HỌC VIỆN NGÂN HÀNGKHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Học phần: Kinh tế chính trị Mác – Lênin PLT08A giải pháp để phát triển thị trường tiêu thụ nông sản Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần: Kinh tế chính trị Mác – Lênin (PLT08A)
giải pháp để phát triển thị trường tiêu thụ nông sản Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Giảng viên hướng dẫn : Nguyễn Thị Giang
Hà Nội, ngày 01 tháng 04 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Nội dung của đề tài 3
3 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4
NỘI DUNG 5
Chương 1: Khái quát lý luận: Khái niệm và vai trò của thị trường 5
1 Khái niệm thị trường 5
2 Vai trò của thị trường 5
Chương 2: Thực trạng thị trường tiêu thụ nông sản Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 7
1 Tổng quan về thị trường tiêu thụ nông sản Việt Nam 7
2 Thị trường tiêu thụ một số mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam 7
2.1 Đối với tiêu thụ cây hàng năm: 7
2.2 Đối với tiêu thụ cây lâu năm 8
2.3 Thực trạng “thắt búi” trong sản xuất và tiêu thụ hàng nông sản 9
2.4 Điểm sáng trong tiêu thụ và thách thức đặt ra đối với hàng nông sản bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 10
3 Thúc đẩy tiêu thụ nông sản nội địa vì khó khăn xuất khẩu còn kéo dài 11 Chương 3: Giải pháp phát triển thị trường tiêu thụ nông sản Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 12
1 Đẩy mạnh kết nối tiêu thụ nông sản ở nước ngoài 12
2 Chia sẻ lợi ích giữa doanh nghiệp, các đối tác khác với người sản xuất nông sản 14
3 Tăng giá trị của sản phẩm nông nghiệp trong chuỗi giá trị toàn cầu15 4 Hoàn thiện chính sách vĩ mô, nâng cao vai trò quản lý của nhà nước 15
KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thị trường nông sản luôn là vấn đề trọng yếu của mỗi quốc gia, kể cả với những nước đã đạt đến trình độ phát triển cao Nó là một thành phần quan trọng đối với tiến trình phát triển kinh tế, đảm bảo việc xây dựng mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia với nhau Năm 2020, Việt Nam vẫn được nhận định
là một quốc gia nông nghiệp lạc hậu Nhưng tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam được đánh giá là một cường quốc nông nghiệp Tuy nhiên thị trường nông sản Việt Nam đã bị ảnh hưởng không nhỏ do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 gây ra Những kết quả đã đạt được trong nông sản năm 2022 sẽ là nền tảng quan trọng, tạo đà bứt phá cho hoạt động xuất khẩu của nhóm hàng này trong năm 2022, nhất là trong bối cảnh Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái BìnhDương (CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu -Việt Nam (EVFTA) đang trong giai đoạn triển khai mạnh mẽ, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Vương quốc Anh (UKVFTA) chính thức có hiệu lực từ đầu năm 2021 và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) chính thức
có hiệu lực từ ngày 1/1/2022
Từ những điều trên, việc nghiên cứu đề tài “Phân tích khái niệm và vai trò của thị trường Nêu giải pháp để phát triển thị trường tiêu thụ nông sản Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” là cần thiết và cấp thiết, qua đó, giúp rút ra những giá trị bản chất, bài học kinh nghiệm, đóng góp cho quá trình tiếp tục xây dựng một thị trường nông sản Việt Nam vững mạnh trong tương lai
