Học phần: Lịch sử các học thuyết kinh tếĐỀ TÀI : “PHÂN TÍCH LÝ THUYẾT LỢI THẾ TUYỆT ĐỐI VÀ LỢI THẾ SO SÁNH TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA TRƯỜNG PHÁI KINH TẾ CHÍNH TRỊ TƯ SẢN CỔ ĐIỂN ANH..
Trang 1Học phần: Lịch sử các học thuyết kinh tế
ĐỀ TÀI :
“PHÂN TÍCH LÝ THUYẾT LỢI THẾ TUYỆT ĐỐI VÀ LỢI THẾ SO SÁNH TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA TRƯỜNG PHÁI KINH TẾ CHÍNH TRỊ TƯ SẢN CỔ ĐIỂN
ANH Ý NGHĨA CỦA CÁC LÝ THUYẾT NÀY TRONG ĐIỀU
KIỆN HIỆN NAY.”
Giảng viên hướng dẫnSinh viên thực hiệnLớp
Mã sinh viên
: TS Phạm Thị Nguyệt : Nguyễn Thu Trang : K22TCI
: 22A4010847
Hà nội, ngày 19 tháng 1 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu 4
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4
NỘI DUNG 5
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 5
1.1 Hoàn cảnh ra đời của trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh 5 1.2 Đặc điểm cơ bản của trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh 5 1.3 Các đại diện tiêu biểu 6
PHẦN 2: PHÂN TÍCH NỘI DUNG 6
2.1 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối trong Thương mại quốc tế của Adam Smith 6 2.2.1 Hoàn cảnh ra đời của lý thuyết lợi thế tuyệt đối 6
2.2.2 Nội dung lý thuyết lợi thế tuyệt đối 6
2.2.3 Mô hình thương mại dựa trên lý thuyết lợi thế tuyệt đối 7
2.2 Lý thuyết lợi thế so sánh trong Thương mại quốc tế của David Ricardo 7
2.2.1 Hoàn cảnh ra đời của lý thuyết lợi thế so sánh 7
2.2.2 Nội dung lý thuyết lợi thế so sánh 8
2.2.3 Mô hình thương mại dựa trên lý thuyết lợi thế so sánh 8
2.3 Ý nghĩa của lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh trong điều kiện hiện nay 10
Trang 33.1 Đánh giá chung về lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith 113.2 Đánh giá chung về lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo 123.3 Liên hệ thực tiễn Việt Nam trong điều kiện hiện nay 133.3.1 Một số định hướng phát triển thương mại quốc tế tại Việt Nam dựa
trên lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh trong giai đoạn hiện nay
13
3.3.2 Một số giải pháp dựa trên lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế so
sánh nhằm phát triển thương mại quốc tế Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay 14
KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện hiện nay, đối với hoạt động kinh tế của một đất nước thìhoạt động thương mại quốc tế rất quan trọng, quyết định đến tăng trưởng kinh
tế của mỗi quốc gia, do vậy các nước cần có chính sách về thương mại quốc
tế phù hợp với thực tiễn nền kinh tế đất nước và xu thế của thời cuộc để nângcao hiệu quả kinh tế trong thực hiện các quan hệ kinh tế quốc tế
Vấn đề về thương mại cũng đã được các nhà kinh tế chính trị học đưa
ra nghiên cứu từ rất lâu Trải qua nhiều thế kỷ, khi mà xã hội ngày cànghiện đại và văn minh, nhưng các tư tưởng của các nhà kinh tế vẫn luôn cógiá trị áp dụng cho đến hiện tại, đặc biệt là lý thuyết lợi thế tuyệt đối củaAdam Smith và lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo hiện nay vẫnđược các nước tiếp tục nghiên cứu và vận dụng vào đời sống thực tiễn,phù hợp với bối cảnh và điều kiện của đất nước mình Vậy lý thuyết lợi thếtuyệt đối và lợi thế so sánh là gì? Ý nghĩa của việc vận dụng các lý thuyếtnày trong điều kiện hiện nay như thế nào? Để cùng tìm hiểu và làm rõ thì
em đã chọn “Phân tích lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh trong Thương mại quốc tế của trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh.
