PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI VÀ TIÊU THỤ GIA CẦM TRÊN ĐỊA BÀN XÃ ĐÔNG DƯƠNG, HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Trong bối cảnh ngành chăn nuôi nói chung, chăn nuôi gia cầm nói riêng chịu ảnh hưởng nhất định của các biến động kinh tế xã hội, hiệu quả kinh tế luôn là mối lo hàng đầu của các hộ nông dân. Do đó việc nghiên cứu phát triển chăn nuôi gia cầm, đánh giá hiệu quả kinh tế, phân bố các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi gia cầm là cần thiết. Xuất phát từ những lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Phát triển chăn nuôi và tiêu thụ gia cầm trên địa bàn xã Đông Dương, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình”.
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHOA KẾ TOÁN & QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2HÀ NỘI - 2022
Trang 3HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHOA KẾ TOÁN & QUẢN TRỊ KINH DOANH
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI VÀ TIÊU THỤ GIA CẦM TRÊN ĐỊA BÀN XÃ ĐÔNG DƯƠNG, HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH
THÁI BÌNH
Tên sinh viên: PHẠM VĂN TUẤN
Chuyên ngành đào tạo: KINH DOANH NÔNG NGHIỆP
Lớp: K63 – KDNNA
Giảng viên hướng dẫn: Th.S ĐOÀN THỊ NGỌC THUÝ
HÀ NỘI - 2022
Trang 5PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn đang được xem như làmột giải pháp khả thi, cần thiết và cấp bách đối với sự nghiệp CNH – HĐH ở nước
ta Chăn nuôi là một ngành sản xuất chính và là một trong những bộ phận cấuthành nền nông nghiệp nước ta, có từ lâu đời và chủ yếu của hộ nông dân ở nước
ta Chăn nuôi được coi là ngành sản xuất mang lại nguồn thu nhập chính cho nôngdân giúp họ nâng cao đời sống, xóa đói giảm nghèo và vươn lên làm giàu Đối vớiđặc thù là tỉnh thuần nông nghiệp thuộc đồng bằng Sông Hồng, Thái Bình hiện nay
là tỉnh duy nhất có tỉ trọng giá trị sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm đa
số trong cơ cấu kinh tế vì vậy vấn đề làm sao để chăn nuôi đem lại hiệu quả caovới người nông dân trên địa bàn Tỉnh là rất cần thiết
Chăn nuôi có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm đáp ứng nhucầu con người, góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, khai thác nguồn lực
ở nông thôn Nghề chăn nuôi gia cầm ở tỉnh Thái Bình đã có từ lâu nhưng chủ yếuquy mô nhỏ lẻ, năng suất thấp, trong khi điều kiện để mở rộng quy mô chăn giacầm với số lượng lớn hoàn toàn có thể Đặc biệt nhu cầu thị trường gia cầm thươngphẩm hiện nay rất cần nhưng đàn gia cầm của tỉnh đang có chiều hướng giảm dần.Nguyên nhân là do người dân chưa có nhiều kiến thức, phương pháp chăn nuôi giacầm còn truyền thống
Đông Dương nằm trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ, với khí hậu nhiệt đớigió mùa đặc trưng chia làm hai mùa rõ rệt: mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều từ tháng 3đến tháng 10; mùa lạnh hanh, khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Là một
xã với khí hậu nhiệt đới thích hợp cho việc chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi giacầm Với tiềm năng về đất đai, địa hình cũng như điều kiện tự nhiên khá thuận lợi
để phát triển chăn nuôi gia cầm Bên cạnh đó, nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân
Trang 6công rử, người dân có nhiều kinh nghiệm trong chăn nuôi gia cầm tại địa phương
Tuy nhiên hiện nay số lượng đàn gia cầm tại xã đang suy giảm do người dân tình hình dịch bệnh phức tạp, quy mô chăn nuôi còn nhỏ lẽ dẫn đến hiệu quả kinh
tế còn chưa cao Thị trường tiêu thụ còn hạn chế do người dân chưa tìm được nơi
tiêu thụ, xa thị trường lớn cũng là nguyên nhân khiến cho các hộ gia đình khôngphát triển chăn nuôi gia gia cầm
Trong bối cảnh ngành chăn nuôi nói chung, chăn nuôi gia cầm nói riêng chịuảnh hưởng nhất định của các biến động kinh tế xã hội, hiệu quả kinh tế luôn là mối
lo hàng đầu của các hộ nông dân Do đó việc nghiên cứu phát triển chăn nuôi giacầm, đánh giá hiệu quả kinh tế, phân bố các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chănnuôi gia cầm là cần thiết Xuất phát từ những lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Phát triển chăn nuôi và tiêu thụ gia cầm trên địa bàn xã Đông Dương, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 7tiêu thụ gia cầm của xã trong thời gian tới góp phần nâng cao thu nhập chocác hộ nông dân.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Tình hình chăn nuôi gia cầm của xã trong những năm qua diễn ra như thếnào? Những khó khăn, thuận lợi mà người chăn nuôi dê gặp phải là gì?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng tới tình hình phát triển chăn nuôi gia cầm củaxã?
- Giải pháp để đẩy mạnh quá trình phát triển chăn nuôi và tiêu thụ gia cầmcho các hộ nông dân là gì?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hộ nông dân chăn nuôi gia cầm trên địa bàn xã Đông Dương, huyệnĐông Hưng, tỉnh Thái Bình
Trang 8ngày 3/2022 đến 4/2022.
Trang 9PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Lý luận về phát triển sản xuất gia cầm
2.1.1.1 Sản xuất
Khái niệm về sản xuất
Sản xuất là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào để tạo rasản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ đầu ra Nếu giả thiết sản xuất sẽ diễn biến mộtcách có hệ thống với trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào một cách hợp lý,người ta mô tả mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra bằng một hàm sản xuất:
Q=f( , ,…, )
Trong đó:
Q là sản lượng sản xuất ra
, ,…, là các yếu tố đầu vào
Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất
- Vốn sản xuất: Đối với quá trình sản xuất nói chung và sản xuất chăn nuôi
nói riêng, vốn là vô cùng quan trọng Trong điều kiện năng suất lao động khôngđổi, khi tăng tổng số vốn sẽ dẫn đến tăng thêm sản lượng sản phẩm hàng hóa
- Lực lượng lao động: Là yếu tố đặc biệt quan trọng của quá trình sản
xuất Mọi hoạt động của sản xuất đều do lao động của con người quyết định, nhất
là người lao động có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm và kỹ năng lao động.Do đóchất lượng lao động quyết định kết quả và hiệu quả sản xuất
- Đất đai: Là yếu tố sản xuất không chỉ có ý nghĩa quan trọng với ngành
Trang 10sản xuất nông nghiệp, mà còn rất quan trọng trong sản xuất công nghiệp và dịch
vụ Đất đai là yếu tố cố định lại bị giới hạn bởi quy mô, nên người ta phải đầu tưthêm vốn và lao động trên một đơn vị diện tích nhằm nâng cao hiệu quả sử dụngđất đai
- Khoa học và công nghệ: Quyết định đến sự thay đổi năng suất lao động
và chất lượng sản phẩm Những phát minh sáng tạo mới được ứng dụng trong sảnxuất đã giải phóng được lao động nặng nhọc, độc hại cho người lao động và tạo ra
sự tăng trưởng nhanh chóng, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế- xã hội
- Ngoài ra còn một số yếu tố khác: Quy mô sản xuất, các hình thức tổ
chức sản xuất, mối quan hệ cân đối tác động qua lại lẫn nhau giữa các ngành, cácthành phần kinh tế, các yếu tố về thị trường nguyên liệu, thị trường tiêu thụ sảnphẩm,… cũng có tác động tới quá trình sản xuất
Vai trò của sản xuất
Sản xuất vật chất giữ vai trò quan trọng quyết định đối với sự tồn tại và pháttriển của xã hội, là hoạt động nền tảng làm phát sinh, phát triển những mối quan hệ
xã hội của con người; nó là cơ sở của sự hình thành, biến đổi và phát triển của xãhội loài người