2. Nội dung của đề tài
Phần nội dung của đề tài sẽ bao gồm ba phần chính:
Phần lý luận sẽ tập trung phân tích về khái niệm và vai trò của thị trường, đặc biệt là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Dựa vào phần lý luận ở trên, bài tiểu luận này sẽ nghiên cứu tình hình thực tại và nguyên nhân của thị trường nông sản Việt Nam Trên cơ sở nghiên
Trang 4cứu và vận dụng lý thuyết để phân tích và đánh giá thực trạng, để từ đó, duy trì những mặt tốt và đề xuất các hướng đi trong chính sách để đạt được mục tiêu thị trường tiêu thụ nông sản Việt Nam phát triển bền vững hơn trong tương lai
3. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lý luận: Đề tài giải quyết vấn đề lý luận của khái niệm và vai trò của thị trường Từ đó đưa ra những giải pháp có tính xây dựng cho thị trường tiêu thụ nông sản Việt Nam
Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao giúp xác định được tổng quan, đánh giá thực trạng thị trường nông sản Việt Nam, đồng thời tạo lập cơ sở khoa học, luận cứ thực tiễn cho việc tìm ra những giải pháp năng cao năng suất tiêu thụ cho nông sản Việt Nam
Trang 5NỘI DUNG
Chương 1: Khái quát lý luận: Khái niệm và vai trò của thị trường
1. Khái niệm thị trường
Thị trường là tổng hòa những quan hệ kinh tế, trong đó nhu cầu của các chủ thể được đáp ứng thông qua việc trao đổi, mua bán với sự xác định giá cả và số lượng hàng hóa, dịch vụ tương ứng với trình độ phát triển nhất định của nền sản xuất xã hội
Như vậy, thị trường có thể được nhận diện ở cấp độ cụ thể, quan sát được như chợ, cửa hàng, quầy hàng lưu động, phòng giao dịch hay siêu thị và nhiều hình thức tổ chức giao dịch, mua bán khác
Ở cấp độ trừu tượng hơn, thị trường cũng có thể được nhận diện thông qua các mối quan hệ liên quan đến trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ trong xã hội, được hình thành do những điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội nhất định Theo định nghĩa này, thị trường là tổng thể các mối quan hệ kinh tế gồm cung, cầu, giá cả; quan hệ họ hàng – tiền; quan hệ giá trị, giá trị sử dụng; quan hệ hợp tác, cạnh tranh; quan hệ trong nước, ngoài nước… Đây cũng là các yếu tố của thị trường
2. Vai trò của thị trường
Xét trong mối quan hệ với thúc đẩy sản xuất và trao đổi hàng hóa (dịch vụ) cũng như thúc đẩy tiến bộ xã hội, vai trò chủ yếu của thị trường có thể được khái quát như sau:
Một là, thị trường thực hiện giá trị hàng hóa, là điều kiện, môi trường cho sản xuất phát triển
Giá trị hàng hóa được thực hiện thông qua trao đổi Việc trao đổi phải được diễn ra ở thị trường Thị trường là môi trường để các chủ thể thực hiện giá trị hàng hóa Sản xuất hàng hóa càng phát triển, sản xuất ra càng nhiều hàng hóa, dịch vụ thì càng đòi hỏi thị trường tiêu thụ phải rộng lớn hơn Sự mở rộng
Trang 6thị trường đến lượt nó lại thúc đẩy trở lại sản xuất phát triển Vì vậy, thị trường
là môi trường, là điều kiện không thể thiếu của quá trình sản xuất kinh doanh Thị trường là cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng Thị trường đặt ra các nhu cầu cho sản xuất cũng như nhu cầu cho tiêu dùng Vì vậy, thị trường có vai trò thông tin, định hướng cho mọi nhu cầu sản xuất kinh doanh
