Phần Mở đầu & Đặt vấn đề:Trong bối cảnh toàn cầu hoá với những giao lưu, biến chuyển đa quốc gia và vượt ra khỏi các khuôn khổ, hội nhập kinh tế quốc tế là một điều xu thế tất yếu khách
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN
ĐỀ TÀI Thực trạng Hội nhập Kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay
Họ và tên : Đặng Hải Long
Mã số sinh viên : 11213518 Lớp Tín Chỉ : Kinh tế chính trị Mác - Lênin (221)_32
Hà Nội, ngày 15, tháng 05, năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
Phần 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Hội nhập Kinh tế quốc
1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về Hội nhập Kinh tế quốc tế 3 1.1.1 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế: 3 1.1.2 Nội dung Hội nhập Kinh tế quốc tế 3 1.2 Tính tất yếu khách quan của Hội nhập kinh tế quốc tế 4 1.3 Tác động tích cực của Hội nhập kinh tế quốc tế: 4
Phần 2: Thực trạng về tình hình Hội nhập Kinh tế quốc tế tại Việt
2.1 Thành tựu trong quá trình hội nhập: 6 2.2 Hạn chế trong tiến trình Hội nhập kinh tế quốc tế 7 2.3 Thách thức trong tiến trình Hội nhập kinh tế quốc tế 8
Phần 3: Quan điểm và Đường lối của ĐCSVN trong tiến trình hội
Phần 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả Hội nhập kinh tế quốc tế: 10
Trang 3Phần Mở đầu & Đặt vấn đề:
Trong bối cảnh toàn cầu hoá với những giao lưu, biến chuyển đa quốc gia và vượt ra khỏi các khuôn khổ, hội nhập kinh tế quốc tế là một điều xu thế tất yếu khách quan trong tiến trình phát triển của mọi quốc gia, và Việt Nam không phải là một ngoại lệ Thể theo chủ trương của nhà nước, Hội nhập kinh tế quốc
tế là một trong những yếu tố được đề cao hàng đầu, và vì lý do đó, đất nước ta
đã và đang cố gắng từng bước để tích cực hội nhập trên trường quốc tế
Vốn xuất phát từ một đất nước trải qua nhiều tổn thất chiến tranh nặng nề, Việt Nam phải trải qua một hành trình đổi mới và hội nhập hơn 35 năm với vô vàn thách thức và khó khăn Nhờ những thành tựu đạt được sau những nỗ lực không ngừng nghỉ nhằm thiết lập quan hệ ngoại giao, mở rộng hợp tác và bình thường hóa quan hệ với các nước lớn, , Việt Nam đã dần vươn lên khỏi đói nghèo và dần khẳng định được vị thế như một thành viên quan trọng trong các tổ chức, diễn đàn đa quốc gia
Tuy nhiên, ở bối cảnh hiện tại, vào thời điểm “bình thường mới” sau khi đại dịch Covid-19 tàn phá nặng nề, không chỉ nền kinh tế của Việt Nam mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều đang phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng
từ khoảng thời gian 2 năm đầy biến động Nhằm khắc phục những hệ quả nặng
nề ấy và thúc đẩy sự phát triển của Việt Nam để lấy lại được tốc độ tăng trưởng như trước đại dịch, hội nhập kinh tế quốc tế là một yếu tố vô cùng thiết yếu
Trong quá trình hội nhập, bằng nội lực dồi dào cùng với ngoại lực sẽ kiến tạo
ra những cơ hội cho nước ta phát triển kinh tế Việt Nam sẽ mở rộng được thị trường xuất nhập khẩu, thu hút được vốn đầu tư nước ngoài, tiếp thu được khoa học công nghệ tiên tiến, những kinh nghiệm quý báu của các nước kinh tế phát triển và tạo được môi trường thuận lợi Tuy nhiên, một vấn đề bao giờ cũng có hai mặt đối lập, và vẫn còn tồn đọng rất nhiều những hạn chế trong tiến trình hội nhập
Thấu hiểu điều đó, em xin chọn đề tài: “Thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu.
