đều bị coi là vi phạm pháp pháp luật
Thứ tư, vi phạm pháp luật là hành vi do chủ thể có năng lực trách nhiệm
pháp lý thực hiện Với những trường hợp, hành vi trái pháp luật nhưng khi thực hiện các chủ thể không có hoặc chưa có năng lực trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật thì không bị coi là vi phạm pháp luật
1.3 CẤU THÀNH CỦA VI PHẠM PHÁP LUẬT
Mặt khách quan của vi phạm pháp luật là những biểu hiện bên ngoài của vi
phạm pháp luật, bao gồm:
- Hành vi trái pháp luật
NXB ĐHKTQD, 2017, tr.124
Trang 6- Hậu quả thiệt hại cho xã hội
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả thực tế
- Điều kiện, hoàn cảnh, công cụ, phương tiện thực hiện hành vi
Mặt chủ quan của hành vi vi phạm pháp luật là diễn biến tâm lý bên trong của
hành vi vi phạm, bao gồm lỗi, động cơ và mục đích
- Lỗi là trạng thái tâm lý bên trong của chủ thể thực hiện hành vi vi phạm luậtđối với hành vi và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra Lỗi được chia thành: + Lỗi cố ý trực tiếp: là chủ thể vi phạm pháp luật nhận thức được hành vi, nhận thức được hậu quả do hành vi đó gây ra và mong muốn có hậu quả đó xảy ra
+ Lỗi cố ý gián tiếp: là chủ thể vi phạm pháp luật nhận thức được hành vi nhận thức được hậu quả do hành vi đó gây ra, tuy không muốn có hậu quả đó xảy
ra song để mặc cho hậu quả xảy ra
+ Lỗi vô ý vì quá tự tin: là trường hợp chủ thể vi phạm pháp luật nhận thấy được hành vi và nhận thức được hậu quả thiệt hại cho xã hội do hành vi đó gây ranhưng hy vọng, tin tưởng vào điều đó không xảy ra hoặc nếu xảy ra có thể ngăn chặn được
+ Lỗi vô ý do cẩu thả: là trường hợp chủ thể vi phạm pháp luật không nhậnthức được hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi mình gây ra, mặc dù có thể thấy hoặc cần phải nhận thấy trước
- Động cơ là động lực bên trong thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
- Mục đích là kết quả cuối cùng mà chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật mong muốn đạt đến
Khách thể của vi phạm pháp luật là những quan hệ xã hội được pháp luật điều
chỉnh và bảo vệ bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại và gây ra các thiệt hại hoặc
bị đe dọa trực tiếp gây ra các thiệt hại Đó là: tính mạng, sức khỏe, danh dự, danhphẩm của cá nhân, quyền sở hữu tài sản của nhà nước, của công dân, trật tự an toàn xã hội
Trang 7Chủ thể của vi phạm pháp luật là cá nhân, tổ chức có năng lực gánh chịu trách
nhiệm pháp lý Năng lực gánh chịu trách nhiệm pháp lý của chủ thể vi phạm được xem xét đối với từng loại vi phạm pháp luật cụ thể
Ví dụ thể hiện sự khác nhau của 4 hình thức lỗi: A vứt đồ vật qua cửa sổ từ
tầng 5 xuống đất trúng đầu B, làm B chết sẽ có 4 trường hợp:
- Sẽ là lỗi cố ý trực tiếp, nếu trước khi ném đồ vật, A có quan sát thấy B đang đứng dưới đất, A nhằm B ném trúng B
- Sẽ là lỗi cố ý gián tiếp, nếu trước khi ném đồ vật, A có quan sát thấy B đangđứng dưới đất, A vẫn ném, A không nhằm vào B nhưng khi ném lại trúng đầu B
- Sẽ là lỗi vô ý vì quá tự tin, nếu trước khi ném đồ vật A quan sát không có ai
và tin rằng không có ai đi qua nhưng khi ném thì có B tới đó nên đã trúng B
- Sẽ là lỗi vô ý do cẩu thả, nếu trước khi ném đồ vật A không quan sát mà ném, khi ném lại rơi trúng B
Vi phạm dân sự là những hành vi trái pháp luật, có lỗi, xâm hại tới quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân
Vi phạm kỷ luật là những hành vi của người lao động trái với các quy tắc kỷ luật lao động và nội quy lao động
Trang 8Chương 2 TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ2.1 KHÁI NIỆM CỦA TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ
Trách nhiệm pháp lý là những hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu trước các chủ thể có quyền (bao gồm: cơ quan nhà
2.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ
Thứ nhất, trách nhiệm pháp lý là những hậu quả pháp lý bất lợi mà nhà nước
buộc chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu Mọi cá nhân, tổ chức phải chịu trách nhiệm về những hành vi của mình, nếu hành vi đó là vi phạm pháp luật thì chủ thể có quyền sẽ buộc họ phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi mà không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của họ là có đồng ý hay không
Thứ hai, trách nhiệm pháp lý luôn phát sinh trong phạm vi của quan hệ pháp
luật giữa các bên với tính chất là các chủ thể có quyền và nghĩa vụ nhất định
Thứ ba, nội dung của trách nhiệm pháp lý được quy định trong phần chế tài
của các quy phạm pháp luật
Thứ tư, việc xác định trách nhiệm pháp lý phải tuân theo trình tự, thủ tục
được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật
2.3 TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ
Truy cứu trách nhiệm pháp lý là một hoạt động thể hiện tính quyền lực của nhà nước do cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền tiến hành nhằm
cá biệt hoá bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật đối với các chủ thể vi phạm pháp luật Đây là hoạt động có trình tự, thủ tục hết sức chặt chẽ do pháp luật quy định để có thể bảo đảm được tính nghiêm minh của pháp luật, tính chính xác của hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý, hạn chế đến mức thấp nhất những sai lầm có thể xảy ra, tránh hiện tượng oan sai, bỏ lọt vi phạm
NXB ĐHKTQD, 2017, tr.125
Trang 9Việc truy cứu trách nhiệm pháp lý sẽ dựa trên hành vi vi phạm, căn cứ vào hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi vi phạm gây ra, căn cứ vào lỗi của chủ thể, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và thiệt hội cho xã hội
- Thực hiện phù hợp với tình thế cấp thiết
2.4 PHÂN LOẠI TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ
2.4.1 Trách nhiệm hình sự
2.4.1.1 Khái niệm của trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm hình sự (Tội phạm) là loại trách nhiệm pháp lý nặng nhất, do tòa án hình sự áp dụng đối với người phạm tội (bị cáo) bao gồm: các hình phạt
2.4.1.2 Đặc điểm của trách nhiệm hình sự
Thứ nhất, trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội thể
hiện ở chỗ người đã gây tội phải chịu trách nhiệm trước nhà nước
Thứ hai, trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của người khi thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quảbất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành
vi mà người đó thực hiện
Thứ ba, trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội
phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiềubiện pháp cưỡng chế của nhà nước do luật hình sự quy định
Thứ tư, trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý bao gồm
nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu Trách nhiệm hình sự, chịu
bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và mang án tích
Trang 102.4.1.3 Cơ sở của trách nhiệm hình sự
Cơ sở của trách nhiệm hình sự được quy định trong Bộ luật hình sự 2015 như sau: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới
tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình
Theo đó, chỉ khi nào người thực hiện hành vi chứa đựng đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể mới phải chịu trách nhiệm hình sự Quy định như vậy giúp đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Về mặt khách quan, một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Hành vi là cách cư xử của con người ra thế giới khách quan được thể hiện bằng hành động hoặc không hành động trách nhiệm hình sự chỉ phát sinh khi có hành vi phạm tội Hành vi đó có thể gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại cho xã hội
Về mặt chủ quan, cơ sở của trách nhiệm hình sự dựa trên yếu tố “lỗi” của
người phạm tội khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Lỗi được dựa trên quan điểm chủ quan của người phạm tội
Về mặt khách thể, khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội phải
xâm hại đến quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ Đây là dấu hiệu bắt buộc để xác định có cấu thành tội phạm hay không Ngoài ra có các dấu hiệu không bắt buộc như: đối tượng của tội phạm, người bị hại
Về mặt chủ thể, chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm
hình sự, tức là khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức
và điều khiển hành vi của mình Người đó phải đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình
sự quy định tại Điều 12 của Bộ luật hình sự 2015
Ví dụ: Vụ án ca sĩ Châu Việt Cường (7/3/2018)
Theo cáo trạng, Châu Việt Cường là ca sĩ tự do Sau khi đi biểu diễn xong,
ca sĩ này về nhà Phạm Đức Thế ngủ nhờ để sáng hôm sau tiếp tục đi biểu diễn
Họ còn rủ thêm chị H cùng 2 người nữa đến chơi và cả nhóm cùng nhau sử dụng
ma túy do Thế chuẩn bị trước đó Sáng hôm sau, Cường và chị H đều có biểu
Trang 11hiện bị ảo giác do sử dụng ma túy, cả hai ngồi nói chuyện, khóc lóc, vái lạy nhau.Nghĩ chị H bị ma nhập, cần dùng tỏi để đuổi ma nên Cường mua rất nhiều tỏi, rồiném tỏi về phía chị H Cường cũng nhặt tỏi cho vào miệng ăn, đồng thời liên tục nhét hơn 30 nhánh tỏi, củ tỏi có kích thước lớn vào miệng chị H khiến nạn nhân
tử vong vì ngạt thở cơ học, do bít tắc hoàn toàn đường hô hấp Cuối giờ chiều ngày 7/3, Hội đồng xét xử tuyên án đối với 2 bị cáo Cường và Thế
Theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự 2015, Châu Việt Cường phạm tội giết người, bị tuyên phạt 13 năm tù Châu Việt Cường còn phải bồi thường 300 triệu đồng cho gia đình bị hại Theo Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, bị cáo Phạm Đức Thế bị tuyên phạt 7 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
+ Dấu hiệu vi phạm: Châu Việt Cường giết người, Phạm Đức Thế tàng trữ
và sử dụng chất ma túy Chị H và 2 người còn lại sử dụng ma túy Đây đều là hành vi phạm pháp và do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện
+ Chủ thể vi phạm pháp luật: Cường, Thế, chị H và 2 người còn lại
+ Khách thể: tính mạng của chị H, trật tự an toàn xã hội
+ Trách nhiệm pháp lý: Châu Việt Cường bị tuyên phạt 13 năm từ và phải bồi thường cho gia đình bị hại Phạm Đức Thế bị tuyên phạt 7 năm tù do đã có 2 tiền án
2.4.2 Trách nhiệm hành chính
2.4.2.1 Khái niệm của trách nhiệm hành chính
Trách nhiệm hành chính là loại trách nhiệm pháp lý do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền hoặc cá nhân có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức đã vi phạm hành chính bao gồm: các hình thức
2.4.2.2 Đặc điểm của trách nhiệm hành chính
Thứ nhất, trách nhiệm hành chính chỉ đặt ra đối với cá nhân, tổ chức vi
phạm hành chính
Thứ hai, truy cứu trách nhiệm hành chính đối với cá nhân, tổ chức vi
phạm là việc chủ thể có thẩm quyền áp dụng một trong các hình thức xử phạt đối với cá nhân, tổ chức này
Trang 12Thứ ba, trách nhiệm hành chính là trách nhiệm pháp lý của tổ chức, cá
