1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phân tích khái niệm văn hóa thể chất theo quan điểm văn hóa hiện đại

5 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 18,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thuật ngữ TDTT được dùng ở nước ta đã từ lâu Ngay từ khi bắt đầu sử dụng thuật ngữ này chưa có ai xây dựng cho nó nội dung có tính khoa học Trong những tài liệu chuyên môn gần đây thuật ngữ TDTT đã có nội dung cụ thể Nội dung của thuật ngữ này được biên dịch từ các tài liệu nước ngoài Thực ra nếu dịch theo đúng từ điển thì nội dung khái niệm TDTT đang dùng phải mang tên là VHTC Xong khó có thể đổi thuật ngữ đã quen dùng từ lâu.

Trang 1

Phân tích khái niệm Văn hoá Thể chất theo quan điểm Văn hoá hiện đại?

Thuật ngữ TDTT được dùng ở nước ta đã từ lâu Ngay từ khi bắt đầu sử dụng thuật ngữ này chưa có ai xây dựng cho nó nội dung có tính khoa học

- Trong những tài liệu chuyên môn gần đây thuật ngữ TDTT đã có nội dung cụ thể Nội dung của thuật ngữ này được biên dịch từ các tài liệu nước ngoài Thực ra nếu dịch theo đúng từ điển thì nội dung khái niệm TDTT đang dùng phải mang tên là VHTC Xong khó có thể đổi thuật ngữ đã quen dùng từ lâu bằng 1 thuật ngữ mới phù hợp với nội dung khoa học của nó Nên giải quyết mâu thuẫn này bằng cách gán cho những nội dung khoa học mà thế giới đã thống nhất bằng cái tên gọi Việt Nam là TDTT

Như vậy TDTT là từ đồng nghĩa với văn hoá thể chất (VHTC)

- Để hiểu sâu sắc về khái niệm TDTT (VHTC) trước hết phải hiểu

rõ khái niệm văn hoá Bản thân thuật ngữ văn hoá trong ngôn ngữ của các dân tộc trên thế giới cũng được dùng rất phong phú

* Văn hoá trong đời sống xã hội và trong đời sống hàng ngày

- Văn hoá trong đời sống xã hội: Thường chỉ những hoạt động tinh thần của con người và xã hội

- Trong đời sống hàng ngày người ta dùng văn hoá để chỉ hành vi con người, chỉ trình độ học vấn, cách ứng sử

* Nhưng trong các tài liệu tra cứu thì văn hoá được coi là những hoạt động sáng tạo của con người dựa trên cơ sở di sản văn hoá của nhân loại tạo ra những di sản văn hoá mới (phát huy và nối tiếp - tính kế thừa)

*Theo quan điểm triết học: Thì văn hoá là tổng hoà các giá trị vật

chất và tinh thần cũng như các phương thức tạo ra chúng, kỹ năng sử dụng các giá trị đó vì sự tiếp bộ của loài người và sự truyền thụ các giá trị đó từ thế hệ này sang thế hệ khác

Văn hoá chia thành 2 lĩnh vực cơ bản: Văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần

- Văn hoá vật chất là toàn bộ những giá trị sáng tạo của con người được thể hiện trong các của cải vật chất do xã hội tạo ra kể cả các tư liệu sản xuất đến các tư liệu tiêu dùng của xã hội

Trang 2

- Văn hoá tinh thần là toàn bộ những giá trị của đời sống tinh thần bao gồm khoa học và mức độ áp dụng các thành tựu của khoa học vào sản xuất và sinh hoạt, trình độ học vấn tình trạng giáo dục, y tế, nghệ thuật, chuẩn mực đạo đức trong hành vi của các thành viên trong xã hội Văn hoá còn bao gồm cả những phong tục tập quán, những phương thức giao tiếp và ngôn ngữ

- Ranh giới giữa văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần chỉ có tính tương đối

- Văn hoá có tính khách quan hiểu theo nghĩa rộng là tổng hoà những giá trị vật chất và tinh thần của con người

- Văn hoá là một biểu hiện xã hội không chỉ bao quát quá khứ hiện tại mà còn trải rộng trong tương lai

- Văn hoá đó là thuộc tính bản chất tộc loài, con người với chức năng giáo dục, nhận thức, định hướng, đánh giá xác định chuẩn mực của hành vi, điều chỉnh quan hệ ứng xử, giao tiếp

* Văn hoá có một số đặc điểm cơ bản sau:

- Văn hoá còn có tính chất giai cấp, trong xã hội có giai cấp, văn hoá tinh thần mang tính giai cấp Nó phục vụ lợi ích giai cấp nhất định Tính giai cấp đó biểu hiện ở chỗ là Văn hoá do ai sáng tạo phản ánh và phục vụ lợi ích của giai cấp nào, những cơ sở vật chất của Văn hoá (các phương tiện thông tin, tuyên truyền, rạp hát, thư viện, trường học, viện bảo tàng ) do ai làm chủ, tính giai cấp còn thể hiện ở chức năng giáo dục của Văn hoá, nó giáo dục xây dựng con người theo một lý tưởng chính trị xã hội, đạo đức thẩm mỹ của một giai cấp một thời nhất định

Văn hoá có tính giai cấp đồng thời còn có tính dân tộc

Mỗi dân tộc còn có tính phát triển riêng, có điều kiện tự nhiên, cách sinh hoạt riêng, có phong tục tập quán, những thói quen, tâm lý riêng Điều đó quy định đặc điểm riêng của văn hoá dân tộc

- Văn hoá tinh thần của một hình thái kinh tế xã hội xuất hiện và phát triển trên sơ sở vật chất cụ thể và phản ánh trình độ phát triển nhất định của tồn tại vật chất

- Sự phát triển của văn hoá mang tính chất kế thừa: Trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào của văn hoá cũng điều có sự kế thừa văn hoá đã đạt được trong các giai đoạn trước Trên cơ sở đó tiếp thu và cải tạo 1 cách có phê phán, bổ sung và làm cho nó ngày càng phát triển

Trang 3

- Sự phát triển của văn hoá còn có đặc điểm là giữa các yếu tố cấu thành của văn hoá có mối liên hệ tác động lãn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển

- Văn hoá XHCN là văn hoá của giai cấp vô sản và nhân dân lao động có nội dung XHCN, tính chất dân tộc, tính Đảng và tính nhân dân sâu sắc Toàn bộ hoạt động văn hoá lấy việc phục vụ con người làm mục tiêu cao nhất

* Để làm sáng tỏ khái niệm văn hoá người ta so sánh nó với khái niệm tự nhiên

- Tự nhiên là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại ngoài ý thức con người, không phụ thuộc vào con người, không là kết quả của con người Thế giới tự nhiên vận động theo nhưng quy luật tự nhiên của nó, còn văn hoá là những hoạt động nhằm cải tạo tự nhiên, bắt tự nhiên thoả mãn nhu cầu của con người

- Trong quá trình phát triển của xã hội loài người đã nảy sinh một loại hoạt động đặc biệt, nó không tác động vào tự nhiên bên ngoài mà tác động vào phần tự nhiên con người nhằm tới hoàn thiện ngay chính bản thân con người, cải tạo ngay phần tự nhiên trong con người, hoạt động ấy được gọi là TDTT

* Để hiểu được đặc điển của TDTT một cách tương đối toàn diện cần phải phân tích nó theo 3 phương diện: TDTT là một loại hoạt động, TDTT là tổng hợp những giá trị vật chất và tinh thần và TDTT là kết quả của hoạt động

(1) TDTT là một loại hoạt động.

TDTT là những hình thức hoạt động vận động hợp lý mà trong đó con người sử dụng một cách khoa học sự vận động tích cực của cơ bắp

để hoàn thiện cơ thể

- Trong cuộc sống con người sử dụng sự vận động cơ bắp vào nhiều hoạt động sống khác nhau Nhưng không phải tất cả các hình thức vận động đều thuộc về TDTT, mà chỉ có những hình thức vận động được lựa chọn để hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động cần thiết cho cuộc sống, phát triển các tố chất thể lực, phát triển tối ưu trạng thái sức khoẻ và khả năng làm việc mới thuộc về TDTT

Trong trường hợp này thành phần cơ bản của TDTT là bài tập thể chất

Trang 4

- Những công trình nghiên cứu sử học khẳng định rằng, những bài tập thể chất cổ xưa có nguồn gốc từ hoạt động lao động, chúng mang theo đặc điểm lao động chân tay Trong quá trình phát triển tiếp đó TDTT ngày càng có thêm hình thức vận động mới được “thiết kế” để đáp ứng nhu cầu giải quyết các nhiệm vụ văn hoá, giáo dưỡng, giáo dục, củng cố sức khoẻ Điều đó không có nghĩa là mối quan hệ giữa TDTT và lao động đã bị xoá bỏ Theo quan điểm thực dụng thì TDTT mãi mãi vẫn

là phương tiện chuẩn bị trước cho thực tiễn lao động Với quan điểm này thì TDTT là một hoạt động chuẩn bị Kết quả của hoạt động này là trình