Xuất phát từ nhân tố “con người hiện thực” C.Mác chỉ ra rằng, tiền đề đầu tiêncủa mọi sự tồn tại của con người đó là việc: “con người ta phải có khả năng sống đãrồi mới làm nên lịch sử” Muốn vậy con người cần có thứ ăn, thức uống, nhà ở, quẩnáo, ,những thứ đó chỉ có thể tạo ra từ sản xuất vật chất
Để tiến hành sản xuất vật chất con người không chỉ có quan hệ với tự nhiên
mà phải có quan hệ với nhau và trên những quan hệ sản xuất này mà phát sinh cácquan hệ khác như: chính trị, đạo đức, pháp luật,…Vì vậy, trong quá trình sản xuấtvật chất không ngừng phát triển tất yếu làm cho sản xã hội không ngừng phát triển
Trang 112.1.1.2 Sản xuất gia cầm
a, Khái niệm
Chăn nuôi (sản xuất) gia cầm là việc thực hành chăn nuôi các loại chimthuần hóa (gia cầm) chủ yếu gồm gà, gà tây nhà, vịt nhà, ngan, ngỗng, bồ câunhà, chim cút và với mục đích nuôi lấy thịt hoặc lấy trứng cung cấp thực phẩmhoặc các sản phẩm khác Nuôi gà cũng là nguồn cung cho trò chơi đá gà (chọi gà),làm cảnh
b, Đặc điểm của gia cầm
Gia cầm nói chung là một trong những nguồn thực phẩm quan trọng và bổdưỡng trong mỗi bữa ăn hàng ngày của toàn thế giới Gia cầm ngày càng được chútrọng để gia tăng số lượng cũng như chất lượng nhằm phục vụ nhu cầu ngày càngcao của con người Đa số gia cầm đều rất dễ thích nghi trong các môi trường sốngkhác nhau, sinh trưởng và phát triển nhanh, trung bình mỗi lứa gia cầm kéo dàikhoảng 2-4 tháng với loại gia cầm nuôi lấy thịt, với gia cầm nuôi lấy trứng sẽ cóthời gian dài hơn khoảng 4-6 tháng Gia cầm thường được nuôi với số lượng lớn tạicác trang trại chăn nuôi, tuy nhiên hình thức chăn nuôi phổ biến tại nước ta hiệnnay là chăn nuôi nhỏ lẻ, rải rác trên khắp các hộ dân tại vùng nông thôn, chủ yếunuôi lấy thịt tự cung cấp chứ không nhằm mục tiêu kinh doanh
Xu hướng hiện nay trên thế giới là thay đổi có cấu chăn nuôi theo hướngtăng tỷ lệ sản lượng thịt gia cầm và giảm tỷ lệ sản lượng thịt lợn làm giảm chi phíthức ăn, giảm tiêu hao nguồn nước Trong cơ cấu chăn nuôi hiện nay thì sản lượngthịt lợn sản xuất ra chiếm tỷ lệ cao nhất (74%), thịt gà đứng thứ hai (17%) và thịt
bò đứng thứ ba (9%)
c, Phân loại Gia cầm
Gia cầm được chia thành nhiều loại như: Gà, vịt, ngan, ngỗng, chim bồ câu,
…Tuy nhiên, đa số chúng có những đặc điểm sinh trưởng và phát triển tương đốigiống nhau Dưới đây là một số loại gia cầm được chăn nuôi phổ biến ở nước ta
Trang 12hiện nay
Gà: Gà (danh pháp hai phần: Gallus gallus, Gallus gallus domesticus) làmột loài chim đã được con người thuần hoá cách đây hàng nghìn năm Một số ýkiến cho rằng loài này có thuỷ tổ từ loài chim hoang dã ở Ấn Độ và loài gà rừnglông đỏ nhiệt đới ở vùng Đông Nam Á Trong thế giới loài chim, gà là loài vật có
số lượng áp đảo nhất với 24 tỉ cá thể (thống kê năm 2003) Con người thường sửdụng thịt gà, trứng gà và lông gà Gà được phân ra các giống chính như sau:
- Gà hướng đẻ trứng
Đặc điểm chung: Đầu thanh, mào đơn to, tích to; thân hình thon, nhỏ, dài;chân cao; xương nhỏ Gà phát dục sớm, gà trống gáy sớm và đạp mái sớm Gà máibắt đầu đẻ trứng khi 16 tuần tuổi Sản lượng trứng cao, 250 – 320 quả/năm
Các giống gà theo hướng đẻ trứng thường có thời gian sinh trưởng và pháttriển trong khoảng 120 -168 ngày trước khi bắt đầu bước vào thời kỳ đẻ trứng.Trứng thường được khai thác tối đa trong khoảng 75-78 tuần tuổi, tỷ lệ đẻ của gàchủ yếu trong khoảng 32-48 tuần tuổi và có xu hướng giảm dần về các tuần cuốicùng
Gà hướng trứng được phổ biến trong nước cũng như trên thế giới bởi chính
ở sản lượng trứng cao của nó (trên 250 trứng/năm) Gà hướng trứng có đặc điểmchung là: Tầm vóc nhỏ, bộ lông dày, sít, ép sát vào thân Mào, tích tai phát triểnlớn Chân nhỏ, cao, không có lông Cơ thể có kết cấu vững chắc, dạng hình thoihay hình chữ nhật dài Sinh trưởng chậm nhưng thành thục về tính sớm (20- 21tuần tuổi) Hoạt động sinh dục mạnh, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ ấp nở cao, không cònkhả năng ấp bóng, thuộc loại thần kinh linh hoạt) Hiện nay phân thành 2 nhóm gà
đẻ trứng đó là gà đẻ trứng vỏ trắng và gà đẻ trứng vỏ màu Tiêu biểu cho các giống
gà hướng trứng là các giống Leghorn (trắng và đỏ), gà trắng Nga, gà Minhorka(Địa Trung Hải)… Trong đó, gà Leghorn là giống chuyên trứng cao sản nhất thếgiới hiện nay Là giống thành thục sớm, gà con đủ lông ở tháng thứ nhất, gà mái
Trang 13bắt đầu đẻ lúc 5-5,5 tháng tuổi, sản lượng trứng trung bình một gà mái trong năm
là 250-280 trứng
- Gà hướng thịt
Gà thịt điển hình có lông trắng và da màu vàng Hầu hết gà thịt thương mạigiống để trọng lượng thịt giết mổ ở giữa tầm 6-10 tuần tuổi, mặc dù chúng tăngtrưởng chậm đạt trọng lượng giết mổ khoảng 14 tuần tuổi Vì độ tuổi khá trẻ này,nhiều hành vi và sinh lý của chúng là của một con chim chưa trưởng thành Gàsống khoảng sáu năm hay hơn, tuy nhiên gà nuôi lấy thịt thông thường chỉ mất sáutuần là đạt được kích cỡ giết thịt Gà nuôi thả vườn hay gà nuôi bằng thực phẩmhữu cơ thường bị giết mổ khi đạt 14 tuần tuổi
Gà hướng thịt có đặc điểm chung là tầm vóc lớn, tốc độ sinh trưởng nhanh,
cơ thể có dạng hình khối vuông, bộ lông phát triển không ép sát vào thân, đầu to,
cổ to ngắn, mỏ to chắc, ngực sâu rộng, lưng dài, rộng, phẳng, đùi lườn phát triển,xương thô, thành thục muộn, bản năng ấp bóng cao nên ản lượng trứng thấp (150-
170 trứng/năm), khối lượng trứng lớn (58-60g/quả), thường có bản năng ấp trứngcao Tỷ lệ thụ tinh và ấp nở thấp Tính tình hiền lành, chậm chạp Đại diện tiêubiểu cho hướng thịt là giống gà Cornic Gà trưởng thành thể trọng con trống là 4,0-4,8kg; con mái 3,4-3,6kg Nuôi thịt 10 tuần tuổi đạt 1,2-1,5kg Sản lượng trứng130-140 quả/năm; trọng lượng trứng 58,06g
- Gà kiêm nghiệm
Các giống gà kiêm nghiệm mang đặc điểm trung gian giữa gà trứng và gàthịt về cấu trúc cơ thể, tầm vóc, sức sản xuất Nhìn chung nó là sản phẩm lai tạogiữa các giống nhẹ cân và nặng cân Một số giống đã nhập vào nước ta có ý nghĩatrong sản xuất là: Gà Rốt đỏ được tạo ra tại bang Rhode island (Mỹ) và mang têncủa bang này Các giống gà khác đưa vào nước ta như Newhampshire, Wyandotte,Sussex… những năm gần đây có nhập thêm các giống gà đẻ trứng vỏ màu nhưGoldline, Moravia…
Trang 14Các loại gia cầm tiêu biểu khác
- Vịt: Vịt là một trong những loài thủy cầm có khả năng lớn nhanh, đẻ
nhiều trứng, kiếm mồi giỏi và ít mắc bệnh Tầm quan trọng lớn nhất của vịt là khảnăng cung cấp thịt, trứng, lông Về mặt giống, căn cứ vào mục đích kinh tế, người
ta chia vịt thành 3 loại hình sản xuất sản phẩm, đó là: Vịt thịt, vịt trứng, vịt kiêmdụng
+ Vịt thịt: Bao gồm các loại vịt có đặc điểm như sau: Tầm vóc cơ thể lớn,tăng trọng nhanh, lúc trưởng thành vịt đực nặng 3,5 - 5,0 kg, vịt mái nặng 3 -3,6kg Chậm chạp, ngại đi lang thang xa nơi cho ăn, ít kêu, dễ nuôi tập trung thànhđàn lớn Đẻ ít, trứng to, sản lượng trứng tối đa 175 quả/ mái/năm, khối lượng trứng
80 - 115g Vịt Bắc Kinh là một trong những giống vịt phổ biến trong chăn nuôinước ta hiện nay Giống vịt này có nguồn gốc từ Bắc Kinh, được nhập vào Mỹnăm 1873 và vào châu Âu cũng trong khoảng thời gian này Ở châu Âu hiện nay đãphát triển thêm hai dòng vịt Bắc Kinh Đức và vịt Bắc Kinh Anh Đặc điểm củagiống vịt này là có tầm vóc lớn,lúc trưởng thành vịt đực nặng khoảng 3,5 - 4kg, vịtmái nặng 3,0 - 3,5kg Vịt lớn nhanh, cơ bắp phát triển tốt, da vàng làm tăng thêm
