Từ các dấu hiệu cơ bản đó có thể khái niệm, vi phạm pháp luật là hành vi hành động hoặc không hành động trái pháp luật và có lỗi do chủ thể có năng lực hành vi thực hiện, xâm hại các qua
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA KINH TẾ & QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC
BÀI TẬP NHÓM Môn: Pháp luật đại cương
Bùi Huyền Trang - 11218155
Nguyễn Thị Thu Trang - 11218159
Lớp: Quản trị nhân lực 63A
Ngày 02 tháng 12 năm 2021
Trang 2Bài làm 2
Câu 1 Phân tích hành vi vi phạm pháp luật và hành vi trái pháp luật Cho ví dụ minh họa? Phân tích cấu thành của vi phạm pháp luật? Mỗi loại vi phạm pháp luật lấy một ví dụ cụ thể để minh hoạ? 2
I Hành vi vi phạm pháp luật và hành vi trái pháp luật 2
1 Hành vi vi phạm pháp luật 2
2 Hành vi trái pháp luật 5
3 Phân việt hành vi trái pháp luật và hành vi vi phạm pháp luật 6
II Cấu thành của vi phạm pháp luật 7
1 Chủ thể của vi phạm pháp luật 7
2 Khách thể của vi phạm pháp luật 8
3 Mă ̣t chủ quan của vi phạm pháp luâ ̣t 8
4 Mặt khách quan của vi phạm pháp luật 9
Câu 2: So sánh và nêu mối quan hệ giữa trách nhiệm pháp lý và chế tài của quy phạm pháp luật Cho ví dụ minh họa? 15
I So sánh trách nhiệm pháp lý và chế tài của quy phạm pháp luật 15
II Mối quan hệ giữa trách nhiệm pháp lý và chế tài của quy phạm pháp luật 18
Nguồn tham khảo……… 20
Trang 3Bài làm Câu 1 Phân tích hành vi vi phạm pháp luật và hành vi trái pháp luật Cho ví dụ minh họa? Phân tích cấu thành của vi phạm pháp luật? Mỗi loại vi phạm pháp luật lấy một ví dụ cụ thể để minh hoạ?
I Hành vi vi phạm pháp luật và hành vi trái pháp luật
1 Hành vi vi phạm pháp luật
1.1 Định nghĩa
Những dấu hiệu vi phạm pháp luật:
- Thứ nhất, vi phạm pháp luật luôn luôn là một hành vi (hành động hoặc không hành động) của con người
- Thứ hai, vi phạm pháp luật là hành vi trái với các quy định của pháp luật
- Thứ ba, vi phạm pháp luật là hành vi chứa đựng lỗi của chủ thể hành vi
- Thứ tư, chủ thể thực hiện hành vi có năng lực chịu trách nhiệm pháp lý
Từ các dấu hiệu cơ bản đó có thể khái niệm, vi phạm pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật và có lỗi do chủ thể có năng lực hành vi thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
1.2 Các dấu hiệu vi phạm pháp luật.
1) Vi phạm pháp luật luôn luôn là một hành vi (hành động hoặc không hành động) của con người Pháp luật được đặt ra để điều chỉnh hành vi, cách xử sự của con người Nói cách khác, điều mà pháp luật quan tâm là hành vi, cách xử sự của con người Vì vậy, không thể coi là vi pham pháp luật đối với các suy nghĩ, các
sở thích các nhân, các đặc tính cá nhân khác của một người nếu nó chưa biểu hiện thành các hành vi cụ thể của các cá nhân hoặc thành hoạt động của một cơ quan, tổ chức
Mác đã từng nói: “Ngoài hành vi của tôi ra, tôi không tồn tại đối với pháp luật, không phải là đối tượng của nó” Vì vậy, phải căn cứ vào hành vi thực tế của các chủ thể mới có thể xác định được là họ thực hiện pháp luật hay vi phạm pháp luật
Hành vi xác định này có thể được thực hiện bằng hành động hoặc bằng không hành động
Trang 4Ví dụ:
- Hành vi vi phạm pháp luật thực hiện bằng hành động:
Ông A khi đang tham gia giao thông bằng xe máy và gặp đèn đỏ, do vội về nhà
và thấy đường tương đối vắng, ông A đã quyết định vượt đèn đỏ
Hành vi của ông A là hành vi vi phạm pháp luật, thuộc loại vi phạm hành chính Nhận thấy ông A là một người hoàn toàn bình thường, có khả năng nhận thức vàchịu trách nhiệm trước hành vi mình gây ra, hiểu rõ luật giao thông nhưng vẫn
cố ý gây ra lỗi, đã xâm phạm đến quan hệ pháp luật xác lập và bảo vệ
- Hành vi vi phạm pháp luật thực hiện không bằng hành động:
Công ty B bị phát hiện sử dụng hoá đơn, chứng từ không hợp pháp; hoá đơnkhông có giá trị sử dụng để kê khai thuế làm giảm số thuế phải nộp Số tiềncông ty B đã trốn thuế là 3 tỷ VNĐ
Hành vi trên là hành vi vi phạm pháp luật thuộc loại vi phạm hình sự
Nhận thấy hành vi trốn thuế của công ty B là hành vi mang tính nghiêm trọng,công ty B biết rõ hành vi trốn thuế của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vì
vụ lợi vẫn cố tình thực hiện tội phạm.