độ chuẩn bị thể lực Nó là cơ sở cho việc tiếp thu có kết quả các thao tác lao động, lao động có năng suất cao và giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn đòi hỏi có kỹ năng kỹ xảo vận động hoàn thiện, tố chất thể lực phát triển

và khả năng làm việc cao

(2) TDTT là tổng hợp những giá trị vật chất và tinh thần được

sáng tạo ra trong xã hội để đảm bảo hiệu quả cần thiết của hoạt động này

- Trong quá trình hoạt động chinh phục tự nhiên, con người không chỉ tạo ra những giá trị sử dụng trực tiếp mà còn để lại các kinh nghiệm công cụ, phương pháp có giá trị lâu dài như những di sản đánh giá trình

độ văn minh của mỗi giai đoạn phát triển lịch sử xã hội loài người Vì vậy ngoài ý nghĩa là một hoạt động đặc biệt, TDTT con là tổng hợp những giá trị vật chất và tinh thần đã được sáng tạo ra để đảm bảo hiệu quả cần thiết cho hoạt động tập luyện Ở đây muốn đề cập tới các phương tiện, phương pháp tập luyện đang được sử dụng rộng rãi như thể dục thể thao, trò chơi vận động và rất nhiều bài tập thể chất khác

- Trên con đường phát triển lâu dài của mình nội dung và hình thức của TDTT dần dần được phân hoá phù hợp với các lãnh vực đời sống và hoạt động khác nhau trong xã hội (giáo dưỡng , sản xuất, đời sống hàng ngày, nghỉ ngơi, y học ) Do vậy đã hình thành nên những bộ phận TDTT có ý nghĩa xã hội (TDTT trường học, TDTT sản xuất, đời sống, hồi phục, chữa bệnh )

- Ngoài những giá trị kể trên trong lĩnh vực TDTT còn bao gồm nhiều giá trị văn hoá khác như những kiến thức khoa học thực dụng chuyên môn, những nguyên tắc, quy tắc và phương pháp sử dụng bài tập thể chất, những tiêu chuẩn đạo đức, những thành tích thể thao, những

Trang 5

điều kiện khác được tạo ra phục vụ cho hoạt động TDTT trong xã hội (tuyên truyền về thể thao và TDTT, các tác phẩm nghệ thuật về TDTT, các công trình thể thao, trang thiết bị tập luyện )

(3) TDTT là kết quả của học tập:

- Hoạt động TDTT có đối tượng là con người nên kết quả của nó thể hiện trước nhất ở trình độ chuẩn bị thể lực, mức độ hoàn thiện các kỹ năng kỹ xảo vận động, mức độ phát triển khả năng vận động, thành tích thể thao và những kết quả hữu ích khác đối với xã hội và cá nhân

- Như vậy kết quả hiện thực, bản chất của việc sử dụng giá trị TDTT trong đời sống xã hội, là số người đạt được chỉ tiêu hoàn thiện thể chất Chỉ tiêu hoàn thiện thể chất có tính lịch sử cụ thể, chúng không cố định trong mọi thời gian mà thay đổi tuỳ theo các giai đoạn phát triển xã hội, khi đó phản ánh những yêu cầu thực tế của xã hội

Những tiêu chuẩn cơ bản đánh giá mức độ hoàn hiện thể chất trong từng giai đoạn lịch sử được quy định trong tiêu chuẩn rèn luyện thân thể

và phân loại đẳng cấp VĐV

- Vài trò và giá trị thực tế của TDTT trong xã hội phụ thuộc vào điều kiện sống cơ bản của xã hội

Trong chế độ XHCN, TDTT trở thành tài sản chung và cùng với các loại văn hoá khác nó còn có vai trò quan trọng trong phát triển toàn diện các thành viên xã hội, hơn nữa nó không chỉ là nhân tố hoàn thiện thể chất mà còn là 1 trong những phương tiện có hiệu lực nhất của giáo dục đạo đức thẩm mỹ, trí tuệ, hình thành cân đối nhân cách

Từ những vấn đề trên cho phép định nghĩa TDTT như sau:

TDTT là bộ phận hữu cơ của nền văn hoá xã hội Nội dung đặc thù của TDTT là sử dụng hợp lý hoạt động vận động như 1 nhân tố chuẩn bị thể lực cho cuộc sống, hợp lý hoá trạng thái thể chất và phát triển thể chất.

Theo nghĩa rộng TDTT là toàn bộ thành tựu của xã hội trong sự nghiệp sáng tạo những phương tiện, phương pháp và điều kiện nhằm phát triển khả năng thích nghi thể lực của thế hệ trẻ và người trưởng thành.

Ngày đăng: 26/05/2022, 08:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w