nhân vi phạm trước Nhà nước Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính xâm hại đếntrật tự quản lý Nhà nước và chỉ Nhà nước mới có quyền áp dụng chế tài đối với các chủ thể đó, do vậy trách nhiệm của cá nhân, tổ chức phải gánh chịu trước Nhà nước
Thứ tư, việc truy cứu trách nhiệm hành chính được thực hiện trên cơ sở
các quy định của pháp luật hành chính
2.4.2.3 Cơ sở của trách nhiệm hành chính
Cơ sở phát sinh bất cứ loại trách nhiệm pháp lý nào cũng đều là vi phạm pháp luật Không có vi phạm pháp luật thì không thể truy cứu trách nhiệm pháp
lý Như vậy, cơ sở phát sinh trách nhiệm hành chính là vi phạm hành chính
Mặt khách quan của vi phạm hành chính là những dấu hiệu bên ngoài của
vi phạm hành chính, bao gồm:
- Hành vi trái pháp luật: vi phạm hành chính phải là hành vi (hành động hoặc không hành động)
- Pháp luật cấm, không thực hiện hành vi pháp luật buộc phải thực hiện
- Không thực hiện đúng những gì pháp luật yêu cầu
- Có tính nguy hiểm cho xã hội
- Hậu quả gây ra:
+ Xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ (trật tự quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, sở hữu nhà nước, là quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể, cá nhân), bao gồm hậu quả vật chất và hậu quả phi vật chất
+ Mối liên hệ nhân quả: Với các vi phạm hành chính mà hậu quả là yếu
tố bắt buộc thì phải xác định giữa hành vi vi phạm và hậu quá có quan hệ nhân quả trực tiếp
+ Thời gian, địa điểm: Cũng tương tự mối quan hệ nhân quả, đây không phải là yếu tố bắt buộc trong mặt khách quan của cấu thành vi phạm hành chính, chỉ đối với những vi phạm hành chính nhất định thì địa điểm, thời gian mới đóng vai trò quan trọng, thậm chí quyết định có vi phạm xảy ra hay không
12
Trang 13+ Phương tiện, công cụ thực hiện vi phạm hành chính : cũng là một trong những yếu tố bắt buộc trong một số cấu thành vi phạm hành chính.
Mặt chủ quan của vi phạm hành chính là những dấu hiệu bên trong, thể
hiện thái độ, trạng thái tâm lý của người vi phạm đối với hành vi trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện và với hậu quả do hành vi đó gây ra cho
xã hội, bao gồm các dấu hiệu:
+ Lỗi: Là dấu hiệu bắt buộc
+ Lỗi có hai dạng: lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý
+ Độ tuổi và khả năng nhận thức là căn cứ để loại trừ yếu tố lỗi trong vi phạm hành chính
+ Động cơ, mục đích vi phạm: Là dấu hiệu không bắt buộc
Chủ thể của vi phạm hành chính:
+ Cá nhân là công dân Việt Nam
+ Nhóm chủ thể là người chưa thành niên: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới
16 tuổi bị xử phạt về hành vi cố ý; Người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị xử phạt
về mọi hành vi
Ví dụ: Vụ công ty Vedan xả chất thải ra sông Thị Vải
Công ty Vedan bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 1993, trong các lĩnh vực sản xuất bột ngọt, tinh bột biến tính, thức ăn chăn nuôi, phân bón, trên diện tíchkhoảng 120 ha ở tỉnh Ðồng Nai Từ phản ánh, bức xúc của người dân địa phương
về tình trạng lén lút xả nước thải không qua xử lý ra môi trường, sau hơn 3 tháng theo dõi, ngày 13/9/2008, đoàn kiểm tra liên ngành đã bắt quả tang Công ty Vedan xả một lượng nước thải lớn chưa qua xử lý ra sông Thị Vải Theo ước tính,
hoạt động Hành động này gây ô nhiễm nặng cho dòng sông Thị Vải, gây chết các sinh vật sống ở sông này và ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe người dân ven sông Tại hiện trường, Phó Giám đốc phụ trách văn phòng Công ty Vedan Việt Nam đã thừa nhận hành vi vi phạm của công ty Ngày 19/9, Bộ Tài nguyên
và Môi trường công bố kết quả điều tra 10 sai phạm của Vedan
13