vẻ ngon cho vịt Sản lượng trứng bình thường Vịt có thân hình gần như thẳngđứng, đầu to tròn, má phụng, mỏ ngắn, chân mập khỏe Khả năng kiếm mồi tươngđối tốt
+ Vịt trứng: Một số đặc điểm trung của loại hình này là: Tầm vóc nhỏ, lúc trưởng thành vịt đực nặng khoảng 2 – 2,3kg, vịt mái nặng khoảng 2kg sản lượng trứng cao 150 – 325 quả/mái/năm Tiêu tốn thức ăn để sản xuất ra một trứng thấp khả năng kiếm mồi rất giỏi Ỏ trên cạn nhiều hơn dưới nước, khả năng tiêu diệt côntrùng và ốc sên tốt
+ Vịt kiêm dụng: Đặc điểm chung của các giống vịt kiêm dụng là: Vịt cókhối lượng cơ thể bình thường Khi trưởng thành, vịt thường có khối lượng cơ thểthấp hơn các giống hướng thịt và lớn hơn các giống hướng trứng; Vịt đực thường
Trang 15nặng 2,6 – 3,7kg, vịt mái nặng 2,2 – 3,1 kg Sản lượng trứng bình quân từ 100 –
200 quả/mái/năm Vịt có khả năng kiếm mồi bình thường Một số giống kiêm dụngđang được nuôi phổ biến ở nước ta hiện nay có thể kể đến là: Vịt Bầu, vịt BạchTuyết, Ngoài ra còn có mộ số giống vịt nội địa như vịt Ô Môn, vịt ĐồngĐăng, song không phải là các giống có tỷ lệ đầu con cao, lại càng không phải cácgiống có năng suất cao thích hợp cho sản xuất hàng hóa hiện nay, bởi vậy nhữnggiống vịt phổ biến hiện nay chủ yếu là giống nhập ngoại với năng suất và chấtlượng cao hơn
- Ngan, ngỗng: Ngan, ngỗng có nguồn gốc từ Nam, Mỹ, được thuần hóa
và đưa về nuôi ở một số nước trên thế giới như Anh, Pháp,… Ngan, Ngỗn thườngđầu nhỏ, trán phẳng, con giống mào to, rộng hơn con mái, màu đỏ tía Khác vớiVịt, tiếng kêu của họ nhà Ngan khan khan, có mồng thịt ở gốc Chúng lớn mạnh,trong khoảng mới nở đến tháng tuổi, con trống nặng 2,9 – 3,0 kg, con mái chỉ nặng1,7 – 1,8 kg
d, Các loại hình chăn nuôi gia cầm hiện nay
Hiện nay, ở nước ta có thể chia các tổ chức chăn nuôi gia cầm thành 3 loại
hình chăn nuôi tương ứng với 3 phương thức chăn nuôi:
- Chăn nuôi hộ gia đình quy mô nhỏ (chăn nuôi truyền thống);
- Chăn nuôi nông hộ, nông trại quy mô vừa (chăn nuôi bán công nghiệp);
- Chăn nuôi trang trại, doanh nghiệp (chăn nuôi công nghiệp);
Chăn nuôi hộ gia đình quy mô nhỏ (chăn nuôi truyền thống)
Đây là phương thức chăn nuôi có từ lâu đời và vẫn tồn tại phát triển ở hầukhắp vùng thôn quê Việt Nam Đặc điểm của phương thức chăn nuôi này là đầu tưvốn ban đầu ít, đàn gia cầm được thả rông, tự tìm kiếm thức ăn là chính và cũng tự
ấp và nuôi con; chuồng trại đơn giản, vườn thả có hoặc không có hàng rào bao che;thời gian nuôi kéo dài (đối với gà thịt thường nuôi tới 6-7 tháng mới đạt khối lượng
Trang 16để giết thịt) Do chăn thả tự do, môi trường chăn nuôi không đảm bảo vệ sinh dịch
tễ khiến đàn gà dễ mắc bệnh, dễ chết nóng, chết rét, tỷ lệ nuôi sống thấp, hiệu quảkinh tế không cao Tuy vậy, phương thức chăn nuôi này có những ưu điểm nhấtđịnh phù hợp với các giống gà địa phương, chất lượng thịt gà thơm ngon, vốn đầu
tư không đòi hỏi lớn (chủ yếu là tiền mua giống ban đầu) Chính vì thế mà đối vớicác nông hộ nghèo phương thức chăn nuôi này dễ áp dụng và hộ nào cũng có thểnuôi vài ba chục con gia cầm Mặc dù chưa đạt năng suất cao và hiệu quả kinh tếthu được chưa lớn, song hầu hết số hộ lao động nông nghiệp thường áp dụngphương thức chăn nuôi này bởi vậy hàng năm đã sản xuất ra khoảng 65% số lượngđầu con gà thịt ở Việt Nam (Theo Viện chăn nuôi Việt Nam)
Chăn nuôi nông hộ, nông trại quy mô vừa (Chăn nuôi bán công nghiệp)
Đây là phương thức chăn nuôi có sự kết hợp khá nhuần nhuyễn những kinhnghiệm nuôi gia cầm truyền thống và kỹ thuật nuôi dưỡng tiên tiến Điều đó cónghĩa là chế độ dinh dưỡng và quá trình phòng bệnh cho đàn gà đã được coi trọnghơn Mục tiêu của chăn nuôi mang đậm tính sản xuất hàng hóa, chứ không thuầntúy là sản xuất tự cung tự cấp Gia cầm được nuôi theo từng lứa, mỗi lứa 200 đến
500 con (Theo viên chăn nuôi Việt Nam) Để áp dụng phương thức chăn nuôi này,ngoài yêu cầu phải có vườn rộng được bao bọc bởi hàng để thả gia cầm lúc thời tiếtđẹp thì cần phải đầu tư xây dựng và mua sắm chuồng trại, các dụng cụ máng ăn,máng uống và hệ thống sưởi ấm cho đàn gia cầm mới nở Ngoài lượng thức ăn cósẵn trong tự nhiên như giun, dế, sâu bọ, rau, cỏ mà đàn gia cầm tự kiếm ăn được,thì lượng thức ăn do người chăn nuôi cung cấp là rất quan trọng Có như vậy mớirút ngắn được thời gian nuôi mỗi lứa và tăng năng suất của đàn gà So với phươngthức chăn nuôi gà truyền thống thì phương thức chăn nuôi bán thâm canh, đàn giacầm tăng trọng nhanh hơn, tỷ lệ nuôi sống cao hơn, khống chế được bệnh tật tốthơn, thời gian nuôi mỗi lứa ngắn hơn và đạt hiệu quả kinh tế cao hơn
Trang 17 Chăn nuôi trang trại, doanh nghiệp (chăn nuôi công nghiệp)
Là hình thức chăn nuôi nhốt hoàn toàn và sử dụng thức ăn công nghiệp Vớicách nuôi này có thể rút ngắn thời gian nuôi Mỗi lứa có thể nuôi từ 200-500 con từlúc 1 ngày tuổi đến lúc xuất chuồng Phương thức nuôi này thường được áp dụngtại một số địa phương ven đô thị, nơi đất chật, không có vườn, đồi để thả gia cầm.Khi áp dụng phương thức nuôi nhốt hoàn toàn đòi hỏi phải đầu tư xây chuồng trại(thường gà được nuôi trên nền chuồng rải dăm bào hoặc vỏ trấu) Gia cầm đượcnuôi nhốt hoàn toàn tuy mau lớn hơn, thịt mềm hơn, song chất lượng thịt khôngchắc đậm, mùi vị thơm ngon không bằng gia cầm nuôi thả, giá bán thấp hơn so với
gà được nuôi tự do
e, Đặc điểm của chăn nuôi gia cầm của hộ
Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, hộ nông dân vừa là đơn vị sản xuấtvừa là đơn vị tiêu dùng Để chăn nuôi gia cầm nông hộ phải tiến hành mua các yếu
tố đầu vào (con giống, thức ăn, thuốc thú y…) và một số yếu tố đầu vào sẵn có (đấtđai, lao động…) để tiến hành chăn nuôi
Do vừa là người sản xuất nên nông hộ chăn nuôi có mục tiêu thứ nhất là phảitối đa hoá lợi nhuận, đồng thời tận dụng được các nguồn thức ăn cho gia cầm từcác sản phẩm phụ của sản xuất nông nghiệp, ăn uống… tức là tối thiểu hoá các chiphí đầu vào trong chăn nuôi gia cầm
Do vừa là người tiêu dùng nên nông hộ có mục tiêu thứ hai là tối đa hoá lợiích thông qua việc tăng độ thoả dụng, tăng khối lượng sản xuất và thời gian thưnhàn và hạn chế thấp nhất khi có rủi ro xảy ra Nhiều hoạt động cả sản xuất và tiêudùng của nông hộ chẳng bao giờ có sự tham gia và tác động của thị trường
2.1.1.3 Lý luận về phát triển
Phát triển là một quá trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc
Trang 18trong đó các chủ thể lãnh đạo và quản lý, bằng các chiến lược và chính sách thích hợp với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của xã hội và cộng đồng dân tộc mình, tạo ra, huy động và quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ (Bùi Đình Thanh, 2010).
Sản phẩm của sự phát triển là con người được khỏe mạnh, được chăm sócsức khỏe tốt, có nhà ở và tiện nghi sinh hoạt, được tham gia vào hoạt động sảnphẩm theo chuyên môn đào tạo và được hưởng thụ các thành quả của quá trìnhphát triển
Phát triển không chỉ bao hàm việc khai thác và chế biến các nguồn tàinguyên, xây dựng cơ sở hạ tầng, mua và bán sản phẩm mà còn bao gồm các hoạtđộng không kém phần quan trọng như chăm sóc sức khỏe, an ninh xã hội, đặc biệt
là an ninh con người, bảo tồn thiên nhiên,…
Trong chăn nuôi, nuôi lớn vật nuôi để sản xuất những sản phẩm như: thực phẩm, lông, và sức lao động Sản phẩm từ chăn nuôi nhằm cung cấp lợi nhuận và phục vụ cho đời sống sinh hoạt của con người Chăn nuôi xuất hiện lâu đời trong nhiều nền văn hóa kể từ khi loài người chuyển đổi từ lối sống săn bắn hái lượm sang định canh định cư.
