KHOA KINH TẾ LUẬT LOGISTICS BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN XÂY DỰNG Trình độ đào tạo Đại học Hệ đào tạo Chính quy Ngành Quản trị kinh doanh Chuyên ngành Quản trị kinh doanh quốc tế Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện MSV Bà Rịa Vũng Tàu, tháng 12 năm 2021 MỤC LỤC CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH 5 1 1 Các khái niệm cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp 5 1 2 Ý nghĩa và cơ sở phân tíc.
Trang 1KHOA KINH TẾ - LUẬT - LOGISTICS
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI TỔNG CÔNG TY
CỔ PHẦN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN XÂY DỰNG
Trình độ đào tạo: Đại học
Hệ đào tạo: Chính quy Ngành: Quản trị kinh doanh Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh quốc tế Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
MSV:
Trang 2Bà Rịa- Vũng Tàu, tháng 12 năm 2021MỤC LỤC
Trang 3CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1 Các khái niệm cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp
trọng trong hệ thống tài chính của nền kinh tế thị trường
Về hình thức: tài chính doanh nghiệp là hoạt động gắn liền với doanh nghiệp trong quátrình tạo lập, phân phối và sử dụng nguồn vốn nhằm hướng tới đạt mục tiêu của doanhnghiệp
Về nội dung: tài chính doanh nghiệp là hệ thống các mối quan hệ kinh tế dưới hìnhthức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập nguồn quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trongquá trình hoạt động Các mối quan hệ bao gồm:
b. Báo cáo tài chính: là tập hợp hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế
độ kế toán hiện hành, phản ánh các thông tin kinh tế tài chính chủ yếu củadoanh nghiệp
Báo cáo tài chính là hệ thống kế toán tổng hợp những số liệu từ các chứng từ kế toántheo các chỉ tiêu kinh tế tài chính tổng hợp, phản ánh tình hình tài sản, công nợ, nguồnvốn tại một thời điểm; tình hình sử dụng vốn và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanhcủa một doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định thành tài liệu báo cáo theo quy địnhcủa nhà nước
Báo cáo tài chính có nhiệm vụ rất quan trọng vì nó cung cấp:
trong chuỗi giá trị hoạt động của doanh nghiệp, giúp các bên có cái nhìn tổngquát về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và giúp họ đưa ra các quyết địnhđầu tư tài chính tốt hơn
- Thông tin tài chính cho việc đánh giá khả năng và tính chắc chắn của dòng tiềnmặt vào và ra, tình hình sử dụng tài sản, khả năng thanh toán của doanh nghiệp,
Trang 4các hoạt động làm biến đổi nguồn vốn, các khoản nợ của doanh nghiệp, … giúpcho các nhà quản trị ít kinh nghiệm quản trị có thể căn cứ vào cơ sở khoa họccủa báo cáo để quản trị doanh nghiệp mình tốt hơn.
1.2 Ý nghĩa và cơ sở phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Ý nghĩa của phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp là một hệ thống các phương pháp nhằm đánhgiá tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp tại một thời điểm, mộtthời kỳ doanh nghiệp hoạt động kinh doanh sản xuất nhất định Trên cơ sở đó, giúpcho các nhà quản trị đưa ra các quyết định có căn cứ khoa học, phòng ngừa rủi ro, khaithác các tiềm năng sản xuất kinh doanh trong quá trình lãnh đạo, quản lý doanhnghiệp
Ngoài ra, trong điều kiện sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường tự do có sự quản
lý của nhà nước thì có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanhnghiệp như: các nhà đầu tư, các ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các nhà cung cấp,khách hàng… Mỗi đối tượng đều có những mối quan tâm riêng (như là đầu tư, cho vaykiếm lời; đề xuất tăng gia hạn mức tín dụng mua hàng, khả năng thu nhập và kỳ vọngcủa người lao động, …) nhưng tựu chung lại đều có thể dựa trên việc phân tích báocáo tài chính để có thể quan sát được hoạt động của doanh nghiệp và đưa ra các quyếtđịnh riêng của mình
1.2.2 Cơ sở để phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
1.2.2.1 Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một tài liệu quan trọng của doanh nghiệp Mục đích lập bảngcân đối kế toán là phản ánh tổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp tại thời điểmnhất định Số liệu trên Bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản và nguồnhình thành tài sản và cơ cấu nguồn vốn hình thành các tài sản đó Trên cơ sở các sốliệu sổ sách của bảng cân đối kế toán có thể đánh giá khái quát tình hình tài chính vàhoạt động của doanh nghiệp ở góc độ quy mô phát triển như thế nào
Theo quy định tại Chuẩn mực kế toán “Trình bày Báo cáo tài chính” thì khi lập vàtrình bày Bảng cân đối kế toán phải tuân thủ các nguyên tắc chung về lập và trình bàyBáo cáo tài chính Ngoài ra, trên Bảng cân đối kế toán thì các khoản mục Tài sản, Nợ
Trang 5phải trả phải được trình bày riêng biệt thành ngắn hạn và dài hạn Tùy theo thời hạnchu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp.