Ý nghĩa của các lý thuyết này trong điều kiện hiện nay” làm đề tài nghiên
cứu kết thúc học phần môn Lịch sử các Học thuyết Kinh tế của mình
Trong quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi những thiếu sót,
em rất mong được sự giúp đỡ, góp ý của quý thầy cô để bài tiểu luậnnày được hoàn chỉnh nhất
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích chính của việc nghiên cứu đề tài là phân tích lý thuyết lợithế tuyệt đối và lợi thế so sánh trong Thương mại quốc tế của trườngphái kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh từ đó rút ra ý nghĩa của các lýthuyết này tromg điều kiện hiện nay Dựa trên kết quả phân tích rút rađược những bài học thực tiễn cho các nước đang trên đà phát triển nhưViệt Nam, cùng với các định hướng và giải pháp cho Thương mại quốc
tế Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay
Trang 63 Đối tượng nghiên cứu
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh trong Thương mại quốc
tế của trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh
Ý nghĩa của các lý thuyết này tromg điều kiện hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Lý thuyết lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánhtrong Thương mại quốc tế của trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp luận biệnchứng duy vật với các phương pháp như: thống nhất logic và lịch sử, phântích, tổng hợp, khái quát hóa và hệ thống hóa
Trang 7NỘI DUNGPHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Hoàn cảnh ra đời của trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh
Cuối thế kỷ XVII ở Tây Âu, công trường thủ công tư bản đã bắt đầu pháttriển mạnh, sang thế kỷ XVIII nó đã trở thành hiện tượng phổ biến, dẫn đến
sự thay đổi lớn về kinh tế và xã hội Do sản xuất ngày một phát triển nênn đãlàm nẩy sinh nhiều vấn đề mới Của cải do sản xuất tạo ra chứ không phảinhư quan niệm của CNTT trước đây, vai trò của tư bản sản xuất ngày càngđược củmg cố Từ đó đòi hỏi phải có lý thuyết kinh tế mới để giải thích chonhững hiện tượng kinh tế mới và bảo vệ quyền lợi cho tư bản sản xuất
Vào khoảng những năm 30 của thế kỷ XIX, ở Anh, cách mạng công nghiệp
đã kết thúc Ở thời kỳ này, khủng hoảng kinh tế, nạn thất nghiệp cũng đã xuấthiện, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ngày càng mạnh mẽ, làm mâu thuẫngiữ giai cấp vô sản và tư sản ngày càng trở nên gay gắt Nếu tiếp tục nghiêncứu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa một cách khách quan như các nhà kinh tế
cổ điển, thì có thể sẽ nhìn thấy sự diệt vong tất yếu của nó
Từ những điều kiện kinh tế, xã hội, khoa học của cuối thế kỷ XVII đãchứng tỏ thời kỳ sản xuất tư bản chủ nghĩa bắt đầu Tính chất phiếndiện của học thuyết trọng thương trở nên quá rõ ràng, đòi hỏi phải có lýluận để đáp ứng sự vận động và phát triển của sản suất tư bản chủnghĩa Trên cơ sở đó, kinh tế chính trị học cổ điển Anh ra đời
1.2 Đặc điểm cơ bản của trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh.
Thứ nhất, kinh tế chính trị tư sản cổ điển đã chuyển đối tượng nghiên
cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất Với việc chuyển đốitượng nghiên cứu sang lĩnh vực sản xuất, đã giúp trường phái kinh tế này
đi sâu nghiên cứu và giải thích đúng nguồn gốc của cải
Thứ hai, về phương pháp nghiên cứu, kinh tế chính trị tư sản cổ điển đã sử
dụng phương pháp trừu tượng hóa Nhờ có phương pháp này, kinh tế chính trị
cổ điển đã đi sâu nghiên cứu và trình bày có hệ thống các phạm trù kinh tế
Trang 8như giá trị, giá cả, tiền tệ, lợi nhuận, Tuy vậy, do giới hạn về thế giớiquan và điều kiện lịch sử, các nhà kinh tế tư sản cổ điển đã có những kếtluận không khoa học, thậm chí mâu thuẫn với những quan điểm của họ.