2.1.2 Vai trò của phát triển chăn nuôi gia cầm
Trong điều kiện chăn nuôi của các hộ nông dân nước ta, chăn nuôi gia cầmtận dụng được các điều kiện như kỹ thuật, sức lao động, thức ăn sẵn có của giađình và cung cấp các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng và giá trị hàng hóa cao phục
vụ cho nhu cầu ngày càng tăng của xã hội Chăn nuôi gia cầm tạo ra sản phẩm thịt chocon người, là nguồn cung cấp thực phẩm dinh dưỡng cho đời sống con người, cungcấp nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp chế biến
Trang 19Cung cấp thực phẩm:
Thịt và trứng gia cầm là những loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao
và rất được ưa chuộng Gia cầm sinh sản nhanh nên người nuôi có thể bán trứnghoặc bán thịt được thường xuyên Chăn nuôi gia cầm nông hộ có thể cung cấp thịt
và trứng phục vụ trực tiếp cho nhu cầu của gia đình hoặc bán một cách dễ dàng để
có nguồn thu nhập hàng ngày
Cung cấp một số phụ phẩm:
Lông gia cầm có thể sử dụng trong sản xuất quần áo, chăn, Ngoài rachăn nuôi gia cầm còn còn cung cấp một nguồn phân bón có giá trị cho cây trồnghay nguồn thức ăn cho cá
Ý nghĩa kinh tế - xã hội:
Phương tiện an sinh cho người nghèo: gia cầm là con vật tương đối rẻ sovới trâu, bò nên thường dễ mua sắm hơn đặc biệt là đối với những hộ nghèo
Phương tiện phát triển kinh tế bền vững: từ lâu người dân ở Việt Nam đã coiviệc chăn nuôi gia cầm là nghề dễ phát triển kinh tế, thu lại lợi nhuận nhanh và cao dogia cầm, là con vật dễ nuôi, dễ thích ứng, ít bệnh tật, lại tận dụng được các điều kiện
tự nhiên
Chăn nuôi góp phần vào công cuộc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu laođộng trong nông nghiệp, nông thôn Hiện nay, nhà nước rất quan tâm và tạo điềukiện cho công nghiệp chế biến nông sản phát triển Đây sẽ là điều kiện thuân lợicho ngành nông nghiệp nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng phát triển mạnhtrong thời gian tới, tạo điều kiện tích cực làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấulao động trong nông nghiệp nông thôn
Trang 202.1.3 Nội dung phát triển chăn nuôi gia cầm
2.1.3.1 Huy động và sử dụng hiệu quả các yếu tố nguồn lực cho chăn nuôi gia cầm
Để phát triển chăn nuôi gia cầm cần phải gia tăng việc huy động và nâng caohiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào trong chăn nuôi như: Lao động, vốn, diện tíchmặt bằng, cơ sở vật chất cho chăn nuôi, ứng dụng khoa học kỹ thuật …
Lao động chăn nuôi gia cầm: Số lượng và chất lượng của người lao độngtham gia trong chăn nuôi gia cầm
Vốn chăn nuôi gia cầm: Trong chăn nuôi gia cầm cần nguồn vốn đầu tư cho
cơ sở vật chất, con giống, thức ăn, chăm sóc gia cầm… Do đặc điểm của chăn nuôigia cầm gắn với quá trình sinh học của vật nuôi; chịu ảnh hưởng rất lớn từ điềukiện tự nhiên, thời tiết khí hậu; chính vì vậy nhu cầu vốn và sử dụng vốn trongchăn nuôi gia cầm mang tính thời vụ và đầu ra sản phẩm mang tính rủi ro cao, cóthể mất vốn khi bị thiên tai, dịch bệnh
Đất đai, mặt bằng chăn nuôi gia cầm: Trong chăn nuôi gia cầm đất đai thamgia với tư cách yếu tố nguồn lực của sản xuất, là tư liệu sản xuất chủ yếu không thểthay thế được Đất đai, cơ sở hạ tầng có thể coi như là các loại vốn trong sản xuấtchăn nuôi gia cầm
Cơ sở vật chất cho chăn nuôi gia cầm: Chuồng trại, hệ thống cấp nước, hệthống chiếu sáng, hệ thống xử lý chất thải…
Khoa học công nghệ: Khoa học công nghệ theo nghĩa chung nhất là tập hợpnhững hiểu biết về các phương thức và phương pháp hướng vào cải tạo tự nhiên,phục vụ các nhu cầu con người Nhờ những kiến thức chăn nuôi và việc áp dụngcác phương pháp, kỹ thuật chăn nuôi hiện đại có ý nghĩa tăng sản lượng, nâng caochất lượng sản phẩm, tăng năng suất và giá trị của chăn nuôi gia cầm Do đó muốnphát triển chăn nuôi gia cầm cần tăng cường phổ biến, chuyển giao kỹ thuật chănnuôi cho người sản xuất như thông qua các buổi tập huấn, tuyên truyền, chuyển
Trang 21giao kỹ thuật đến từng hộ chăn nuôi.
2.1.3.2 Chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi gia cầm
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ theo tỷ lệ về số lượng và chấtlượng tương đối ổn định của các yếu tố kinh tế xã hội liên quan đến sản xuất trongmột khoảng thời gian và không gian nhất định Cơ cấu sản xuất trong ngành chănnuôi gồm: cơ cấu các loại vật nuôi; cơ cấu vật nuôi theo địa bàn; cơ cấu vật nuôitheo thành phần kinh tế; cơ cấu vật nuôi theo các phương thức chăn nuôi
Chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi gia cầm là sự biến đổi về vị trí, vai trò, tỷtrọng và tính cân đối vốn có giữa các yếu tố, các bộ phận, các vùng, các thành phầnkinh tế cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trong mỗi giai đoạnnhất định
Mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi gia cầm là phải phát huy lợi thế
về khả năng sản xuất một số loại vật nuôi, gia cầm nhằm nâng cao năng suất, chấtlượng, khả năng cạnh tranh và gia tăng giá trị, phát triển bền vững góp phần đảmbảo an sinh xã hội và bảo vệ môi trường Chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi gia cầmphải dựa trên quan điểm cơ cấu ngành chăn nuôi và cơ cấu tổng thể ngành nôngnghiệp, phù hợp với quy hoạch tổng thể ngành nông nghiệp, phù hợp với chủtrương phát triển nông thôn của địa phương, tỉnh cũng như chiến lược phát triểnchăn nuôi của tỉnh và cả nước từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn xa hơn là 2030
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu phương thức chăn nuôi gia cầm là từ chănnuôi thả tự nhiên sang chăn nuôi bán công nghiệp và công nghiệp
Phương thức chăn thả tự nhiên: là hình thức chăn nuôi truyền thống hiện vẫntồn tại và phát triển hầu hết ở các vùng nông thôn Phương thức chăn nuôi này cóđặc điểm: vốn đầu tư ban đầu ít, gia cầm nuôi được thả rông, tự do tìm kiếm thức
ăn, tự ấp và nuôi con Do chăn nuôi thả tự do nên môi trường chăn nuôi không đảmbảo vệ sinh khiến gia cầm dễ mắc bệnh, chết rét, tỷ lệ nuôi sống thấp, hiệu quả
Trang 22chăn nuôi không cao Tuy nhiên, phương thức chăn nuôi này cho chất lượng thịtrất thơm ngon, đầu tư thấp, không thích hợp với quy mô chăn nuôi lớn, yêu cầuchăn nuôi có vườn thả rộng, có ao nuôi đủ lớn Người dân vẫn chăn nuôi là do tậndụng nguồn thức ăn sẳn có trong gia đình và nuôi với mục đích tự cung tự cấp làchính.
Phương thức chăn nuôi bán công nghiệp: là phương thức chăn nuôi có sự kếthợp những kinh nghiệm chăn nuôi gia cầm truyền thống với chăn nuôi gia cầmtheo quy trình có áp dụng tiến bộ kỹ thuật tiên tiến qua các giai đoạn Đây là sự kếthợp của hai phương thức chăn nuôi truyền thống và công nghiệp Phương thứcchăn nuôi này là sự kết hợp tiến bộ kỹ thuật về con giống đòi hỏi năng suất cao vàchất lượng thịt thơm ngon với thức ăn sử dụng là thức ăn hỗn hợp, kết hợp với thức
ăn sẵn có ngoài tự nhiên
Phương thức chăn nuôi công nghiệp: Hình thức chăn nuôi này cho sản phẩmnhanh, năng suất cao, dễ được người chăn nuôi chấp nhận vì sử dụng con giống laitạo, thức ăn hỗn hợp để phù hợp với phương thức chăn nuôi này Kết quả là rútngắn ngày nuôi, sản phẩm được sản xuất ra nhiều hơn, tiêu tốn thức ăn ít hơn chomột đơn vị sản phẩm, quay vòng vốn nhanh do xuất chuồng sớm
2.1.3.3 Tổ chức sản xuất chăn nuôi gia cầm
Hộ chăn nuôi gia cầm: Đó là hình thức tổ chức chăn nuôi nhỏ lẻ, với quy môdưới 1.000 con gia cầm, riêng chim cút là dưới 10.000 con, phân tán tại từng hộgia đình, vốn đầu tư ít, chuồng trại đơn giản, thức ăn có sẵn trong tự nhiên vànguồn thức ăn phế phẩm sẵn có trong sản xuất nông nghiệp, Chăn nuôi gia cầmkiểu nông hộ nhỏ lẻ bán với giá cao hơn chăn nuôi gia cầm bán công nghiệp Vìchăn nuôi gia cầm kiểu nông hộ nhỏ lẻ được thị trường ưa chuộng, thương lái vàngười tiêu dùng có nhu cầu cao, tuy dịch bệnh không kiểm soát được, tiêm phòngkhông đầy đủ với quy mô dưới vài chục con gia cầm Nếu có dịch xãy ra thì dễ xử
Trang 23lý, tốc độ lây lang chậm, kinh tế hộ không phải mất nhiều tiền, nhưng thời gianchăn nuôi lâu ngày sẽ bị ô nhiểm về môi trường tại khu vực chăn nuôi do khôngthể xử lý triệt chất thải và mầm bệnh ô nhiễm dễ dẫn đến bỏ hoang đất trong thờigian dài.