Kết cấu bảng cân đối kế toán bao gồm 2 phần: Tài sản, Nguồn vốn Trong đó:
Phần tài sản được chia thành 2 mục:
A – Tài sản ngắn hạn: còn được gọi là tài sản lưu động, là loại tài sản có thời gian sửdụng, luân chuyển hoặc thu hồi ngắn hạn (dưới 1 năm hoặc trong một chu kỳ kinhdoanh), là những loại tài sản mang tính thanh khoản cao
B – Tài sản dài hạn: là loại tài sản có thời gian sử dụng, luân chuyển hoặc thu hồi dàihạn (trên 1 năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh), là những loại tài sản mang tínhthanh khoản thấp
Phần nguồn vốn được chia thành 2 mục:
A Nợ phải trả: là nghĩa vụ của doanh nghiệp phát sinh từ các giao dịch đã qua màdoanh nghiệp phải thanh toán từ nguồn lực tài chính của mình, bao gồm: Nợ ngắn hạn,
1.2.2.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một bảng tổng hợp phản ánh nguồn thu,nguồn chi và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ kế toán
Báo cáo kết quả kinh doanh là tài liệu quan trọng cung cấp số liệu cho người sử dụngthông tin có thể kiểm tra phân tích và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp trong kỳ, so sánh với các kỳ trước và các doanh nghiệp cùng ngành đểnhận biết khái quát kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ và xu hướng vậnđộng nhằm đưa ra các quyết định quản lý và quyết định tài chính phù hợp
Kết cấu Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm 2 phần:
Trang 6- Phần thứ nhất, Lãi (lỗ): phản ánh tình hình kết quả hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp bao gồm hoạt động kinh doanh chính và các hoạt động khác Tất
cả các chỉ tiêu trong phần này đều trình bày số liệu của kỳ trước, tổng số phátsinh trong kỳ báo cáo
phải nộp khác
1.2.2.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh việc hình thành và
sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp Thông tin về lưuchuyển tiền tệ của doanh nghiệp cung cấp cho người sử dụng thông tin có cơ sở đểđánh giá khả năng tạo ra các khoản tiền và việc cung cấp những khoản tiền đã tạo ratrong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 24 “Báo cáo lưu chuyển tiền tệ”, tiền tại quỹ,tiền đang chuyển và các khoản tiền gửi không kỳ hạn, còn các khoản tương đương tiền
là các khoản đầu tư ngắn hạn (không quá 3 tháng kể từ ngày mua khoản đầu tư đó), cókhả năng chuyển đổi dễ dàng thành một lượng tiền xác định và không có nhiều rủi rotrong chuyển đổi thành tiền (kỳ phiếu ngân hàng, tín phiếu kho bạc, chứng chỉ gửi tiền,
…) Doanh nghiệp được trình bày các luồng tiền từ các hoạt động kinh doanh, hoạtđộng đầu tư và hoạt động tài chính theo cách thức phù hợp nhất với đặc điểm kinhdoanh của doanh nghiệp
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
1.3.1 Các yếu tố bên trong
Yếu tố chủ quan tác động rất lớn đến quá trình và kết quả phân tích báo cáo tài chínhdoanh nghiệp, nó bao gồm những yếu tố như:
Trình độ chuyển môn nghiệp vụ của người thực hiện phân tích dữ liệu báo cáo:Ảnh hưởng lớn đến kết quả phân tích báo cáo tài chính, có thể làm giá trị phân tích bịsai lệch, không chính xác và đủ độ tin cậy
Vai trò của nhà quản trị: nhà quản trị cần có sự quan tâm, đánh giá được tầm quantrọng của việc phân tích báo cáo tài chính từ đó mới có sự quan tâm chỉ đạo hợp lý đếnviệc phân tích báo cáo tài chính, sử dụng triệt để giá trị phân tích mang lại để đưa ranhững quyết định hợp lý và hiệu quả Từ cơ sở đó, mới có thể hoàn thiện công tác
Trang 7phân tích tài chính doanh nghiệp nói riêng và hệ thống thông tin quản trị doanh nghiệpnói chung.