2) Vi phạm pháp luật không những là hành vi xác định của con người mà hành vi
đó phải trái với các quy định của pháp luật, xâm hại tới các quan hệ xã hội đượcpháp luật bảo vệ Tính trái pháp luật đó có thể biểu hiện ở những việc:
- Chủ thể thực hiện những hành vi bị pháp luật cấm
Ví dụ:
Anh M cùng anh N khi đi chơi về muộn gặp cảnh sát giao thông kiểm tra giấy tờ xe, do không mang đủ nên 2 anh lựa chọn cách chạy trốn khỏi công
an Khi bị truy đuổi, 2 anh đã đi xe máy vào đường ngược chiều
Hành vi đi xe máy vào đường ngược chiều là hành vi vi phạm hành chính.Anh M và N là người hoàn toàn bình thường, có khả năng nhận thức và chịu trách nhiệm trước hành vi của mình, dù hiểu rõ luật giao thông và thấy biển báo cấm đi ngược chiều nhưng vẫn cố chấp vi phạm
Trang 5- Chủ thể không thực hiện những điều phải làm theo quy định của pháp luật.
Ví dụ: trốn tránh nghĩa vụ phụng dưỡng ông bà, cha mẹ
Ông bà C và D có một người con trai là anh H, hiện nay ông bà đã lớn tuổi, hết khả năng lao động, cần nhờ đến sự chăm sóc của anh H nhưng anh H lại ham mê chơi bời, cảm thấy việc phụng dưỡng cha mẹ quá phiền phức nên anh H đã bỏ mặc cha mẹ ở một mình và không chu cấp hay chăm sóc gì Anh
H đã cố ý trốn tránh trách nhiệm phải phụng dưỡng cha mẹ khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu
Việc làm của anh H là hành vi vi phạm Luật hôn nhân gia đình, thuộc loại vi phạm hình sự
- Chủ thể sử dụng quyền hạn vượt quá giới hạn cho phép
Ví dụ: trưởng thôn bán đất công cho một số cá nhân nhất định.