Gia trại chăn nuôi gia cầm : là hộ chăn nuôi gia cầm trong thời kỳ điều trachưa đạt tiêu chí trang trại song có nuôi thường xuyên từ 1.000 con gà, hay vịt, hayngan, hay ngỗng trở lên, chỉ riêng đối với chim cút là từ 10.000 con trở lên Số lầnxuất chuồng trong năm từ 3 lần trở lên Trong một số trường hợp nếu do dịch bệnhhay yếu tố bất thường bỏ chuồng trống từ 1-3 tháng vẫm được xem là nuôi thườngxuyên cả gia trại
Trang trại chăn nuôi gia cầm là theo thông tư số 27/2011/ TT- BNNPTNTngày 13/4/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát Triển Nông Thôn quy định : Cơ sởchăn nuôi gia cầm đạt tiêu chí trang trại khi giá trị số lượng hàng hóa từ chăn nuôibán ra với doanh thu đạt từ 1tỷ đồng/ năm trở lên, và chăn nuôi gia cầm gà vịt,ngan, ngỗng có thường xuyên đạt 2.000 con trở lên, không tính số đầu con dưới 7ngày tuổi
Muốn phát triển chăn nuôi gia cầm theo hướng sản xuất hàng hóa cầnchuyển mạnh từ hình thức hộ chăn nuôi sang gia trại và trang trại chăn nuôi tậptrung, chuyển dịch chăn nuôi gia cầm của trang trại từ vùng mật độ dân số cao, đếnnơi có mật độ dân số thấp, hình thành các vùng chăn nuôi gia cầm an toàn dịchbệnh, xa thị trấn, khu dân cư Trong từng xã hình thành các vùng, xóm chăn nuôitrọng điểm (có thể là thôn, liên xã, huyện, liên huyện) theo quy hoạch và các sảnphẩm chăn nuôi gia cầm chủ lực để tập trung đầu tư
2.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi gia cầm
Mỗi ngành sản xuất phải chịu ảnh hưởng của một yếu tố nhất định, yếu tố đó
có thể tác động trực tiếp hay gián tiếp Tùy vào mức độ ảnh hưởng mà nó sẽ tác
Trang 24động ít hay nhiều đến ngành sản xuất đó.
Ngành chăn nuôi cũng không nằm ngoài quy luật đó, nó cũng như ngành sảnxuất vật chất khác cũng chịu ảnh hưởng của các tác động trực tiếp và gián tiếp Cácyếu tố đó như là: giống, vốn, trình độ chăn nuôi, công tác thú y, dịch bệnh, đầu racho sản phẩm, chính sách của Nhà nước, có thể chia ra các yếu tố ảnh hưởng tớinghề chăn nuôi gia cầm như sau:
Nhóm yếu tố điều kiện tự nhiên
- Đối với ngành chăn nuôi chịu ảnh hưởng lớn bởi thời tiết khí hậu (nhiệt độ,lượng mưa, độ ẩm) tác động trực tiếp và gián tiếp tới vật nuôi
- Đất đai là yếu tố quan trọng để phát triển đàn gia cầm, vì có đất mới pháttriển, mở rộng quy mô sản xuất theo kiểu trang trại Do đó, đất đai là nhân tố ảnhhưởng trực tiếp tới phát triển chăn nuôi gia cầm
Nhóm yếu tố kinh tế - xã hội
- Giá bán sản phẩm: là yếu tố tác động trực tiếp đến số lượng hàng hóa và
dịch vụ cung ứng ra thị trường Chênh lệch giữa giá bán và giá thành sản phẩmchính là lợi nhuận của người sản xuất, lợi nhuận người sản xuất cao hay thấp tùythuộc vào khoảng chênh lệch đó Vì vậy người sản xuất luôn quan tâm tới giá bán sảnphẩm để sản phẩm vẫn tiêu thụ được với khối lượng nhiều mà lợi nhuận mang lại vẫnlớn Khi giá bán sản phẩm quá thấp thì người chăn nuôi sẽ giảm quy mô sản xuất dẫntới lượng cung sản phẩm ra thị trường giảm
- Giá cả các yếu tố sản xuất (đầu vào): Giá của các đầu vào sẽ quyết định
đến chi phí sản xuất Nếu giá của các yếu tố đầu vào quá cao sẽ làm cho giá thànhsản xuất sản phẩm tăng lên và làm giảm lợi nhuận của đơn vị sản phẩm Trên thịtrường người mua luôn muốn mua rẻ, do vậy nếu giá thành cao dẫn tới sản phẩmhàng hóa khó tiêu thụ, hàng hóa ứ đọng kìm hãm sản xuất phát triển
- Giá của các sản phẩm thay thế hoặc bổ sung: Đây là yếu tố ảnh hưởng tới
lượng cầu của hàng hóa Vì giá cả của hàng hóa có liên quan (thay thế hoặc bổ
Trang 25sung) ảnh hưởng tới sự lựa chọn của người tiêu dùng, tạo nên sự cạnh tranh về giágiữa các sản phẩm hàng hóa.
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Thị trường có vai trò quan trọng đối với sản
xuất kinh doanh và sự phát triển của nền kinh tế Đây là khâu tất yếu và quan trọngnhất của sản xuất hàng hóa Thị trường là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêudùng Nó cho chúng ta biết kết quả sản xuất của một chu kỳ kinh doanh Đặc biệt pháttriển một nền sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường thì vấn đề tiêu thụ sản phẩmrất được quan tâm Vì vậy tiêu thụ sản phẩm là nhân tố quyết định đến sự tồn tại và
phát triển của ngành chăn nuôi gia cầm.
Tiến bộ về khoa học kỹ thuật
Tiến bộ khoa học kỹ thuật sẽ làm tăng năng xuất cây trồng vật nuôi, giảmgiá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận chi người sản xuất dẫn đến tăng cung hàng hóatrên thị trường Đối với chăn nuôi gia cầm thì tiến bộ khoa học kỹ thuật đã giảmđược công lao động, lai tạo giống lợn có chất lượng cao, tăng trưởng nhanh
2.1.5 Lý luận về tiêu thụ
2.1.5.1 Khái niệm về tiêu thụ
Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối của quá trình sản xuất Qua giai đoạnnày người sản xuất mới đánh giá được kết quả sản xuất kinh doanh của mình Do
đó hoạt động tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa rất quan trọng đối với bất kỳ người sảnxuất nào khi tham gia vào thị trường, đây cũng là cơ sở để người sản xuất đưa ragiải pháp khắc phục và định hướng cho phát triển của mình
Có thể hiểu hoạt động tiêu thụ sản phẩm theo hai nghĩa sau:
- Theo nghĩa mở rộng: Hoạt động tiêu thụ sản phẩm là một quá trình kinh tếbao gồm nhiều khâu, nó có quan hệ mật thiết với nhau như: nghiên cứu thị trường,xác định nhu cầu khách hàng, đặt hàng và tổ chức sản xuất
- Theo nghĩa hẹp: Hoạt động tiêu thụ là việc chuyển quyền sở hữu sản
Trang 26phẩm cho khách hàng (người mua) và thu được tiền từ hoạt động này Hoạt độngtiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa đểthỏa mãn lợi ích của người sản xuất cũng như thỏa mãn nhu cầu sử dụng hàng hóacủa khách hàng.
Dù hiểu theo nghĩa nào thì hoạt động thiêu thụ sản phẩm nói chung được cấuthành bởi các yếu tố sau:
Các chủ thể kinh tế tham gia: người mua và người bán
Đối tượng đem trao đổi: sản phẩm hàng hóa
Thị trường: là nơi diễn ra trao đổi hàng hóa giữa người mua và người bán
2.1.5.2 Nội dung của quá trình tiêu thụ
Nghiên cứu thị trường: Khâu này rất quan trọng đối với quá trình sản xuấtkinh doanh, nó mở rộng đường cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà sảnxuất Nghiên cứu thị trường là nắm vững sức mua của thị trường, tức là phải nắmđược nhu cầu tiêu dùng của hàng hóa và khả năng thanh toán của khách hàng, mức
độ thu nhập và triển vọng mở rộng thị trường tiêu thụ
Để đạt được những mong muốn hay đưa ra được những quyết định đúngđắn trong sản xuất đòi hỏi người sản xuất phải thu thập, xử lý thông tin về thịtrường một cách khách quan, chính xác và phù hợp với thực tiễn
Xây dựng, lựa chọn chiến lược sản phẩm và chiến lược thị trường
- Chiến lược sản phẩm là tìm hiểu xem sản phẩm của mình sản xuất ra cóđược người tiêu dùng và thị trường chấp nhận không? Chủng loại và chất lượngsản phẩm, mẫu mã, kiểu dáng như thế nào? Nếu không thì phải tiến hành đa dạnghóa sản phẩm, nâng cao chất lượng, giảm chi phí
- Chiến lược thì trường là phải xác định được đặc điểm chủ yếu của thịtrường tiêu thụ, xác định được những thuận lợi và khó khăn, giá cả chủng loại sảnphẩm và những chi phí có liên quan đến thị trường
Trang 27 Công tác hỗ trợ tiêu thụ: Bên cạnh việc tổ chức nghiên cứu thị trường, lựachọn chiến lược sản phẩm, thì việc tổ chức các hoạt động hỗ trợ trong công táctiêu thụ có ý nghĩa lớn đối với tiêu thụ sản phẩm Đó là các hình thức giới thiệu sảnphẩm, tham gia hội trợ triển lãm, quản cáo tiêp thị và nhiều hoạt động khác.