Kỹ thuật công nghệ: Sử dụng công nghệ đưa vào trong phân tích giúp cho việcphân tích được nhanh chóng, hữu hiệu, kết quả được chính xác và nhanh hơn Ngoài
ra, giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí, khai thác dữ liệu tốt hơn, giúp nhàquản trị có cái nhìn toàn diện về hoạt động của doanh nghiệp hơn
Công tác kế toán: Bộ phận kế toán thống kê số liệu, thông tin thiết yếu để phục vụcho quá trình phân tích cần phải đảm bảo tính trung thực và hợp lý, kịp thời, kháchquan nhằm tránh cho số liệu phân tích bị sai lệch không theo các nguyên tắc cơ bảncủa kế toán, dẫn đến những định hướng sai trong các quyết định tài chính của doanhnghiệp
1.3.2 Các yếu tố bên ngoài
Hệ thống pháp luật liên quan: chế độ, chính sách kế toán, thuế, … ảnh hưởng lớnđến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các doanhnghiệp quy mô lớn và hoạt động đa ngành nghề Các chính sách này được các nhàphân tích tài chính vận dụng trong quá trình phân tích để đảm bảo tính phù hợp đượcpháp luật công nhận Ngoài ra, các chính sách đó còn có tính định hướng và tạo độnglực cho các công tác phân tích tài chính doanh nghiệp Về mặt tích cực, nó có thể thúcđẩy các doanh nghiệp đặt ra các mục tiêu tài chính để hướng đến Về mặt tiêu cực, nólại là cơ sở để các nhà phân tích điều chỉnh số liệu trong các báo cáo tài chính nhằmtạo ra cái nhìn “lành mạnh” về tình hình tài chính doanh nghiệp
Hệ thống thông tin kinh tế - kế toán: Cần có hệ thống thông tin dữ liệu ngành đểlàm số liệu so sánh, đối chiếu, xem xét tình trạng tài chính của doanh nghiệp đang ởđâu so với ngành Từ đó nhận biết được tình trạng, những vấn đề mà doanh nghiệpđang đối mặt có phải là cá biệt hay là tình trạng chung của tất cả các doanh nghiệpcùng ngành; hay nhận biết vị thế cạnh tranh hiện tại của doanh nghiệp so với các đốithủ cạnh tranh trực tiếp cùng ngành, … từ đó đưa ra những giải pháp phát triển phùhợp Nếu thông tin trong ngành là hư ảo, không chính xác, cũng như số liệu thamchiếu trong phân tích báo cáo tài chính là không thực tế, sẽ dẫn làm tăng độ sai lệchgiữa tính thực tế là tính lý thuyết Từ đó, tạo ra những cái nhận thức sai của các nhàquản trị và dẫn đến những tác dụng ngược, và có thể là tiêu cực cho hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp nói riêng và cho toàn ngành nói chung
Trang 81.4 Kỹ thuật phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
Các kỹ thuật được sử dụng trong phân tích báo cáo tài chính bao gồm: so sánh, đốichiếu, tỷ lệ, phân tích xu hướng, mô hình
Điều kiện so sánh được của các chỉ tiêu đó là phải đảm bảo sự thống nhất về nội dungkinh tế, thống nhất về phương pháp tính toán, về thời gian và đơn vị đo lường
Tùy thuộc vào mục đích phân tích, có thể lựa chọn gốc so sánh cố định về không gianhoặc thời gian Về không gian, có thể so sánh đơn vị này với đơn vị khác, bộ phận nàyvới bộ phận khác, khu vực này với khu vực khác Việc so sánh về không gian thườngđược sử dụng khi cần xác định vị trí hiện tại của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnhtranh, so với số bình quân ngành, bình quân khu vực, … Về thời gian, gốc so sánhđược lựa chọn là các kỳ đã qua (kỳ trước, năm trước) hay kế hoạch, dự toán, …