Ông T là bí thư chi bộ thôn đã tự ý bán đất công của thôn cho 4 hộ gia đình khác nhằm trục lợi
Hành vi của ông T là hành vi vi phạm dân sự, tội danh “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ ”
Ông T là một người có khả năng chịu trách nhiệm, là người đại diện cho cộng đồng cư dân trong thôn nhưng lại vì lợi ích cá nhân mà vi phạm, dù là người hiểu luật nhưng vẫn cố tình vi phạm
3) Vi phạm pháp luật phải là những hành vi có chứa đựng lỗi của chủ thể hành vi
Để xác định hành vi vi phạm pháp luật phải xem xét cả mặt chủ quan của hành
vi, tức là xác định lỗi của họ là biểu hiện trạng thái tâm lý của người thực hiện hành vi đó Trạng thái tâm lý đó có thể là cố ý hay vô ý Nếu một hành vi trái pháp luật được thực hiện do những điều kiện và hoàn cảnh khách quan mà chủ thể hành vi đó không thể ý thức hoặc lường trước được thì họ không thể bị coi
là có lỗi, và do đó không thể bị coi là vi phạm pháp luật
Ví dụ:
- Hành vi vi phạm pháp luật do cố ý: A 30 tuổi, A dùng tay sử dụng điện thoại
di động khi đang điều khiển xe chạy trên đường
Nhận thấy, anh A là một người hoàn toàn bình thường, hiểu rõ luật giao thông, có nhận thức rõ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình; thấytrước hậu quả của hành vi đó đó có thể xảy ra, nhưng vẫn cố ý gây ra lỗi có
Trang 6ý thức để mặc hậu quả xảy ra, đã xâm phạm đến quan hệ pháp luật xác lập
và bảo vệ
- Hành vi vi phạm pháp luật do vô ý: ông P có đặt bẫy điện ở ngoài đồng để
bẫy chuột Nhưng không may anh Q ra đồng buổi tối và giẫm phải bẫy điện
và bị giật tử vong
Nhận thấy, ông P là một người hoàn toàn bình thường, không cố ý khiến anh
Q tử vong nhưng vì cẩu thả đã không thấy trước hậu quả gây ra cho xã hội mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước được
4) Vi phạm pháp luật phải là hành vi của chủ thể có năng lực chịu trách nhiệm pháp lý Trong pháp luật, sự độc lập gánh chịu trách nhiệm pháp lý chỉ quy địnhdối với những người có khả năng tự lựa chọn được cách xử sự và có sự tự do ý chí, tức là người đó phải có khả năng nhận thức, điều khiển được hành vi của mình Vì vậy, những hành vi mặc dù trái pháp luật nhưng do những người không có năng lực hành vi, người mất năng lực hành vi thực hiện thì vẫn không
bị coi là vi phạm pháp luật
Năng lực trách nhiệm pháp lý của chủ thể: là khả năng mà pháp luật quy định
cho chủ thể phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình
Theo quy định của pháp luật, chủ thể là cá nhân sẽ có năng lực này khi đạt đến một độ tuổi nhất định và trí tuệ phát triển bình thường Đó là độ tuổi mà sự pháttriển về trí lực và thể lực đã cho phép chủ thể nhận thức được hành vi của mình
và hậu quả của hành vi đó gây ra cho xã hội nên phải chịu trách nhiệm về hành
vi của mình Chủ thể là tổ chức sẽ có khả năng này khi được thành lập hoặc được công nhận
Ví dụ:
- Hành vi của chủ thể có năng lực chịu trách nhiệm pháp lý: A 20 tuổi, đã đi làm A vì có xích mích với B nên muốn dạy cho B một bài học, một hôm A hẹn B ra chỗ vắng người và dùng gậy đánh B một trận khiến B bị thương khá nặng, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 20%
Nhận thấy, A đã đạt độ tuổi trưởng thành về mặt pháp lý, phát triển bình thường và nhận thức được hành vi cũng như hậu quả của hành vi mình gây
ra nên A có năng lực chịu trách nhiệm pháp lý
Trang 7- Hành vi của chủ thể không có năng lực chịu trách nhiệm pháp lý: chị H mắcbệnh tâm thần, trong lúc các bác sĩ điều trị, chị H dung cốc thủy tinh và gây thương tích nặng cho một bác sĩ.