Lựa chọn phương án tiêu thụ: Phương án tiêu thú ản phẩm thực chất là hệthống các phương pháp và biện pháp mang tính kỹ thuật nhằm tối đa hóa khốilượng sản phẩm bán ra Có nhiều phương pháp tiêu thụ sản phẩm khác nhau như:
- Tiêu thụ trực tiếp: Hàng hóa được bán trực tiếp từ tay người sản xuất đếnvới người tiêu dùng
- Tiêu dùng gián tiếp: Hàng hóa được các nhà trung gian là các nhà buôn,nhà thu gom, người bán lẻ, rồi mới đến tay người tiêu dùng Hình thức tiêu thụgián tiếp có thể một hoặc nhiều khâu trung gian
- Tiêu thụ hỗn hợp: Là hình thức phối hợp hai hình thức trên
2.1.5.3 Vị trí, vai trò của tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm có vị trí quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh,
nó phản ánh sự thành công nhất định trên thương trường về sự chấp nhận của xãhôi, về sự đáp ứng của doanh nghiệp đối với xã hội
- Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của một vòng chu chuyển vốn kinhdoanh Đây là khâu quan trọng quyết định đến quá trình sản xuất của doanhnghiệp Nếu không tiêu thụ được sản phẩm thì doanh nghiệp không thể thực hiệnđược chu kỳ sản xuất tiếp theo
- Tiêu thụ sản phẩm giữ vai trò phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt độngsản xuất kinh doanh
- Tiêu thụ sản phẩm giúp cho doanh nghiệp có điều kiện gần gũi với kháchhàng, hiểu biết và nắm bắt những mong muốn của khách hàng nhằm tăng khả năngtiêu thụ và mở rộng thị trường
Trang 28- Tiêu thụ sản phẩm là động lực thúc đẩy nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh, tiêu thụ sản phẩm tốt doanh nghiệp sẽ có lợi nhuận.
2.1.5.4 Các kênh tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi
Kênh tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi là tập hợp những cá nhân hay những cơ
sở sản xuất kinh doanh độc lập và phụ thuộc lẫn nhau, tham gia vào quá trình tạodòng vận chuyển sản phẩm chăn nuôi từ người sản xuất đến người tiêu dùng Cóthể nói đây là một nhóm các tổ chức và cá nhân thực hiện các hoạt động nhằm thỏamãn nhu cầu của người mua và tiêu dùng sản phẩm chăn nuôi của người chăn nuôi
Tất cả những người tham gia vào kênh tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi được gọi
là các thành viên của kênh, các thành viên nằm giữa người sản xuất và người ngườitiêu dùng là những trung gian thương mại, các thành viên này tham gia nhiều kênhtiêu thụ và thực hiện các chức năng khác nhau
Các loại kênh tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi
Các tổ chức tham gia vào kênh tiêu thụ với những cách thức liên kết khácnhau hình thành nên những cấu trúc kênh khác nhau Cấu trúc kênh phân phốiđược xác định qua chiều dài và bề rộng của hệ thống kênh Do đó mà các kênhphân phối của sản phẩm chăn nuôi:
- Kênh 1: kênh tiêu thụ trực tiếp: Hộ chăn nuôi → người bán lẻ ngườigiết mổ → người tiêu dùng Đây là kênh mà người chăn nuôi trực tiếp bán chongười giết mổ mà không thông qua một trung gian nào Đặc điểm của kênh này làngười chăn nuôi chỉ bán với số lượng ít chủ yếu là người trong cùng địa bàn
- Kênh 2: Người chăn nuôi → thợ giết mổ → người bán lẻ → người tiêudùng Ở kênh này người bán lẻ lấy sản phẩm của người giết mổ để bán cho ngườitiêu dùng
- Kênh 3: Người chăn nuôi → người giết mổ → người bán buôn → người bán
lẻ → người tiêu dùng Kênh này sản phẩm đến được tay người tiêu dùng phải thông
Trang 29qua hai trung gian thương mại là người bán buôn và người bán lẻ.
- Kênh 4: Hộ chăn nuôi → người thu gom → người giết mổ → người bánbuôn → người bán lẻ → người tiêu dùng Kênh này thường tập hợp tất cả các sảnphẩm chăn nuôi để bán cho các lò giết mổ Đặc điểm của kênh này là khối lượnglưu chuyển thường lớn, đôi khi người chăn nuôi bị ép giá
2.1.5.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự vận hành của các kênh tiêu thụ
Chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là vấn đề cơ bản quyết định khả năng tồn tại và pháttriển của các kênh tiêu thụ Sản phẩm của các kênh tiêu thụ chỉ được người tiêudùng trực tiếp sử dụng khi chất lượng của nó được khách hàng tin tưởng Chất lượngsản phẩm được nâng cao sẽ làm tăng giá trị sử dụng, tiết kiệm hao phí lao động xãhội Do đó hoạt động tiêu thụ sản phẩm sẽ gặp thuận lợi, tăng tốc độ chu chuyển vốn
và hiệu quả sử dụng vốn có hiệu quả hơn
Giá cả
Trong nền kinh tế thị trường giá cả là một tín hiệu phản ánh quan hệ kinh tếgiữa người mua và người bán Nhiều kênh tiêu thụ xem giá cả như là một tín hiệuđáng tin cậy, phản ánh tình hình biến động của thị trường Khi giá cả biến đổi lậptức khối lượng tiêu thụ cũng biến đổi theo Khi giá sản phẩm quá cao người tiêudùng sẽ chuyển sang mua các sản phẩm cạnh tranh hay sản phẩm hàng hóa thaythế, dẫn đến sự giảm sút về khối lượng tiêu thụ và dẫn đến những thua thiệt về lợinhuận cho những người làm trong kênh tiêu thụ này
Thị trường tiêu thụ
Thị trường tiêu thụ là nơi diễn ra hoạt động mua bán hàng hóa Nó chứađựng tổng cung và tổng cầu Vì thế thị trường tiêu thụ của các kênh này có rộng thìkhả năng tiêu thụ sản phẩm mới thuận lợi Thị trường tiêu thụ còn phụ thuộc vào vịtrí địa lý của thị trường, chẳng hạn như càng gần các khu trung tâm lớn thì thị
Trang 30trường tiêu thụ càng lớn, hay thị trường sản xuất ra sản phẩm đó ít tiêu thụ thì phải
có hệ thống vận chuyển đến các trị trường khác để tiêu thụ
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Thực trạng phát triển chăn nuôi và tiêu thụ gia cầm ở Việt Nam và thế giới
2.2.1.1 Tình hình chăn nuôi gia cầm trên thế giới
Trước đây, chăn nuôi gia cầm chỉ là một ngành sản xuất phụ Nuôi gia cầmchỉ để có thêm ít thức ăn hàng ngày, có thêm chút ít tiền và trong nhiều trường hợpnuôi gia cầm chỉ mang mục đích tiêu khiển (gà nuôi làm cảnh xem chơi, gà nuôi đểtham gia lễ hội ) Trong vài ba chục năm trở lại đây, chăn nuôi gia cầm đã cóbước phát triển nhảy vọt Chăn nuôi gia cầm đã chuyển từ phương thức chăn nuôinông nghiệp sang phương thức chăn nuôi công nghiệp Các tiến bộ khoa học kỹthuật đã được nghiên cứu, ứng dụng nhanh chóng trong chăn nuôi gia cầm Kết quảcủa quá trình này là các đơn vị chăn nuôi gia cầm quy mô lớn thay thế dần cho các
cơ sở chăn nuôi nhỏ - một sự chuyển đổi cơ bản trên tất cả các lĩnh vực của ngànhsản xuất chăn nuôi gia cầm Nhờ việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về ditruyền, giống, dinh dưỡng, công nghệ sản xuất, máy ấp trứng mà chăn gia cầmthế giới đã phát triển nhanh cả về số lượng đầu con, sản lượng trứng, thịt, chấtlượng sản phẩm, giá thành trong sản xuất sản phẩm gia cầm giảm đi, chất dinhdưỡng cung cấp cho con người với giá rẻ ngày càng tăng lên nhờ vào nguồn trứng
và thịt gia cầm
Trong vài thập niên trở lại đây, ngành chăn nuôi gia cầm trên thế giới pháttriển mạnh về cả số lượng và chất lượng Đó là kết quả của việc áp dụng nhữngthành tựu di truyền chọn giống kết hợp với các biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng có
cơ sở khoa học Năm 1999 (theo FAO), tổng đàn gia cầm trên thế giới khoảng 10
tỷ con, trong đó 96,7% gà, 1,8% vịt, còn lại là các gia cầm khác Tổng đàn gà trên
Trang 31thế giới cũng tăng theo thời gian, cụ thể là năm 2000:14.831,9 triệu con; năm2001: 15.526,26 triệu con; năm 2002: 16.373,16 triệu con; năm 2004:16.605,13triệu con.
Ở các nước đang phát triển số đầu con gia cầm tăng nhanh từ năm 2000 –2003
Bảng 2.1 Số lượng gia cầm ở các nước đang phát triển
Năm 2003
Theo các số liệu thống kê của FAO thì sản lượng trứng gia cầm của thế giới
từ 401,5 tỉ năm 1975 tăng lên 552 tỉ năm 1985 Tính trong cả giai đoạn từ
1965-1981, sản lượng trứng sản xuất ra của thế giới tăng 64,79%; trung bình mỗi nămtăng 5,05% Cũng trong thời gian đó thì sản xuất thịt gia cầm tăng 2,47 lần và đạt28,7 triệu tấn năm 1985
Sản lượng trứng gia cầm trên thế giới năm 2003 đạt 55,8 triệu tấn; Châu Á làkhu vực đạt sản lượng cao nhất 33 triệu tấn (chiếm 59,14%), tiếp đến là Châu Âu9,8 triệu tấn (chiếm17,56%), khu vực Bắc Mỹ 7,9 triệu tấn, khu vực Trung Mỹ 2,9
Trang 32triệu tấn; Châu Phi 2,1 triệu tấn và thấp nhất là Châu Đại Dương 0,2 triệu tấn.Châu Á có mức tăng trưởng cao nhất, đặc biệt Trung Quốc luôn là nước đứng đầuthế giới về sản lượng trứng Năm 2003 đạt 22,332 triệu tấn, chiếm 40,02% sảnlượng trứng của toàn thế giới.