Trang 4Phần 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Hội nhập Kinh tế quốc tế
1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về Hội nhập Kinh tế quốc tế
1.1.1 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế:
Hội nhập kinh tế quốc tế của một quốc gia là quá trình quốc gia đó thực hiện gắn kết nền kinh tế của mình với nền kinh tế thế giới dựa trên sự chia sẻ lợi ích đồng thời tuân thủ các chuẩn mực quốc tế chung, phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc của Việt Nam Hội nhập vừa là đòi hỏi khách quan vừa là nhu cầu nội tại của sự phát triển kinh tế mỗi nước
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của quá trình tự do hóa thương mại và xu hướng mở cửa nền kinh tế của các quốc gia Hội nhập kinh tế quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề chủ yếu như: Đàm phán cắt giảm các hàng rào thuế quan; Đàm phán cắt giảm các hàng rào phi thuế quan; Giảm thiểu các hạn chế đối với hoạt động dịch vụ; Giảm thiểu các trở ngại đối với hoạt động đầu tư quốc tế; Giảm thiểu các trở ngại đối với hoạt động di chuyển sức lao động quốc tế; Điều chỉnh các công cụ, quy định của chính sách thương mại quốc tế khác
1.1.2 Nội dung Hội nhập Kinh tế quốc tế
Nội dung đầu tiên của Hội nhập Kinh tế quốc tế là chuẩn bị các điều kiện để
thực hiện hội nhập hiệu quả, thành công
Đối với Việt Nam, hội nhập không phải được tiến hành bằng mọi giá, dù nó là một điều tất yếu trên hành trình phát triển đất nước Những điều kiện như sự sẵn sàng về tư duy, sự tham gia của toàn xã hội, sự hoàn thiện và hiệu lực của thể chế, đều là những điều kiện chủ chốt nhằm quyết định sự thành công của hội nhập, và chúng đòi hỏi một sự chuẩn bị kỹ lưỡng trong nội bộ nền kinh tế và các mối quan hệ quốc tế thích hợp
Thứ hai, thực hiện đa dạng các hình thức, các mức độ hội nhập kinh tế quốc
tế
Hội nhập kinh tế quốc tế có thể diễn ra theo nhiều mức độ Dựa theo mức độ tham gia của một nước vào các quan hệ kinh tế đối ngoại, các tổ chức kinh tế
Trang 5quốc tế hoặc khu vực, mà người đánh giá hội nhập kinh tế quốc tế là nông hay sâu Cụ thể hơn, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế được chia thành các mức độ
cơ bản từ thấp đến cao là: Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA), Khu vực mậu dịch tự do (FTA), Liên minh thuế quan (CU), Thị trường chung (hay thị trường duy nhất), Liên minh kinh tế - tiền tệ…
1.2 Tính tất yếu khách quan của Hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ nhất, lý do nói Hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan là bởi
bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế
Toàn cầu hóa là quá trình tạo ra liên kết và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các quốc gia trên quy mô toàn cầu Toàn cầu hoá kinh tế là xu thế nổi trội nhất, biểu thị sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vượt qua mọi biên giới quốc gia, khu vực, tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong sự vận động phát triển hướng tới một nền kinh tế thế giới thống nhất Trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế hội nhập kinh tế quốc tế trở thành tất yếu khách quan bởi nền kinh tế của các nước không thể tách rời nền kinh tế toàn cầu Do đó, nếu không hội nhập kinh tế quốc tế, các nước không thể tự đảm bảo được các điều kiện cần thiết cho sản xuất trong nước
Thứ hai, hội nhập kinh tế quốc tế là phương thức phát triển phổ biến của các
nước, nhất là các nước đang và kém phát triển trong điều kiện hiện nay
Đối với các nước đang và kém phát triển thì hội nhập kinh tế quốc tế là cơ hội
để tiếp cận và sử dụng được các nguồn lực bên ngoài như tài chính, khoa học công nghệ, kinh nghiệm của các nước cho phát triển của mình Khi mà các nước
tư bản giàu có nhất, các công ty xuyên quốc gia đang nắm trong tay những nguồn lực vật chất và phương tiện hùng mạnh nhất để tác động lên toàn thế giới thì chỉ có phát triển kinh tế mở và hội nhập quốc tế, các nước đang và kém phát triển mới có thể tiếp cận được nhưng năng lực này cho phát triển của mình