Nhận thấy, chị H không có trí tuệ phát triển bình thường và không nhận thức được hành vi cũng như hậu quả của hành vi mình gây ra nên chị H không có năng lực trách nhiệm pháp lý
2 Hành vi trái pháp luật
Hành vi trái pháp luật là việc thực hiện không đúng theo quy định của pháp luật, được thể hiện dưới một trong ba dạng hành vi sau:
- Thực hiện hành vi mà pháp luật cấm
- Không thực hiện hành vi mà pháp luật bắt buộc phải thực hiện
- Thực hiện hành vi vượt quá phạm vi pháp luật cho phép thực hiện
Như vậy có thể thấy đặc trưng để xác định một hành vi có được coi là hành vi trái pháp luật hay không chính là “trái pháp luật” Trái ở đây là sai trái, theo từ điển tiếng Việt thì sai trái được hiểu là hành vi đi ngược lại với lẽ phải, làm những điều không đúng đắn, không đúng với đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục của Việt Nam
Trái pháp luật là việc thực hiện ngược lại với quy định của pháp luật được nhà nước đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội Các quy phạm pháp luật được ghi nhận trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam cũng như điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Theo quy định tại điều 4, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 quy định, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam gồm có Hiến pháp; Bộ luật, luật; Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam; Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; Nghị định của Chínhphủ; nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam; Quyết định của Thủ tướng Chính Phủ; Quyết định của Ủy ban nhân dân các cấp; Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp
Một người thực hiện trái với những quy định được quy định trong hệ thống văn bản pháp luật trên sẽ được coi là hành vi trái pháp luật
Trang 83 Phân việt hành vi trái pháp luật và hành vi vi phạm pháp luật
Có phải mọi hành vi trái pháp luật đều được coi là hành vi vi phạm pháp luật? Câu trả lời là không
Vi phạm pháp luật được định nghĩa như sau: Vi phạm pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật và có lỗi do chủ thể có năng lực hành
vi thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
Một hành vi được xác định là vi phạm pháp luật khi đáp ứng đủ các yếu tố sau:
- Là hành vi trái pháp luật
- Chứa đựng lỗi của chủ thể hành vi
- Do chủ thể có đủ năng lực pháp lý thực hiện, có khả năng chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật
- Hành vi đó xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ
Như vậy có thể thấy được rằng hành vi trái pháp luật và vi phạm pháp luật là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau Hành vi trái pháp luật chỉ là một trong những điều kiện cần để cấu thành hành vi vi phạm pháp luật Ngoài yếu tố có hành vi trái phápluật, một hành vi được xác định là vi phạm pháp luật nếu hành vi đó do người có năng lực hành vi dân sự thực hiện, có khả năng chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật
16 tuổi trở lên Có yếu tố lỗi trong khi thực hiện hành vi trái pháp luật
Như vậy có thể hiểu một cách đơn giản hành vi trái pháp luật là việc thực hiện trái với quy định của pháp luật
Còn vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật kèm thêm các yếu tố về năng lực chủ thể, độ tuổi, lỗi và xâm phạm đến quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ mới được xác định là vi phạm pháp luật
Trang 9II Cấu thành của vi phạm pháp luật
- Vi phạm pháp luật là một loại sự kiện pháp lý đặc biệt (Mục 2.6.1- Giáo trình đại cương về nhà nước và pháp luật)
- Cấu thành vi phạm pháp luật là những dấu hiệu đặc trưng của một vi phạm phápluật cụ thể
Vi phạm pháp luật bao gồm 4 yếu tố cấu thành là mặt chủ thể, mặt khách thể,
mặt chủ quan và khách quan
1 Chủ thể của vi phạm pháp luật
Chủ thể của vi phạm pháp luật là cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý
và đã thực hiện hành vi trái pháp luật Năng lực trách nhiệm pháp lý của chủ thể vi phạm pháp luật được xem xét đối với từng loại vi phạm pháp luật cụ thể Mỗi loại
vi phạm pháp luật đều có cơ cấu chủ thể riêng tùy thuô ̣c vào mức đô ̣ xâm hại các quan hê ̣ xã hô ̣i được pháp luâ ̣t bảo vê ̣
2 Khách thể của vi phạm pháp luật
Khách thể của vi phạm pháp luật à những quan hệ xã hội đang được pháp luật bảo
vệ nhưng bị hành vi trái pháp luật xâm hại tới Tính chất của khách thể vi phạm pháp luật cũng là một yếu tố đánh giá mức độ nguy hiểm trong hành vi trái pháp luật, là mô ̣t trong những căn cứ để phân loại hành vi vi phạm pháp luâ ̣t
3 Mă ̣t chủ quan của vi phạm pháp luâ ̣t
Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật là lỗi của người vi phạm pháp luật, gồm lỗi,
đô ̣ng cơ, mục đích vi phạm pháp luâ ̣t:
- Lỗi là một trạng thái tâm lý thể hiện thái độ tiêu cực của chủ thể đối với hậu
quả xấu trong hành vi của mình (nhìn thấy trước được hậu quả xấu trong hành
vi của mình mà vẫn thực hiện) và trong chính hành vi đó (hành vi chủ động, có
ý thức….) tại thời điểm chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật đó
Lỗi được chia thành hai loại: cố ý và vô ý
Lỗi cố y gồm:
o Lỗi cố y trực tiếp: là lỗi của một chủ thể khi thực hiện hành vi trái pháp
luật nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước được hậu quả của hành vi đó và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra
Trang 10o Lỗi cố y gián tiếp: là lỗi của một chủ thể khi thực hiện một hành vi trái
pháp luật nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước đượchậu quả của hành vi đó, tuy không mong muốn song có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra
Lỗi vô y gồm:
o Lỗi vô y do cẩu thả: là lỗi của một chủ thể đã gây ra hậu quả nguy hại
cho xã hội nhưng do cẩu thả nên không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả đó, mặc dù có thể thấy trước và phải thấy trước hậu quả này
o Lỗi vô y vì quá tự tin: là lỗi của một chủ thể tuy thấy trước hành vi của
mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội song tin chắc rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được nên mới thực hiện và
có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội
- Động cơ là cái thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
- Mục đích là kết quả cuối cùng mà chủ thể vi phạm pháp luật mong đạt tới khi
thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
4 Mặt khách quan của vi phạm pháp luật
Là những biểu hiê ̣n ra bên ngoài thế giới khách quan của vi phạm pháp luâ ̣t Nó
bao gồm: hành vi trái pháp luâ ̣t, sự thiê ̣t hại về vật chất hoặc tinh thần mà xã hội gánh chịu và mối quan hê ̣ nhân quả giữa hành vi trái pháp luâ ̣t và sự thiê ̣t hại cho
xã hô ̣i, thời gian, địa điểm, công cụ vi phạm
Trước hết phải xác định xem vụ viê ̣c vừa xảy ra có phải do hành vi của con người hay không, nếu phải thì hành vi đó có trái pháp luâ ̣t không, nếu trái pháp luâ ̣t thì trái như thế nào, sự thiê ̣t hại cho xã hô ̣i là những tổn thất về vâ ̣t chất hoă ̣c tinh thần
do hành vi trái pháp luâ ̣t gây ra
- Hành vi trái pháp luật hay còn gọi là hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi
trái với các yêu cầu của pháp luật, nó gây ra hoặc đe dọa gây ra những hậu quả nguy hiểm cho xã hội
Trang 11- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội: là những thiệt hại về người và của hoặc những
thiệt hại phi vật chất khác do hành vi trái pháp luật gây ra cho xã hội
- Quan hê ̣ nhân quả giữa hành vi trái pháp luâ ̣t và sự thiê ̣t hại cho xã hô ̣i là
viê ̣c xác định xem hành vi trái pháp luâ ̣t có phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới sự thiê ̣t hại cho xã hô ̣i hay không và sự thiê ̣t hại cho xã hô ̣i có phải kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luâ ̣t hay không, vì thực tế có trường hợp hành vi trái pháp luâ ̣t không trực tiếp gây ra sự thiê ̣t hại cho xã hô ̣i, mà sự thiê ̣t hại đó
do nguyên nhân khác Ngoài ra con phải xác định: thời gian vi phạm pháp luâ ̣t
là giờ, ngày, tháng, năm nào Địa điểm vi phạm pháp luâ ̣t là ở đâu Phương tiê ̣n thực hiê ̣n hành vi vi phạm pháp luâ ̣t là gì
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội tức là
giữa chúng phải có mối quan hệ nội tại và tất yếu với nhau Hành vi đã chứa đựng mầm gây ra hậu quả hoặc là nguyên nhân trực tiếp của hậu quả nên nó phải xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian; còn hậu quả phải là kết quả tất yếu của chính hành vi đó mà không phải là của một nguyên nhân khác
Thời gian vi phạm pháp luật là giờ, ngày, tháng, năm xảy ra vi phạm pháp
luật
Địa điểm vi phạm pháp luật là nơi xảy ra vi phạm pháp luật
Phương tiện vi phạm pháp luật là công cụ mà chủ thể sử dụng để thực hiện
hành vi trái pháp luật của mình
Khi xem xét mặt khách quan của vi phạm pháp luật thì hành vi trái pháp luật
luôn luôn là yếu tố bắt buộc phải xác định trong cấu thành của mọi vi phạm pháp luật, còn các yếu tố khác có bắt buộc phải xác định hay không là tùy từng
trường hợp vi phạm Có trường hợp hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng là yếu tố bắt buộc phải xác định, có trường hợp địa điểm vi phạm cũng là yếu tố bắt buộc phải xác định
Vi phạm pháp luật có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau dựa vào các tiêu chí phân loại khác nhau