Trên thế giới có 7 nước đạt sản lượng trứng gia cầm trên 1 triệu tấn: TrungQuốc 22,332 triệu tấn; Mỹ 5,123 triệu tấn; Nhật Bản 2,5 triệu tấn; Ấn Độ 2,200triệu tấn; Nga 2,04 triệu tấn; Mexico 1,882 triệu tấn; Brazin 1,55 triệu tấn Trongkhi đó Việt Nam là 0,2345 triệu tấn trứng gà đứng thứ 30 trên thế giới
Sản xuất trứng trên thế giới không ngừng tăng lên, nhưng tốc độ tăng khôngđồng đều giữa các vùng trên thế giới Còn có những vùng riêng biệt, thậm chí cảchâu lục (Châu Phi) mà ở đó sản phẩm gia cầm là chưa đáng kể
Sự tăng sản xuất trứng gia cầm trên thế giới chủ yếu là tăng sản lượng trứngtrung bình của một gia cầm mái Trung bình ở Hà Lan, Mỹ, Nhật, sản lượng trứngtrung bình của một gà mái là 250- 280, hoặc 300, trên 300 quả mỗi năm Triểnvọng là sản lượng trứng nhận được từ một gà mái đẻ/ năm sẽ đạt đến 300 quả trênphạm vi toàn thế giới
Sản xuất trứng tăng làm tăng sức tiêu thụ trứng trên một người dân Mứctiêu thụ trứng gia cầm/ người/ năm bình quân thế giới năm 2002 là 8,4 kg; cao nhất
là Nhật Bản 19,1kg; thấp nhất là Tandikistan 0,5 kg và ở Việt Nam là 2,6 kg(FAO) Ở các nước Nga, Đức, Ý mức tiêu thụ trứng trên đầu người sẽ tăng cao.Một bước nhảy vọt đáng kể là Trung Quốc, không chỉ thoả mãn cho nhu cầu củadân số nước này hiện nay, mà trong tương lai sẽ cung cấp cho mỗi người dân 13 kgtrứng, con số đó gấp 4 lần năm 1975 Mức tiêu thụ trứng ở một số nước phát triểnlên tới 400 quả và mức tiêu thụ thịt gia cầm lên đến 34 kg/người/năm (Israel), mứctrung bình ở các nước phát triển là 250-280 quả trứng và 15-20 kg thịt/người/năm
Dự báo trong những năm tới, sản xuất trứng tăng lên ở nhiều vùng, nhiềukhu vực trên thế giới, đặc biệt tăng nhanh ở các nước có nền công nghiệp phát
Trang 33triển, ở các nước có mật độ dân số cao và một số nước Châu Á (Trung Quốc, ẤnĐộ ).
Sản lựợng thịt gia cầm trên thế giới năm 2003 đạt 75,8 triệu tấn; tăng 1,4triệu tấn so với năm 2002 (tăng 1,88%) và tăng 27,7 triệu tấn so với năm 1998(tăng 57,50%).Thịt các loại gia cầm khác nhau cũng có những biến động khác nhau(bảng 1.2)
Thịt gà: Châu Mỹ sản xuất tới 4,92%, châu Á 31,54%, Châu Âu 15,5% sovới toàn thế giới Thịt gà tây: chủ yếu được sản xuất ở Châu Mỹ 55,7%, Châu Âu38,7% so với toàn thế giới Ở Châu Á, thịt thủy cầm chiếm 86,2%
Năm 2003 có 11 nước trên thế giới sản xuất trên 1 triệu tấn thịt gia cầm, đó
là Mỹ 14,855 triệu tấn; Trung Quốc 9,518 triệu tấn; Brazin 7,78 triệu tấn; Mexico2,157 triệu tấn; Ấn Độ 1,440 triệu tấn; Liên hiệp Anh 1,294 triệu tấn; Thái Lan1,227 triệu tấn; Nhật Bản 1,218 triệu tấn; Pháp 1,130 triệu tấn; Nga 1,033 triệu tấn;Tây Ban Nha 1,020 triệu tấn Trong khi đó sản lượng thịt gia cầm của Việt Namnăm 2003 là 0,372 triệu tấn, đứng thứ 43 trên thế giới
Bảng 2.2 Sản lượng thịt gia cầm của các khu vực năm 2003
Trang 34Khối lượng giết thịt lý tưởng đạt được chỉ sau 8 tuần, 6 tuần, thậm chí là ở 4 tuầntuổi Kết quả lớn hơn nữa là xét trong mối quan hệ giữa thể trọng và chi phí thức
ăn cho 1 kg thể trọng thấp Ví dụ như hãng Marsel (Đức): thể trọng gà đạt 2,90 kg
ở 56 ngày tuổi, chi phí 2,17 kg thức ăn cho 1 kg thể trọng Hãng Scotlan: thể trọng
Theo ước tính của FAO, năm 2005 sản lượng thịt gia cầm trên thế giới sẽ đạtmức 88 triệu tấn Đây là mức độ tăng trưởng cao nhất so với mức tăng của các loạithịt Giá thịt gà trên thế giới có xu hướng giảm, và thấp hơn các loại thịt khác Năm
1990, giá thịt gà chỉ bằng 29,2% so với giá thịt lợn và bằng 31,76% so với giá thịtcủa đại gia súc
Trang 35Các tiến bộ khoa học kỹ thuật được nghiên cứu và ứng dụng một cách rộngrãi, nhanh chóng trong chăn nuôi gia cầm Các phương thức chăn nuôi gia cầmcũng thay đổi, từ phương thức chăn nuôi nông nghiệp chuyển sang phương thứcchăn nuôi theo qui mô công nghiệp với số lượng lớn, quản lý chặt chẽ và chăm sóctốt Dự báo đầu năm 2010 sản xuất thịt và trứng tăng lên ở nhiều khu vực trên thếgiới, đặc biệt là các nước có ngành công nghiệp phát triển và các nước có dân sốcao Mức tiêu thụ thịt gà trên thế giới dự kiến sẽ tăng cao hơn.
Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, nhu cầu tiêu dùng của con người vềnguồn protein động vật ngày càng cao Để đáp ứng nhu cầu của thị trường, hàngloạt công nghệ mới được ứng dụng nhằm tăng khả năng sản xuất thịt và trứng củagia cầm Việc ứng dụng các công nghệ mới và công nghệ sinh học để cải tiến bảnchất di truyền nhằm tạo ra những giống gia cầm mới có phẩm chất trứng - thịtthơm ngon
Sự tăng nhanh các sản phẩm gia cầm trên thế giới là do các nguyên nhânsau:
*Tạo ra và ứng dụng nhanh các giống và các dòng gia cầm lai có năng suấtcao (sản lượng trứng cao và tốc độ sinh trưởng nhanh)
*Nhờ việc nghiên cứu và áp dụng các hệ thống chăn nuôi hợp lý; công thứcthức ăn hợp lý; quy trình công nghệ thích hợp đối với từng đối tượng gia cầm; điệnkhí hoá và tự động hoá việc kiểm tra tiểu khí hậu trong chuồng nuôi
*Cung cấp các thiết bị hoàn chỉnh phục vụ chăn nuôi gia cầm công nghiệp:Máy ấp trứng công suất cao, tỷ lệ ấp nở cao; máy đếm gia cầm con - trong 1 giờchuẩn bị và đếm được 25.000 con; máy soi trứng trong máy ấp – 70.000 quả/giờ;máy chủng vác-xin cho gia cầm 1 ngày tuổi; thiết bị sấy khô và làm sạch phân giacầm; thiết bị, dụng cụ phục vụ thụ tinh nhân tạo gia cầm
Trang 362.2.1.2 Tình hình chăn nuôi gia cầm cả nước
Ở Việt Nam trước đây, chăn nuôi gia cầm mang tính tự cấp tự túc, chưa có ýnghĩa như là một ngành sản xuất hàng hoá Ngành chăn nuôi gà công nghiệp có thểlấy mốc từ năm 1974, khi mà hai trung tâm giống Quốc gia được xây dựng đó làtrung tâm giống gà hướng trứng Ba Vì (Sơn Tây) và trung tâm giống gà thịt TamĐảo (Vĩnh Phúc) Đàn gà giống hướng thịt và hướng trứng được nhập vào nước ta
từ Cuba cũng từ năm 1974 với 2 vạn trứng giống của các dòng thuần
Hiện nay Việt Nam xếp thứ 21 về các quốc gia sản xuất thịt gia cầm trên thếgiới và là nước có tổng đàn của vịt đứng thứ 2, thuộc top 10 quốc gia có sản lượngthịt và trứng gia cầm lớn nhất thế giới Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp vàPTNT, ngành chăn nuôi năm 2015 đã có những bước chuyển dịch rõ rang, hiệu quảkinh tế tăng Giá thức ăn chăn nuôi tuy có xu hướng giảm nhưng chưa nhiều Bêncạnh các thành tựu đã đạt được, ngành chăn nuôi vẫn còn phải đối mặt với nhiềuthách thức từ những dịch bệnh đã xảy ra và thực trạng sử dụng chất cấm, chấtkháng sinh trong chăn nuôi và các khó khăn vướng mắc trên thị trường tiêu thụ khinhiều mặt hàng thịt nhập khẩu có giá thấp hơn so với trong nước