Đó là tính hai mặt của phương pháp nghiên của trường phái kinh tế này
Thứ ba, các học thuyết kinh tế tư sản cổ điển đề cao tư tưởng tự do
kinh tế, đề cao tính quy luật trong nền kinh tế, tư tưởng này hoàn toànkhác với chủ nghĩa trọng thương- đề cao vai trò điều tiết của nhà nước
1.3 Các đại diện tiêu biểu
Wiliam Petty (1623 - 1687), Adam Smith (1723 - 1790) và DavidRicardo (1772 – 1823)
PHẦN 2: PHÂN TÍCH NỘI DUNG
Theo K.Max đánh giá, kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh bắt đầu từWilliam Petty và kết thúc ở David Ricardo Trong đó, có nhà kinh tế học AdamSmith đã đưa ra lý thuyết lợi thế tuyệt đối và David Ricardo đã đưa ra nghiêncứu của mình về lý thuyết lợi thế so sánh trong Thương mại quốc tế
2.1 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối trong Thương mại quốc tế của Adam Smith
2.2.1 Hoàn cảnh ra đời của lý thuyết lợi thế tuyệt đối
Trong bối cảnh của Cách mạng công nghiệp giữa thế kỷ 18, kéo theo
sự phát triển của kinh tế hàng hóa và hệ thống ngân hàng, tại thời điểmnày, đòi hỏi những quan điểm mới và tiến bộ hơn về thương mại quốc
tế thay thế quan điểm trọng thương, từ bối cảnh này, lý thuyết lợi thếtuyệt đối của Adam Smith ra đời
2.2.2 Nội dung lý thuyết lợi thế tuyệt đối
Lợi thế tuyệt đối là lợi thế đạt được trong trao đổi thương mại quốc tế khi mỗiquốc gia tập trung chuyên môn hoá vào sản xuất và trao đổi những sản phẩm cómức chi phí sản xuất thấp hơn hẳn so với các quốc gia khác và thấp hơn mức chiphí trung bình của quốc tế thì tất cả các quốc gia đều cùng có lợi
Trang 9A Smith là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của hoạt động
ngoại thương Trong mô hình kinh tế cổ điển, chúng ta đã biết các nhà kinh tế cổ điển
cho đất đai là giới hạn của tăng trưởng Khi nhu cầu lương thực tăng lên, phải tiếp tục
sản xuất trên những đất đai cằn cỗi, không đảm bảo được lợi nhuận cho các nhà tư bản
thì họ sẽ không sản xuất nữa Các nhà kinh tế cổ điển gọi đây là bức tranh đen tối của
tăng trưởng Trong điều kiện đó A Smith cho rằng có thể giải quyết bằng cách nhập
khẩu lương thực từ nước ngoài với giá rẻ hơn Việc nhập khẩu này sẽ mang lại lợi ích
cho cả hai nước Lợi ích này được gọi là lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thương
2.2.3 Mô hình thương mại dựa trên lý thuyết lợi thế tuyệt đối
Ví dụ minh họa về lý thuyết lợi thế tuyệt đối giữa hai nước Hoa Kì và Anh
Theo như quy luật lợi thế tuyệt đối, Hoa Kì có lợi thế trong sản xuất lúa mì
còn Anh có lợi thế trong sản xuất vải Do đó, Anh sẽ tập trung sản xuất vải để
đem trao đổi lấy lúa mì của Hoa Kì (xuất khẩu vải và nhập khẩu lúa mì) Còn
Hoa Kì sẽ tập trung sản xuất lúa mì và xuất khẩu để nhập khẩu vải
2.2 Lý thuyết lợi thế so sánh trong Thương mại quốc tế của David
Ricardo
2.2.1 Hoàn cảnh ra đời của lý thuyết lợi thế so sánh
Thương mại quốc tế xuất hiện từ rất lâu và ngày càng trở nên phong
phú, đa dạng Để giải thích cơ sở kinh tế của thương mại quốc tế đã có
nhiều trường phái đưa ra những quan niệm khác nhau
Trong thời kì tích lũy nguyên thủy, các nhà trọng thương chủ trương Nhà
nước phải tích cực tác động vào nền kinh tế thông qua chính sách thuế quan
bảo hộ, chính sách xuất nhập khẩu tiền tệ, tỷ giá hối đoái để bảo vệ các
ngành sản xuất non trẻ; kiểm soát nhập khẩu, thúc đẩy xuất khẩu Tuy vậy, ở
thế kỷ XV- XVII, các nhà trọng thương coi trao đổi thương mại là hành vi tước
đoạt lẫn nhau giữa các quốc gia cũng như các thành viên trong một nước
Trang 10Tuy nhiên họ c thuyết trao đổi quốc tế của các nhà trọng thương và trọngnông còn rất sơ sài Đến cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, những nhà kinh tếhọc tư sản cổ điển đã đưa ra quan niệm dựa trên sự chuyên môn hóa sảnxuất giữa các quốc gia làm cơ sở để giải thích quan hệ thương mại quốc tế.Theo quan điểm này, nước nào có đất trồng lúa mì thì cần chuyênmôn hóa vào nhành trồng trọt và mua hàng hóa công nghiệp của cácnước khác Ngược lại, nước nào có nhiều tài nguyên khoáng sản thìnên phát triển công nghiệp và mua lúa mì ở nước khác Quan điểm đóđược gọi là lợi thế tuyệt đối trong trao đổi quốc tế.