Hai là, thị trường kích thích sự sáng tạo của mọi thành viên trong
xã hội, tạo ra cách thức phân bổ nguồn lực hiệu quả trong kinh tế
Thị trường thúc đẩy các quan hệ kinh tế không ngừng phát triển Do
đó, đòi hỏi các thành viên trong xã hội phải không ngừng nỗ lực, sáng tạo
để thích ứng với sự phát triển của thị trường Khi sự sáng tạo được thị trường chấp nhận, chủ thể sáng tạo sẽ được thụ hưởng lợi ích tương xứng Khi lợi ích được đáp ứng, động lực cho sự sáng tạo được thúc đẩy Cứ như vậy sẽ kích thích sự sáng tạo của mọi thành viên trong xã hội
Thông qua thị trường, các nguồn lực cho sản xuất được điều tiết, phân
bổ tới các chủ thể sử dụng hiệu quả, thị trường tạo ra cơ chế để lựa chọn các chủ thể có năng lực sử dụng nguồn lực hiệu quả trong nền sản xuất
Ba là, thị trường gắn kết nền kinh tế thành một chỉnh thể, gắn kết
nền kinh tế quốc qua với nền kinh tế thế giới
Xét trong phạm vi quốc gia, thị trường làm cho các quan hệ sản xuất lưu thông, phân phối, tiêu dùng trở thành một thể thống nhất Thị trường không phụ thuộc vào địa giới hành chính Thị trường gắn kết mọi chủ thể giữa các khâu, giữa các vùng, miền vào một chỉnh thể thống nhất
Xét trong quan hệ với nền kinh tế thế giới, thị trường tạo ra sự gắn kết nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới Các quan hệ sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng không chỉ bó hẹp trong phạm vi nội bộ quốc gia,
mà thông qua thị trường, các quan hệ đó có sự kết nối, liên thông với các quan hệ trên phạm vi thế giới Với vai trò này, thị trường góp phần thúc đẩy
sự gắn kết nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới
Trang 7Vai trò của thị trường luôn không tách rời với cơ chế thị trường Thị trường trở nên sống động bởi có sự vận hành của cơ chế thị trường
Cơ chế thị trường là hệ thống các quan hệ mang tính tự điều chỉnh tuân theo yêu cầu của các quy luật kinh tế
Cơ chế thị trường là phương thức cơ bản để phân phối và sử dụng các nguồn vốn, tài nguyên, công nghệ, sức lao động, thông tin, trí tuệ… trong nền kinh tế thị trường Đây là một kiểu cơ chế vận hành nền kinh tế mang tính khách quan, do bản thân nền sản xuất hàng hóa hình thành
Cơ chế thị trường được A Smith ví như là một “bàn tay vô hình” có khả năng tự điều chỉnh các quan hệ kinh tế
Chương 2: Thực trạng thị trường tiêu thụ nông sản Việt Nam trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
1 Tổng quan về thị trường tiêu thụ nông sản Việt Nam.
Kết thúc năm 2021, mặc dù chịu ảnh hưởng nghiêm trọng trước diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19, kinh tế trong nước đã từng bước vượt qua khó khăn và đạt những kết quả đáng ghi nhận Tổng sản phẩm trong nước trong quý IV/2021 ước tính tăng 5,22%, đưa tăng trưởng GDP của toàn nền kinh tế trong năm 2021 ước tính đạt 2,58% Trong đó, một số mặt hàng đã vượt so với mục tiêu đặt ra như cao su, hạt điều, gỗ và sản phẩm gỗ Tổng kinh ngạch xuất khẩu 10 mặt hàng nông, lâm, thủy sản chủ lực trong năm 2021 ước đạt 42,8 tỷ USD, tăng 14,5% so với năm 2020 và chiếm 12,7% tỷ trọng trên tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước Trong đó, giá lúa gạo tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) điều chỉnh giảm so với tháng trước do nhu cầu cuối năm ở mức thấp khi các nước bước vào các kỳ nghỉ lễ