Quá trình phân tích theo kỹ thuật so sánh có thể thực hiện bằng ba hình thức: so sánhtheo chiều ngang, so sánh theo chiều dọc, hoặc so sánh xu hướng Khi so sánh theochiều ngang, đối chiếu với sự biến động của từng chỉ tiêu có thể phân tích dựa trên các
số tuyệt đối và số tương đối
So sánh bằng số tuyệt đối: là sự phản ánh quy mô của chỉ tiêu nghiên cứu nên khi sosánh bằng số tuyệt đối, các nhà phân tích sẽ thấy được sự biến động về quy mô của chỉtiêu nghiên cứu giữa kỳ (điểm) phân tích với kỳ (điểm) gốc
So sánh bằng số tương đối: khác với số tuyệt đối, khi so sánh bằng số tương đối, cácnhà quản lý sẽ nắm bắt được kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển, xu hướng biếnđộng, quy luật biến động của các chỉ tiêu kinh tế Trong phân tích tài chính, các nhàphân tích thường sử dụng các loại số tương đối sau:
Trang 9- Số tương đối động thái: được dùng để phản ánh nhịp độ biến động hay tốc độbiến động của chỉ tiêu và thường dùng dưới dạng số tương đối định gốc [cốđịnh kỳ gốc: yi/y0 (i=1,n)] và số tương đối liên hoàn [thay đổi kỳ gốc: y(i+1)/yi(i=1,n)].
biến động của mỗi chỉ tiêu khi điều chỉnh một số nhân tố nhất định trong từngchỉ tiêu phân tích về cùng một thời kỳ nhằm phạm vi so sánh hẹp hơn, giảmđược sự khập khiễng của kỹ thuật so sánh Ví dụ: khi đánh giá sự biến động củadoanh thu bán hàng điều chỉnh theo số lượng tiêu thụ thực tế, đánh giá xuhướng biến động của giá trị sản lượng tính theo giá cố định của 1 năm nào đó,
…
1.4.2 Kỹ thuật tỷ lệ
Phân tích tỷ lệ là công cụ thường được sử dụng trong phân tích báo cáo tài chính Sửdụng các tỷ lệ cho phép nhà phân tích đưa ra một tập hợp các con số thống kê để chỉ ranhững đặc điểm tài chính của một tổ chức đang xem xét Trên thực tế, các tỷ lệ được
sử dụng theo 2 phương pháp chính:
Các tỷ lệ cho tổ chức đang xem xét sẽ được so sánh với các tiêu chuẩn chung củangành Có thể có những tiêu chuẩn đặc trưng chung cho ngành thông qua các dịch vụthương mại như của tổ chức Dun and Bradstreet hoặc Robert Morris Associates, hoặcthông qua các hiệp hội thương mại trong trường hợp có sẵn và được thông tin ra đạichúng Hoặc trong trường hợp các tiêu chuẩn là không có, hay các nhà phân tích cónhững mối quan tâm riêng thì các phân tích vẫn có thể tự đưa ra một tiêu chuẩn riêngcho họ bằng cách tính toán các tỷ lệ trung bình cho các công ty đang dẫn đầu thịtrường của ngành Cho dù nguồn gốc của các tỷ lệ là như thế nào cũng cần phải thậntrọng trong việc so sánh giữa các doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác Bởi cácdoanh nghiệp dẫn đầu thị trường thường có quy mô lớn, hoạt động đa ngành nghề và
dễ bị tác động bởi yếu tố lợi ích kinh tế theo quy mô
Các tỷ lệ tài chính ngoài ra còn được phân thành các nhóm chỉ tiêu đặc trưng phản ánhcác nội dung kinh tế cơ bản theo mục tiêu quản trị của doanh nghiệp Đó thường là cácnhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, thanh khoản; tỷ lệ về cơ cấu tài sản và nguồn vốn;
tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh; tỷ lệ về khả năng sinh lời Mỗi nhóm tỷ lệ lại
Trang 10gồm nhiều tỷ lệ riêng lẻ, phục vụ nhiều mục tiêu đo lường khác nhau của nhà phântích.