1.3 Tác động tích cực của Hội nhập kinh tế quốc tế:
Không thể phủ nhận rằng, hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ đem lại những lợi ích to lớn trong phát triển của các nước mà con tạo ra những lợi ích kinh tế khác nhau cho cả người sản xuất và người tiêu dùng
Trước hết, HNKTQT tạo điều kiện mở rộng thị trường, tiếp thu khoa học công
nghệ, vốn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước
Trang 6Hội nhập kinh tế quốc tế tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý, hiện đại và hiệu quả hơn, qua đó hình thành các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn để nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của các sản phẩm và doanh nghiệp trong nước, góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, làm tăng khả năng thu hút khoa học công nghệ hiện đại và đầu tư bên ngoài vào nền kinh tế
Không dừng lại ở đó, hội nhập kinh tế quốc tế cũng đưa những cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế, nguồn tín dụng và các đối tác quốc tế đến gần hơn với các doanh nghiệp trong nước nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế
Tiếp theo, hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện để các nhà hoạch định chính sách nắm bắt tốt hơn tình hình và xu thế phát triển của thế giới, từ đó xây dựng
và điều chỉnh chiến lược phát triển hợp lý, đề ra chính sách phát triển phù hợp cho đất nước
Thứ hai, HNKTQT còn tạo cơ hội để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Cụ
thể hơn, nhờ đẩy mạnh các công cuộc hợp tác giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học với các nước lớn tân tiến, hiện đại, ta sẽ có khả năng hấp thụ các tinh hoa khoa học công nghệ, cũng như được chuyển giao từ các nhà đầu tư nước ngoài Từ đó, HNKTQT giúp nâng cao trình độ của nguồn nhân lực và tiềm lực khoa học công nghệ
Cuối cùng, HNKTQT tạo điều kiện để thúc đẩy hội nhập của các lĩnh vực văn
hóa, chính trị, củng cố an ninh quốc phòng Trong thời đại giao lưu và biến chuyển xuyên biên giới, các nước sẽ có cơ hội tiếp thu các tinh hoa văn hoá của nhau, cũng như nắm bắt các tiến bộ văn minh để làm giàu nét đẹp văn hoá dân tộc và xây dựng xã hội đa quốc gia, đa chủng tộc
Ngoài ra, hội nhập kinh tế quốc tế cũng giúp đảm bảo an ninh quốc gia, duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực và quốc tế để tập trung cho phát triển kinh tế xã hội; đồng thời mở ra khả năng phối hợp các nỗ lực và nguồn lực của các nước
để giải quyết những vấn đề quan tâm chung như môi trường, biến đổi khí hậu, phòng chống tội phạm và buôn lậu quốc tế
Trang 7Phần 2: Thực trạng về tình hình Hội nhập Kinh tế quốc tế tại Việt Nam hiện nay
2.1 Thành tựu trong quá trình hội nhập:
Dù nền kinh tế thế giới và khu vực luôn có những biến động khó lường và tiềm tàng những rủi ro ảnh hưởng đến Việt Nam, nhưng đất nước ta vẫn kiên quyết với chủ trương coi HNKTQT và tự do hoá thương mại là một tất yếu khách quan trên tiến trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trong tiến trình HNKTQT, Việt Nam cũng đã đạt được một số điểm sáng trong trường quốc tế và khu vực:
Một là, HNKTQT đã thúc đẩy sức mạnh tổng hợp của Việt Nam về nhiều mặt,
trong đó bao gồm: sự tăng trưởng trong kết cấu hạ tầng kinh tế, sự gia tăng trong nguồn nhân lực cung ứng cho sự phát triển KT - XH, môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, minh bạch và năng lực cạnh tranh cũng được nâng cao Bởi vậy, Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá là một trong những nền kinh tế có triển vọng tốt và tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực
Thứ hai, HNKTQT tác động mạnh đến tăng trưởng, góp phần thúc đẩy phát
triển KT-XH Một ví dụ minh hoạ điển hình là, sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã liên tục duy trì được tốc độ tăng trưởng cao Cụ thể, năm 2016 đạt 6,1%, năm 2017 GDP đạt 6,81%, năm 2018 đạt 7% Sau thời điểm đại dịch covid-19 tàn phá nặng nề nền Kinh tế thế giới, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam cũng được dự báo sẽ có những chuyển biến khởi sắc Trong Báo cáo điểm lại tháng 01/2022 của Ngân hàng Thế giới (World Bank), GDP của Việt Nam sẽ bật tăng trở lại từ 2,58% năm 2021 lên 5,5% năm 2022