Khi mỗi nước có lợi thế tuyệt đối so với nước khác về một loại hàng hóa,thì lợi ích của thương mại là rõ ràng Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu nước A cóthể sản xuất hiệu quả hơn nước B cả hai mặt hàng đem trao đổi?
Để giải đáp câu hỏi này thì D Ricardo đã nêu ra lý thuyết về lợi thế
so sánh
2.2.2 Nội dung lý thuyết lợi thế so sánh
Lý thuyết lợi thế so sánh khẳng định rằng, nếu một đất nước có lợithế so sánh trong một số sản phẩm và kém lợi thế so sánh trong một sốsản phẩm khác thì nước đó sẽ có lợi trong chuyên môn hóa và pháttriển thương mại quốc tế Thương mại quốc tế chủ yếu phụ thuộc vàolợi thế so sánh chứ không phải chỉ phụ thuộc vào lợi thế tuyệt đối
Để giải thích thực chất của lợi thế so sánh, D Ricardo cho rằng một đấtnước có lợi thế so sánh trong việc sản xuất một mặt hàng nào đó nếu nước
đó có chi phí sản xuất tương đối về mặt hàng đó thấp hơn so với nước khác
2.2.3 Mô hình thương mại dựa trên lý thuyết lợi thế so sánh
D.Ricardo đã chứng minh được thương mại quốc tế có thể mang lạilợi ích cho các bên tham gia, ngay cả khi một bên có ưu thế sản xuất rẻhơn bên kia trong tất cả các mặt hàng Điều quan trọng ở đây khôngphải là chi phí sản xuất tuyệt đối mà là chi phí cơ hội để sản xuất mặthàng này tính bằng mặt hàng kia
Có thể minh hoạ lý thuyết lợi thế so sánh bằng ví dụ sau:
Trang 11Bảng 1 - Chi phí về lao động để sản xuất
Sản phẩm Tại Bồ Đào Nha ( giờ công) Tại Anh ( giờ công)
vang
Trong ví dụ này Anh có lợi thế tuyệt đối so với Bồ Đào Nha trong sản
xuất cả lúa mỳ lẫn rượu vang: năng suất lao động của Anh gấp hai lần
Bồ Đào Nha trong sản xuất rượu vang và gấp 1,5 lần trong sản xuất lúa
mỳ Theo suy nghĩ thông thường, trong trường hợp này Anh sẽ không
nên nhập khẩu mặt hàng nào từ Bồ Đào Nha cả Thế nhưng phân tích
của Ricardo đã dẫn đến kết luận hoàn toàn khác:
1 đơn vị rượu vang tại Bồ Đào Nha sản xuất phải tốn chi phí tương
đương với chi phí để sản xuất 2 đơn vị lúa mì (hay nói một cách khác,
chi phí cơ hội để sản xuất 1 đơn vị rượu vang là 2 đơn vị lúa mì); trong
khi đó, tại Anh để sản xuất 1 đơn vị rượu vang chỉ mất chi phí tương
đương với chi phí để sản xuất 1,5 đơn vị lúa mì (hay chi phí cơ hội để
sản xuất 1 đơn vị rượu vang là 1,5 đơn vị lúa mì) Vì thế ở Anh sản xuất
rượu vang rẻ hơn tương đối so với ở Bồ Đào Nha
Tương tự như vậy, ở Bồ Đào Nha, sản xuất lúa mì rẻ hơn tương đối so
với Anh (vì chi phí cơ hội chỉ có 0,5 đơn vị rượu vang trong khi ở Bồ
Đào Nha phải mất 2/3 đơn vị rượu vang) Hay nói một cách khác, Bồ Đào
Nha có lợi thế so sánh về sản xuất lúa mì còn Anh có lợi thế so sánh về
sản xuất rượu vang Để thấy được cả hai nước sẽ cùng có lợi nếu chỉ tập
trung vào sản xuất mặt hàng mà mình có lợi thế so sánh: Bồ Đào Nha chỉ
sản xuất lúa mì còn Anh chỉ sản xuất rượu vang rồi trao