1.4.3 Kỹ thuật mô hình Dupont
Trong phân tích tài chính, mô hình Dupont thường được sử dụng rất phổ biến để phântích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu hay tỷ số tài chính Trên cơ sở quan sát nhận biếtđược mối liên kết giữa các chỉ tiêu mà các nhà quản trị có thể phát hiện ra những nhân
tố ảnh hưởng chính yếu đến các chỉ tiêu phân tích theo một trình tự logic chặt chẽ, vàcũng trên cơ sở đó nhà quản trị có thể ra các quyết định tài chính hợp lý, nâng cao khảnăng hoạt động trên phạm vi toàn doanh nghiệp Về mặt bản chất thì kỹ thuật này sẽtách một số tổng hợp phản ánh sức sinh lời của doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản(ROA), hay thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) thành tích số của chuỗi các
tỷ số tài chính khác nhau có mối quan hệ nhân quả với nhau Sau đó, dựa trên sự biếnđộng mạnh yếu của các nhân tố tử số và mẫu số, các nhà quản trị có thể phân tích vàtác động đến các nhân tố tử số, mẫu số và cuối cùng làm thay đổi tỷ số tổng hợp đó
1.5 Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp
1.5.1 Phân tích khái quát bảng cân đối kế toán
a Phân tích khái quát tình hình tài sản
Qua bảng phân tích tình hình tài sản ta sẽ có được những nhận thức ban đầu về tài sảncủa doanh nghiệp nói chung và lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp là gì? Sản xuấthay thương mại Sự biến động của từng khoản mục tài sản nói riêng qua các năm củadoanh nghiệp là như thế nào? Doanh nghiệp có đang mở rộng hoạt động kinh doanhsản xuất của mình hay không? Dòng tiền mặt có đảm bảo duy trì thanh khoản củadoanh nghiệp hay không? Hay doanh nghiệp có đang bị đình trệ trong khâu tiêu thụthành phẩm hay không? Qua từng năm
b. Phân tích khái quát tình hình nguồn vốn
Đánh giá tình hình tăng/giảm, biến động kết cấu của nguồn vốn Việcphân tích này cho ta thấy được nguồn vốn của doanh nghiệp cũngnhư các thành phần của nguồn vốn có những sự thay đổi như thếnào, các khoản nợ của doanh nghiệp, nguồn vốn chủ sở hữu biến
Trang 11động ra sao, … trong quá trình doanh nghiệp tiến hành hoạt độngsản xuất kinh doanh.
1.5.2 Phân tích khái quát báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là bảng báo cáo tổng hợp phản ánh kết quả củaquá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ Phân tích đánh giá kháiquát được bắt đầu bằng việc so sánh các chỉ tiêu ở hai kỳ khác nhau để xem xét mức
độ tăng/giảm các chỉ tiêu từ đó đánh giá xu hướng phát triển của doanh nghiệp
Hay, nhà phân tích có thể đánh giá kết cấu và biến động kết cấu, chỉ tiêu doanh thuthuần là quy mô tổng thể, tương ứng với tỷ lệ 100%, các chỉ tiêu khác trong báo cáođược xác định theo cơ cấu chiếm trong quy mô của tổng thể đó
Qua việc xác định các chỉ tiêu, lãi chiếm trong doanh thu thuần bao nhiêu, doanhnghiệp sẽ đánh giá được hiệu quả hoạt động của mình
1.6 Phân tích cân bằng tài chính
Cấu trúc tài chính doanh nghiệp có thể được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau, nhưngthường các nhà quản trị đều xem xét theo nghĩa rộng là về cơ cấu tài sản, nguồn vốn
và mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn dựa trên lĩnh vực hoạt động kinh doanhchính
Cơ cấu tài chính phản ánh tình hình sử dụng vốn, tình hình huy động vốn và chínhsách huy động vốn của doanh nghiệp Đặc biệt là chính sách huy động vốn của doanhnghiệp, một mặt nó phản ánh nhu cầu vốn, mặt khác nó thể hiện mối quan hệ trực tiếpđến an ninh tài chính, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Từ đó, nó cho thấynhững rủi ro cũng như hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Việc phân tích cấu trúc tài chính giúp nhà quản trị nắm được tình hình phân bổ tài sản
và các nguồn tài trợ tài sản, biết được nguyên nhân cũng như các dấu hiệu ảnh hưởngđến cân bằng tài chính Những thông tin phân tich là các căn cứ quan trọng để đưa ranhững quyết định tài chính nhằm đảm bảo tình hình tài chính doanh nghiệp lành mạnhnói riêng và khả năng duy trì hoạt động sản xuất liên tục có hiệu quả nói chung củadoanh nghiệp
Trang 121.6.1 Phân tích cân bằng tài chính dưới góc độ luân chuyển vốn
Việc phân tích dựa vào mức độ an toàn của từng nguồn vốn huy động (VCSH), vốnvay hợp pháp, vốn huy động trong thanh toán tương ứng với tính thanh khoản
Nguồn tài trợ an toàn nhất cho tài sản của doanh nghiệp là VCSH Bởi vì, VCSH là sốvốn của các nhà đầu tư, không phải là khoản nợ nên doanh nghiệp có thể hạn chế đượcgánh nặng trách nhiệm (pháp lý, hiệu quả kinh doanh) trước các bên liên quan (chủ nợ,ngân hàng hay các tổ chức tín dụng) Do vốn thuộc chủ sở hữu nên trước hết toàn bộ
số vốn này của doanh nghiệp nên được sử dụng vào đầu tư ban đầu, mua sắm và trangtrải cho số tài có giá trị lớn, tính thanh khoản thấp phục vụ cho hoạt động của doanhnghiệp trong thời gian dài
Tài sản ban đầu được hiểu là những tài sản được đầu tư bằng VCSH, bao gồm cảTSDH và TSNH ban đầu Số tài sản hình thành trong thanh toán (khoản phải thu do bịcác đơn vị, tổ chức, cá nhân khác chiếm dụng) không thuộc số tài sản ban đầu củadoanh nghiệp
Mối quan hệ cân đối được thể hiện qua đẳng thức:
VCSH = Tài sản ban đầu (2)
Cân đối trên chỉ là cân đối lý thuyết, nghĩa là với số VCSH hiện có, doanh nghiệp đủ
để trang trải cho các loại tài sản ban đầu phục vụ cho các hoạt động chủ yếu mà khôngphải đi vay hoặc đi chiếm dụng Trên thực tế, cân đối này hầu như rất ít xảy ra mà hâunhư xảy ra hai trường hợp:
• VCSH > Tài sản ban đầu
Trường hợp này đồng nghĩa với số VCSH của doanh nghiệp lớn hơn số tài sản banđầu; mức độ an toàn của nguồn tài trợ cao Trong trường hợp này, do một phần VCSH
mà doanh nghiệp đã huy động không được đưa vào đầu tư nên sẽ bị các đơn vị, tổchức cá nhân khác chiếm dụng
• VCSH < Tài sản ban đầu
Trong trường hợp này, số tài sản ban đầu mà doanh nghiệp đã mua sắm, đầu tư lớn hơn
số VCSH mà doanh nghiệp đã huy động Do vậy, để có tài sản ban đầu phục vụ cho
Trang 13các hoạt động, doanh nghiệp phải đi vay hoặc chiếm dụng vốn từ bên ngoài Vì thế,mức độ an toàn của nguồn tại trợ giảm xuống.