Ba là, HNKTQT giúp gia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu, cũng như góp phần
mở rộng thị trường đa dạng các loại hàng hóa tham gia XNK Từ một nước nhập siêu, Việt Nam đã dần đạt được trạng thái cân bằng XNK khi kim ngạch xuất khẩu ngày một tăng cao Là thành viên của WTO, Việt Nam đã được 71 đối tác công nhận là nền kinh tế thị trường, thành công tạo dựng chỗ đứng cho nhiều sản phẩm trên những thị trường có yêu cầu cao về chất lượng như Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Mỹ
Thứ tư, HNKTQT sâu rộng hơn góp phần đưa Việt Nam trở thành một “mắt
xích” quan trọng trong mạng lưới các liên kết kinh tế với các nền kinh tế hàng
Trang 8đầu thế giới (gồm 12 FTA đã ký và đang thực thi; 2 Hiệp định đã ký kết, 4 FTA đang đàm phán bảo đảm cho kết nối thương mại tư do, ưu đãi cao với 60 nền kinh tế, chiếm 90% kim ngạch thương mại của Việt Nam); đồng thời, tạo động lực mới và cả “sức ép” mới để thúc đẩy mạnh mẽ hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế Môi trường pháp lý, chính sách kinh tế, cơ chế quản lý trong nước được cải cách theo hướng ngày càng phù hợp với các cam kết tiêu chuẩn cao trong các FTA và ngày càng minh bạch hơn, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước ngày càng thông thoáng hơn, tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế cao của khu vực và thế giới
Năm là, thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam đạt được nhiều kết quả ấn
tượng Hội nghị Liên Hợp quốc về thương mại và phát triển đánh giá, Việt Nam nằm trong 12 quốc gia thành công nhất về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Hiện nay, có gần 26.000 doanh nghiệp (DN) FDI đang hoạt động ở Việt Nam, với số vốn cam kết đầu tư trên 330 tỷ USD đến từ gần 130 quốc gia
và đối tác Vốn FDI vào Việt Nam chiếm 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Các đối tác đã cam kết viện trợ hơn 3 tỷ USD cho Việt Nam trong giai đoạn 2018-2020 Việt Nam từng bước trở thành một trong những công xưởng của thế giới về cung ứng hàng điện tử, dệt may, da giầy, điện thoại di động…
2.2 Hạn chế trong tiến trình Hội nhập kinh tế quốc tế
Tuy nhiên, ngoài những thành tựu quan trọng Việt Nam đạt được đã kể trên, chúng ta vẫn còn nhiều điểm hạn chế và mặt yếu kém cần được khắc phục trong tiến trình HNKTQT Trong đó bao gồm:
Thứ nhất, hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần làm bộc lộ những yếu kém cơ
bản của nền kinh tế Cơ cấu kinh tế và chất lượng tăng trưởng vẫn chưa được cải thiện về căn bản Tăng trưởng thời gian qua phần nhiều dựa vào các yếu tố như tín dụng, lao động rẻ mà thiếu sự đóng góp đáng kể của việc gia tăng năng suất lao động hay hàm lượng tri thức, công nghệ
Thứ hai, hiệu quả đầu tư chưa cao như mong muốn, chậm đổi mới chính sách
liên quan đến thu hút FDI Việc thu hút các dự án FDI tăng về số lượng, nhưng chất lượng chưa đảm bảo, công nghệ chưa tốt, đặc biệt công nghệ trong những lĩnh vực Việt Nam cần đổi mới mô hình tăng trưởng Ngân hàng Thế giới (WB) nhận xét: “Vốn FDI gắn kết với kinh tế trong nước còn kém, kết nối trong nước chủ yếu ở các lĩnh vực có giá trị gia tăng thấp, hầu hết đầu vào (70- 80%) đều
Trang 9phải nhập khẩu” Nhận xét đó, dù rất đáng lưu tâm, nhưng chưa cho thấy sự bành trướng của khu vực FDI trong nền kinh tế Việt Nam
Thứ ba, sức cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp và sản phẩm của Việt
Nam vẫn còn yếu so với các nước, kể cả các nước trong khu vực Các ngành kinh tế, các doanh nghiệp mang tính mũi nhọn, có khả năng vươn ra chiếm lĩnh thị trường khu vực và thế giới chưa nhiều, một số sản phẩm đã bắt đầu gặp khó khăn trong cạnh tranh, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu có xu hướng giảm
Thứ tư, việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tuy