2 Thị trường tiêu thụ một số mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam.
2.1 Đối với tiêu thụ cây hàng năm:
Sắn và sản phẩm từ sắn: Trong mấy tháng đầu năm 2021, lượng tiêu thụ của thị trường Trung Quốc có xu hướng giảm gây ra nhiều khó khăn cho các
Trang 8nhà máy sắn Việt Nam Tồn kho sắn cao hơn kế hoạch hàng năm, trong khi tình hình dịch Covid 19 tại Việt Nam và trên thế giới vẫn đang diễn biến phức tạp, đã gây nên sức ép đối với các nhà máy có tiềm lực tài chính trung bình Nguồn cung sắn tươi nguyên liệu của Việt Nam giảm, khiến cho sản lượng tinh bột sắn liên tục giảm, trong khi thị trường sắn lát khô của Việt Nam vẫn ổn định
Lúa gạo: Tại thị trường trong nước, giá lúa lại có xu hướng giảm sau một vụ mùa bội thu Trong quý II, giá gạo trong nước giảm do vào vụ thu hoạch Trong tháng 6, giá gạo Việt Nam đạt 493 USD/tấn vào đầu tháng và giữ nguyên mức này Đối với giá gạo trong nước, nguồn cung nội địa tiếp tục tăng khi nông dân các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long bắt đầu thu hoạch lúa vụ Hè thu Trong quý III, tại nhiều tỉnh đồng bằng sông Cửu Long như Long An, Cần Thơ, An Giang giá lúa khá ổn định thì ở Bạc Liêu, Tiền Giang, Đồng Tháp giá lúa đã tăng trở lại Mặc dù giá gạo xuất khẩu tăng, nhưng giá lúa tươi và lúa khô tại thị trường nội địa vẫn ổn định
2.2 Đối với tiêu thụ cây lâu năm
Thị trường cà phê: Quý I/2021, giá cà phê Robusta tại thị trường nội địa biến động không đồng nhất Cuối tháng1/2021, giá cà phê Robusta ở mức 31.500đồng/kg, sau đó tăng lên mức 33.100 đồng/kg cuối tháng 2/2021, nhưng giảm xuống 32.900 đồng/kg cuối tháng 3/2021 Xu hướng tăng giá kéo dài sang cả tháng7/2021 Ngày 28/7/2021, giá cà phê tại thị trường nội địa tăng theo giá thế giới Tại cảng khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, giá cà phê tăng 6,8% so với ngày30/6/2021, lên 39.400 đồng/kg Tính chung quý III, giá cà phê tăng khoảng 12% ở các tỉnh Tây Nguyên nhờ giá thế giới tăng mạnh
Hạt tiêu: Niên vụ 2020/21, sản lượng hạt tiêu của cả nước dự kiến sẽ giảm mạnh, nhưng xu hướng sản xuất theo hướng bền vững gia tăng ở nhiều nơi Sang tháng 4/2021 giá có xu hướng giảm Ngày 28/4/2021, giá hạt tiêu tại thị trường nội địa phổ biến ở mức 64.000 – 69.000 đồng/kg, giảm 8,0 – 10,5%
so với ngày 30/3/2021 Tuy nhiên, sang tháng 7, giá tiêu có xu hướng ổn định hoặc giảm nhẹ Tại các tỉnh Tây Nguyên giá tiêu đen dao động ở mức 72.500 –
Trang 975.500 đồng/kg tínhđến ngày 12/7, giảm 500 – 1.000 đồng/kg so với cuối tháng trước
2.3 Thực trạng “thắt búi” trong sản xuất và tiêu thụ hàng nông sản
Trong thời gian qua, mặc dù sản lượng hàng nông sản của nước ta đã được tăng lên đáng kể song chưa có nhiều chuyển biến về chất lượng Nguyên nhân là do: (i) sản xuất nông nghiệp chủ yếu còn manh mún, quy mô nhỏ, tự phát, cá thể; (ii) người nông dân sản xuất theo kinh nghiệm là chủ yếu mà không tuân thủ theo qui trình, mẫu mã sản phẩm không đúng chuẩn, vì vậy chất lượng sản phẩm không đạt chuẩn an toàn; (iii) yêu cầu của an ninh lương thực khiến nông dân không linh hoạt được trong hoạt động sản xuất
Bên cạnh đó, việc tiêu thụ hàng nông sản nước ta cũng đang gặp nhiều khó khăn Trong những năm vừa qua, hàng nông sản nước ta luôn phải gặp tình cảnh