Trong quá trình hoạt động, khi VCSH không đáp ứng đủ nhu cầu, doanh nghiệp đượcphép bổ sung vốn bằng cách đi vay thêm Trên góc độ an toàn của nguồn tài trợ tài sản,khoản vay hợp pháp chỉ xếp sau số VCSH Vay hợp pháp trong doanh nghiệp baogồm: các khoản vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn (từ các tổ chức tín dụng, ngânhàng hoặc cá nhân trong và ngoài nước) chưa đến hạn trả và dùng cho các mục đích,hoạt động khác nhau của doanh nghiệp Do vậy, về mặt lý thuyết, ta lại có quan hệ cânđối sau:
VCSH + Vốn vay hợp pháp = Tài sản ban đầu (2)
Tương tự như quan hệ cân đối (1), quan hệ cân đối (2) có thể xảy ra 2 trường hợp phổbiến:
Trường hợp này nghĩa là số VCSH và vốn vay hợp pháp mà doanh nghiệp đã huy độngvượt quá số tài sản ban đầu đã đầu tư, là không sử dụng hết số vốn đã huy động Mặc
dù mức độ an toàn của nguồn tài trợ cao nhưng do không sử dụng hết số vốn có thể tàitrợ tài sản nên doanh nghiệp trong rơi vào trạng thái dư thừa vốn và sẽ bị chiếm dụngvốn
Trường hợp này, lượng tài sản ban đầu phục vụ cho các hoạt động của doanh nghiệplớn hơn số VCSH và vốn vay hợp pháp Do vậy, để có đủ tài sản dùng cho sản xuấtkinh doanh, doanh nghiệp buộc phải đi chiếm dụng vốn trong thanh toán (chiếm dụngvốn hợp pháp và bất hợp pháp Điều này ảnh hưởng đến mức độ an toàn của nguồn tàitrợ có xu hướng giảm xuống Trong đó, chiến dụng vốn hợp pháp được hiểu là doanhnghiệp có đủ khả năng thanh toán nhưng lại không thanh toán khoản nợ trước hạn phảitrả.)
Các quan hệ chiếm dụng vốn lẫn nhau diễn ra đồng thời Tuy mức độ có thể khácnhau, tùy thuộc thời điểm nhưng hầu như luôn tồn tại và trở thành đặc trưng của hoạtđộng kinh doanh của nền kinh tế thị trường Chính vì vậy, trong mọi trường hợp, quan
Trang 14hệ cân đối giữa tài sản của doanh nghiệp (tài sản ban đầu và tài sản phát sinh trongthanh toán) và nguồn tài trợ có thể xem xét dưới đẳng thức sau:
VCSH = Vốn vay hợp pháp + Nguồn vốn phát sinh trong thanh toán = Tài sảnban đầu + Tài sản phát sinh trong thanh toán (3)
Nguồn vốn phát sinh trong thanh toán là toàn bộ số vốn mà doanh nghiệp đi chiếmdụng của các tổ chức, đơn vị, cá nhân trong quan hệ thanh toán và doanh nghiệp phải
có trách nhiệm chi trả (trừ vốn vay hợp pháp) Nguồn vốn này bao gồm nợ phải trảngắn hạn, nợ phải trả dài hạn
Đây là toàn bộ số nợ mà doanh nghiệp chiếm dụng phát sinh trong quá trình hoạt độngnhư: Nợ phải trả người bán, người nhận thầu, người cung cấp dịch vụ; tiền đặt trướccủa người mua; nợ phải trả người lao động; nợ phải trả nội bộ; các khoản phải nộp nhànước; doanh thu nhận trước; các khoản phải nộp cơ quan quản lý quỹ bảo hiểm xã hội;kinh phí công đoàn, bảo hiểm y tế, …
Tài sản phát sinh trong thanh toán về thực chất là số nợ phải thu hay số tài sản củadoanh nghiệp nhưng bị các đối tác chiếm dụng, doanh nghiệp có trách nhiệm phải thuhồi Thuộc tài sản phát sinh trong thanh toán gồm tài sản thanh toán ngắn hạn, tài sảnthanh toán dài hạn: Phải thu người mua; tiền đặt trước cho người bán; tạm ứng chongười lao động; thuế giá trị gia tăng được khấu trừ; các khoản phải thu nội bộ; …
Ta có: VCSH + Vốn vay hợp pháp – Tài sản ban đầu = Tài sản phát sinh trong thanhtoán – Nguồn vốn phát sinh trong thanh toán
Do tài sản phát sinh trong thanh toán chính là số nợ phải thu trong thanh toán và nguồnvốn phát sinh trong thanh toán là số nợ phải trả trong thanh toán, nên cân đối có thểđược viết lại như sau:
VCSH + Vốn vay hợp pháp – Tài sản ban đầu = Nợ phải thu – Nợ phải trả (4)Cân đối trên cho thấy: Khi phần chênh lệch giữa VCSH và vốn vay hợp pháp lớn hơn
số tài sản ban đầu, lượng vốn dư thừa không được sử dụng đến sẽ bị các đơn vị, tổchức, cá nhân khác chiếm dụng Mức vốn bị chiếm dụng đúng bằng phần chênh lệchgiữa số nợ phải thu với số nợ phải trả trong thanh toán Mức độ vốn bị chiếm dụngđúng bằng phần chênh lệch giữa số nợ phải thu với số nợ phải trả trong thanh toán
Trang 15Mức độ chênh lệch nói trên càng lớn, mức độ an toàn của nguồn tài trợ càng cao và sốvốn mà doanh nghiệp chiếm dụng lại càng nhiều Ngược lại, khi phần chênh lệch giữa
số VCSH và vốn vay hợp pháp nhỏ hơn số tài sản ban đầu, lượng tài sản dư ra sẽ đượcdoanh nghiệp đáp ứng hay tài trợ từ nguồn vốn chiếm dụng từ các đơn vị kinh doanhkhác Số vốn đi chiếm dụng đúng bằng số chênh lệch giữa nợ phải trả lớn hơn nợ phảithu phát sinh trong quá trình thanh toán Mức độ chênh lệch càng lớn, số vốn doanhnghiệp chiếm dụng từ khâu thanh toán càng nhiều, mức độ an toàn của nguồn tài trợcũng giảm
1.6.2 Phân tích cân bằng tài chính dưới góc độ ổn định nguồn tài trợ
Phân tích cân bằng tài chính theo góc độ ổn định nguồn tài trợ hay đảm bảo vốn kinhdoanh được thực hiện dựa trên cơ sở phân chia nguồn hình thành nên tài sản sử dụngtrong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thành hai loại tương ứng với thời gian luânchuyển tài sản là Nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn
Nguồn vốn ngắn hạn là nguồn tài trợ mà doanh nghiệp sử dụng tạm thời vào hoạt độngtrong một thời gian ngắn nên còn gọi là nguồn tài trợ tạm thời Thuộc nguồn vốn ngắnhạn (nguồn tài trợ tạm thời) bao gồm: các khoản nợ ngắn hạn; vay ngắn hạn; cáckhoản vay – nợ quá hạn (kể cả vay – nợ dài hạn quá hạn); các khoản chiếm dụng bấthợp pháp của người bán, người mua, người lao động
Nguồn vốn dài hạn là nguồn vốn mà doanh nghiệp được sử dụng lâu dài trong quátrình hoạt động Nguồn vốn này thường xuyên tồn tại ở doanh nghiệp trong một chu
kỳ kinh doanh để tài trợ cho tài sản sử dụng vào hoạt động doanh nghiệp Vì vậy,nguồn vốn dài hạn còn gọi là nguồn tài trợ thường xuyên Thuộc nguồn vốn dài hạn(nguồn vốn tài trợ thường xuyên) bao gồm: vốn chủ sở hữu; vốn vay dài hạn; vốnthanh toán dài hạn, trung hạn (trừ vay – nợ quá hạn)
Mặt khác, khi quan sát chu trình tài chính của doanh nghiệp được biểu hiện qua sơ đồ1.1 Sơ đồ chu trình tài chính doanh nghiệp
Trang 16Sơ đồ 1.1 Sơ đồ chu trình tài chính doanh nghiệp
Qua sơ đồ trên, có thể thấy rõ 2 nghiệp vụ là tài trợ (gồm tạo vốn và đầu tư) và phânchia thu nhập Việc phân chia thu nhập diễn ra sau hoạt động tài trợ một thời gian nhấtđịnh Điều này xác định nguyên tắc cơ bản để bảo đảm cân bằng tài chính là: “Tài sảnđược tài trợ trong một thời gian không thấp hơn thời gian chuyển hóa tài sản ấy” nóicách khác: “Thời gian của nguồn vốn tài trợ phải không thấp hơn tuổi thọ của tài sảnđược tài trợ” Như vậy, khi tính đến độ an toàn, ổn định trong việc tài trợ, nguyên tắccân bằng tài chính đòi hỏi: Tài sản dài hạn chỉ được tài trợ bởi nguồn vốn dài hạn(nguồn tài trợ thường xuyên); nguồn vốn ngắn hạn (nguồn tài trợ tạm thời) chỉ tài trợcho tài sản ngắn hạn
Dưới góc độ này, cân bằng tài chính có thể được thể hiện qua đẳng thức:
Tài sản ngắn hạn + Tài sản dài hạn = Nguồn vốn tài trợ thường xuyên + Nguồnvốn tài trợ tạm thời (5)