đã có những chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ, đôi khi lúng túng trong việc xác định hướng đi Các thị trường bất động sản, tài chính, lao động, khoa học - công nghệ tuy đã hình thành và phát triển nhưng vẫn cần có sự cải thiện
Thứ năm, một số địa phương lúng túng trong việc triển khai công tác hội nhập
kinh tế quốc tế Vẫn tồn tại khoảng cách khá xa về năng lực và thiếu sự gắn kết,
hỗ trợ giữa khu vực FDI và khu vực doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa Công tác thông tin truyền thông về hội nhập, năng lực giải quyết tranh chấp thương mại, đầu tư quốc tế còn hạn chế; chưa tận dụng được hết các cơ hội do các hiệp định FTA mang lại
2.3 Thách thức trong tiến trình Hội nhập kinh tế quốc tế
Trong tình hình hiện nay - thời đại kỷ nguyên số, việc Hội nhập kinh tế quốc tế cũng đem đến những thách thức khó giải quyết cho các quốc gia toàn cầu, bao gồm cả các nước lớn và những nước đang/kém phát triển
Một là, hội nhập quốc tế kỷ nguyên số tạo ra nguy cơ về tụt hậu kinh tế Các
nước phát triển có tiềm lực về tài chính, công nghệ sẽ đầu tư và triển khai chuyển đổi số nhanh hơn các nước khác Trong khi đó, các quốc gia đang phát triển chậm đưa ra các chính sách chuyển đổi số, hội nhập trong lĩnh vực số sẽ gặp khó khăn hơn về thu hút nguồn lực cho chuyển đổi số Với tốc độ phát triển rất nhanh của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghiệp 4.0), nguy
cơ tụt hậu xa hơn của các quốc gia “chậm chân” cũng lớn hơn rất nhiều so với trước đây
Hai là, hội nhập quốc tế trong kỷ nguyên số khiến gia tăng thách thức về bảo
đảm an ninh quốc gia và bảo vệ, giữ vững chủ quyền lãnh thổ Nguy cơ an ninh
Trang 10mạng đối với các quốc gia ngày càng tăng, với thiệt hại năm 2021 từ tấn công mạng lên tới hơn 4% GDP toàn cầu Các thách thức về quốc phòng, an ninh gia tăng do sự phát triển của các vũ khí, khí tài thế hệ mới tích hợp công nghệ số, nhất là trí tuệ nhân tạo (AI) Việc các nước tiến hành chiến dịch thông tin giả
để chống phá, can thiệp lẫn nhau, làm gia tăng rủi ro về mức độ và quy mô bất
ổn xã hội
Ba là, hội nhập quốc tế trong kỷ nguyên số tạo ra thách thức trong quản lý
hoạt động của khu vực tư nhân trong không gian mạng Việc một số ít tập đoàn công nghệ lớn trên thế giới đóng vai trò chính về hạ tầng, nền tảng số, dữ liệu tạo ra rủi ro lớn đối với an ninh quốc gia của các nước Xử lý mối quan hệ giữa chính phủ và các tập đoàn công nghệ lớn là bài toán nan giải, ngay cả đối với các cường quốc như Mỹ Các nước đang phát triển gặp nhiều thách thức trong quản lý các hoạt động kinh tế, nhất là các dịch vụ, nền tảng số xuyên biên giới, như đánh thuế, kiểm soát nội dung số, quản lý lao động làm việc xuyên quốc gia trong không gian số
Bốn là, hội nhập quốc tế trong kỷ nguyên số khiến các quốc gia phải đối mặt
với những tác động từ cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn trong xây dựng
và định hình “luật chơi” toàn cầu, nhất là trong không gian số Đơn cử như, cạnh tranh trong các lĩnh vực tài chính, tiền tệ số có khả năng sẽ gia tăng khi một số quốc gia, như Trung Quốc, Nhật Bản, Liên minh châu Âu (EU) chuẩn bị phát hành các đồng tiền số, coi đây là đơn vị tiền tệ quốc gia chủ quyền
Phần 3: Quan điểm và Đường lối của ĐCSVN trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế:
Tình hình thế giới và khu vực tiếp tục chuyển biến sâu sắc, phức tạp; cơ hội và thách thức đan xen Để tận dụng và phát huy hơn nữa những thành tựu hội nhập kinh tế quốc tế thời gian qua, nâng tầm sự tham gia, đóng góp và vai trò của Việt Nam, tôi cho rằng cần tập trung vào một số định hướng sau:
Một là, ưu tiên hàng đầu cho việc thực thi hiệu quả các cam kết trong các Liên
kết kinh tế quốc tế và khu vực mà chúng ta là thành viên Việc thực thi cam kết trong môi trường quốc tế biến động, cạnh tranh gay gắt đặt chúng ta trước nhiều vấn đề mới, phức tạp có thể phát sinh như tranh chấp thương mại, đầu tư, công nghệ, các vấn đề liên quan đến lao động, môi trường…, đòi hỏi chúng ta phải