“được mùa mất giá” Điều này xuất phát từ nguyên nhân lớn nhất là sản xuất nông nghiệp của nước ta chủ yếu tự phát, chưa gắn với thị trường, với chuỗi giá trị ngành hàng Các doanh nghiệp kinh doanh về lĩnh vực nông nghiệp của nước ta chưa phát triển theo hướng bền vững, chưa mạnh dạn xây dựng các vùng nguyên liệu vì không có thị trường ổn định Các doanh nghiệp sản xuất hàng nông sản đang phụ thuộc quá nhiều vào một số thị trường xuất khẩu chủ yếu như Trung Quốc, Philipine, Indonexia, Malaysia… mà chưa mở rộng tới các thị trường cao cấp khác như các nước trong khối Liên minh Châu Âu, Mỹ…
Mối quan hệ giữa người nông dân và doanh nghiệp trong tiêu thụ hàng nông sản chưa có sự gắn kết cao Thực tế sản xuất ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy, giữa doanh nghiệp và người nông dân thường xảy ra tình trạng “bội tín lẫn nhau” Người nông dân thường chỉ bán hàng nông sản qua thương lái mà ít làm việc trực tiếp với các doanh nghiệp nông sản vì sợ bội tín Điều này dẫn tới tình trạng tư thương, thương lái ép giá nông sản của nông dân
Các chính sách hỗ trợ tiêu thụ hàng nông sản của Nhà nước được đánh giá
là chưa có tính tổng thể, chưa giải quyết tận gốc vấn đề Các chính sách của Nhà nước cũng chỉ mới dừng lại ở việc hỗ trợ doanh nghiệp, vì vậy, người nông
Trang 10dân chưa được hưởng lợi trực tiếp từ các chính sách này Ví dụ như mua tạm trữ hàng nông sản; cho doanh nghiệp vay vốn không lãi suất để mua hàng nông sản (đặc biệt là lúa) với giá rẻ…
2.4 Điểm sáng trong tiêu thụ và thách thức đặt ra đối với hàng nông sản
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Với tiềm năng rất lớn về nông nghiệp, Việt Nam sẽ có rất nhiều cơ hội để đẩy mạnh sản xuất và tiêu thụ hàng nông sản trong điều kiện hội nhập hiện nay, cụ thể là:
(1) Trong thời gian qua, Việt Nam đã ký kết một số hiệp định thương mại
tự do song phương, đa phương với các nước trên thế giới (FTA với Hàn Quốc, FTA với Liên minh Châu Âu, TPP, FTA Cộng đồng kinh tế ASEAN…), vì thế, trong thời gian tới, nước ta sẽ có cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu hàng nông sản với thuế suất thấp hoặc không thuế suất Bên cạnh đó, nước ta cũng có cơ hội để nhập khẩu các nguyên, phụ liệu nông nghiệp một cách thuận lợi hơn, giá thành rẻ hơn…;
(2) Với thị trường xuất khẩu được mở rộng sẽ khắc phục được tình trạng bị phụ thuộc vào một số đối tác, một số thị trường cụ thể;
(3) Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có điều kiện dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các đối tác, đẩy mạnh việc hợp tác phát triển sản xuất, tiêu thụ hàng nông sản
Tuy nhiên, song song với các cơ hội được mở ra, hàng nông sản nước
ta cũng đứng trước các thách thức khó khăn lớn Các thách thức, khó khăn sẽ xuất hiện ngay khi các cam kết thương mại tự do có hiệu lực, cụ thể gồm:
(1) Các thị trường này có yêu cầu về kỹ thuật rất cao đối với hàng nông sản như: yêu cầu về nhãn mác hàng hóa, bao bì đóng gói, dư lượng tối đa hóa chất trong sản phẩm nông nghiệp, tính hợp pháp của nguyên liệu sử dụng… Đây là một thách thức rất lớn mà hàng nông sản Việt nam phải đối mặt;