Tổng đàn gia cầm của cả nước vào khoảng 341,9 triệu con, bằng 104,3% sovới cùng kỳ năm trước, trong đó gà có khoảng 259,3 triệu con, bằng 105,39% sovới cùng kỳ năm trước Sản luowngj thịt gia cầm hơi xuất chuồng bằng 908,1nghìn tấn, bằng 103,8% so với cùng kỳ năm trước Sản lượng trứng đạt 8874,6triệu quả, bằng 107,6% so với cùng kỳ năm trước Hiện tại, dịch cúm gia cầm tuykhông bùng phát nhưng vẫn xảy ra ở một số tỉnh trong phạm vi nhỏ, Nguy cơ phátsinh và lây lan dịch vẫn còn tiềm ẩn, do đó các cơ quan địa phương cần kết hợp vớicác hộ chăn nuôi chủ động trong công tác phòng dịch, cũng như có các biện pháp
xử lý sớm khi xuất hiện ổ dịch mới Số lượng đàn gà chủ yếu tập trung ở các tỉnhphía Bắc, chiếm khoảng 75%, 25% còn lại tập trung ở các tỉnh phía Nam Đàn vịt
Trang 37chủ yếu tập trung tại các tỉnh vùng Đồng bằng song Cửu Long (55%), còn lại phân
bố tại các tỉnh khu vực miền Bắc và miền Trung
Kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê cho thấy, tổng toàn bộ có 7.864,7ngàn hộ, số hộ nuôi quy mô nhỏ (<100 con/hộ) chiếm tới 89,62%, nhưng chỉ sảnxuất 30% tổng sản lượng thịt gia cầm Thực tiễn đã chứng minh, chăn nuôi nông
hộ quy mô nhỏ thường chịu rủi ro rất cao do không được kiểm soát và hỗ trọ cungcấp thông tin về dịch bệnh, giá cả, thiếu kỹ thuật chăn nuôi, thường chỉ dựa vàokinh nghiệm tích luỹ và ít được tập huấn, phổ biến kiến thức, hướng dẫn mới vềchăn nuôi, không có sự am hiểu căn bản về vấn đề vệ sinh ATTP Ngoài ra, cả ởquy mô trang trại và hộ gia đình vẫn chưa tạo được vùng hàng hoá tập trung, chưachú trọng đến việc xây dựng quy trình sản xuất theo chuỗi để giảm thiểu chi phí,giá thành, nâng cao lợi nhuận
Đầu vào của ngành chăn nuôi tại Việt Nam vẫn còn phụ thuộc khá nhiều vàonước ngoài Khâu sản xuất giống vẫn đang trong tình trạng khan hiếm, giá lại cao.Bên cạnh đó, tuy nguồn con giống nhập khẩu có chất lượng tốt nhưng phải đảmbảo các quy trình kỹ thuật chăn nuôi hiện đại mới có thể phát triển tốt Trong khi
đó, các trang trại của Việt Nam có quy mô nhỏ, các tiêu chuẩn kỹ thuật về chuồngtrại thiếu đồng bộ gây khó khăn trong việc vệ sinh, sát trùng, áp dụng các biệnpháp sinh học trong phòng và trị bệnh không phù hợp trong quản lý chăm sóc theođàn Thêm vào đó, năm 2014, Việt Nam đã nhập 11,7 triệu tấn nguyên liệu các loại
để sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản Kim ngạch nhập khẩu là 4,8 tỷUSD Trong thời gian gần đây, nước ta phải nhập tới 90% các loại nguyên liệuthức ăn giàu đạm như khô dầu đậu tương, bột cá riêng khoáng vi lượng, vitaminnhập 100% Theo Liên minh Nông nghiệp, hiện nay 80% các loại vacxin đượcphép lưu hành tại Việt Nam có nguồn gốc nhập khẩu từ 17 quốc gia trên thế giới
Về thị trường đầu ra, hiện nay hệ thống chăn nuôi quy mô nhỏ, mức độ vệ sinh antoàn thực phẩm thấp đang cung cấp ra thị trường gần 70% sản phẩm thịt Trong khi
Trang 38đó, các mô hình chăn nuôi trang trại quy mô lớn, công nghệ hiện đại, ATTP caochỉ mới cung cấp trên 15% lượng thịt cho tiêu dùng Công nghệ chế biến bảo quảnthịt sau giết mổ còn yếu, các phương tiện vận chuyển tại các quầy bán thịt và cácchợ đa số đều chưa đạt yêu cầu vệ sinh ATTP Đa phần là do sự thiếu liên kết giữacác trang trại, hộ chăn nuôi với các nhà máy chế biến, cũng vì vậy mà giá cảnguyên vật liệu không ổn định, gây khó khăn không chỉ cho các nhà máy chế biến
mà còn cho cả các nông dân không muốn tái đàn
2.2.1.3 Kinh nghiệm chăn nuôi tỉnh Thanh Hoá
Trong những năm qua, chăn nuôi gia cầm Thanh Hóa phát triển khá
cả về số lượng, chất lượng và quy mô đàn, góp phần đáng kể vào quá trình pháttriển ngành chăn nuôi, từng bước nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập, giảiquyết việc làm cho nông dân Năm 2016, đàn gia cầm đạt 18.529 nghìn con, trong
đó gà lông màu 5,5 triệu con Nhóm con nuôi đặc sản là gia cầm gồm gà ri, gà míađạt 400 nghìn con; vịt cỏ, vịt Cổ lũng đạt 20 nghìn con
Đến tháng 10/2016, toàn tỉnh có 188 trang trại gia cầm đạt tiêu chí theoThông tư 27/2011/TT-BNNPTNT, chủ yếu là trang trại chăn nuôi gà, trong đó cáctrang trại có quy mô lớn khoảng 20 trang tại, đạt quy mô 10.000 gà mái sinh sảnhoặc 20.000 gà nuôi thịt; số trang trại, gia trại tham gia thực hiện chính sách pháttriển chăn nuôi đến 2016 là 304 trang trại, gia trại Bên cạnh quá trình phát triểnchăn nuôi của địa phương, có hệ thống chăn nuôi gia công của công ty CP GroupThái Lan, đây là hệ thống chăn nuôi điển hình cả về quy mô trang trại, con giống,thức ăn, kỹ thuật cho tới khâu quản lý trong cả quá trình chăn nuôi
Kinh nghiệm rút ra trong phát triển ngành chăn nuôi gia cầm của tỉnh là: Cầnnghiên cứu tiềm năng lợi thế của tỉnh, thị trường tiêu thụ gia cầm trong và ngoàitỉnh và căn cứ các chủ trương chính sách của trung ương để định hướng cho pháttriển chăn nuôi gia cầm của tỉnh; từng bước thay đổi căn bản ngành chăn nuôi gia
Trang 39cầm theo hướng nâng cao giá trị, chăn nuôi an toàn và phát triển bền vững; Tậptrung chỉ đạo, hướng dẫn áp dụng các tiến bộ KHKT mới như các tiến bộ về giống,thức ăn, kỹ thuật phòng chống dịch bệnh trong chăn nuôi gia cầm.
2.2.2 Tình hình tiêu thụ gia cầm trên cả nước
Theo Cục Chăn nuôi, hiện nay đàn gia cầm khoảng 523 triệu con, tăngkhoảng 4,4% 04 tỉnh có đàn gia cầm trên 20 triệu con là Hà Nội, Nghệ An, ThanhHóa, Đồng Nai Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng 9 tháng đầu năm 2021 ướcđạt 1.286 ngàn tấn; sản lượng trứng gia cầm đạt gần 12 tỷ quả, tăng 5% so vớicùng kỳ Tuy vậy, giá bán thịt gia cầm, đặc biệt là gà lông trắng giảm mạnh khiếnngười chăn nuôi thua lỗ
Theo xu hướng tăng trưởng của năm 2020, trong 9 tháng đầu năm 2021, đàngia cầm tiếp tục phát triển nhưng do nhu cầu thị trường giảm, tình hình dịch bệnhCovid-19 diễn biến phức tạp nên lượng gia cầm tồn đọng trong chuồng cao Đặcbiệt các tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ các doanh nghiệp chăn nuôi trongtháng 8 và 9 chỉ tiêu thụ được 5-10% gà công nghiệp trắng, vừa qua vào thời điểmtháng 8 các tỉnh Tây Nam Bộ và Đông Nam Bộ gà công nghiệp quá tuổi xuấtchuồng ứ đọng trên 9,3 triệu con khối lượng trên 3,8kg (bình thường xuất 1,8-2,5kg), gà lông màu tiêu thụ được khoảng 70% Người chăn nuôi lỗ rất nhiều, ứ đọngtiền vốn
Trang 40Diễn biến giá cả
Theo đánh giá của Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản, Giá gàlông trắng cả hai miền Nam và miền Bắc trải qua 4 chu kỳ tăng giảm hình sin,nhưng tổng thể giá các tháng đầu năm ở mức cao hơn và có xu hướng thấp dần vềcuối năm Đặc biệt, do ảnh hưởng của đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ 4, từtháng 7 giá gà lông trắng giảm mạnh, chạm đáy vào tuần thứ 30 năm 2021
Đến tháng 9, giá gà công nghiệp lông trắng bán cổng trại (các trang trại lớn)
có xu hướng tăng trong tháng 9, tại các tỉnh miền Bắc dao động quanh mức20.000-25.000 đg/kg, tại miền Trung và miền Nam chỉ dao động trong khoảng từ