đổi thương mại với nhau, Ricardo đã làm như sau:
Ông giả định nguồn lực lao động của Bồ Đào Nha là 270 giờ công lao
động, còn của Anh là 180 giờ công lao động
Nếu không có thương mại, cả hai nước sẽ sản xuất cả hai hàng
hoá và theo chi phí tại Bảng 1 thì kết quả là số lượng sản phẩm
được sản xuất ra như sau:
Trang 13Bảng 2 - Trước khi có thương mại
Nếu Bồ Đào Nha chỉ sản xuất rượu vang còn Anh chỉ sản xuất lúa
mì rồi trao đổi thương mại với nhau thì số lượng sản phẩm được sản xuất ra sẽ là:
Bảng 3 - Sau khi có thương mại
2.3 Ý nghĩa của lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh trong
điều kiện hiện nay
Các quốc gia trên thế giới hiện nay dù lớn hay nhỏ, sớm hay muộnđều đi theo xu hướng tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp táckinh tế khu vực và thế giới, đa phương, đa chiều, đa lĩnh vực, trong đóthương mại là một trong những lĩnh vực được coi là trọng tâm
Tự do thương mại quốc tế là rất tốt và có lợi Trong nền kinh tế thế giới hiệnnay thì hoạt động ngoại thương không thể thiếu Mở cửa làm ăn buôn bán vớicác nước có ý nghĩa thiết thực, đem lại hiệu quả kinh tế cao Chúng ta phải xácđịnh rõ đâu là mặt hàng có lợi thế của mình để mà tăng cường sản
Trang 14xuất, xuất khẩ u Tránh xuất khẩu những mặt hàng mà chúng ta đang thiếu vànhập về những thứ mà chúng ta không cần thiết Xuất nhập khẩu phải rõràng, có chọn lọc Huấn luyện nhân sự, đào tạo những cán bộ giỏi trong lĩnhvực ngoại thương có trình độ quốc tế Hợp đồng ngoại thương cần phải rõràng, chính xác để sau này tranh chấp xảy ra thì có chứng cớ mà giải quyết,hoạt động ngoại thương hướng vào tất cả các quốc gia có chế độ chính trịkhác nhau, không phân biệt với mục đích chính là phát triển kinh tế,
Hiện nay, khi mà dịch Covid 19 vẫn đang diễn biến phức tạp đã làm ảnhhưởng rất nhiều đến vấn đề thương mại giữa các quốc gia làm cho việc sản xuất,thương mại và tiêu dùng đều bị ảnh hưởng kéo dài Việc kiểm soát dịch cũngnhư tiếp thu và phát triển các lợi thế của đất nước là vô cùng cần thiết để việc hộinhập, giao lưu cùng có lợi giữa các quốc gia là vui vẻ, hiệu quả nhất
Tuy rằng Adam Smith và David Ricardo đều là những nhà kinh tế chính trị nổi tiếng, có những quan điểm và lý luận vô cùng sâu sắc nhưng cũng không tránh khỏi những hạn chế Chúng ta phải biết tổng kết thực tiễn thờiđại mình để vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển lý luận để phù hợp với từng điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, dân tộc để giải quyết vấn đề Thương mại quốc tế hiệu quả trong điều kiện hiện nay
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith và lợi thế so sánh củaDavid Ricardo là các lý thuyết cơ sở của Thương mại quốc tế và có ýnghĩa sâu sắc trong công cuộc phát triển kinh tế: làm tăng mức sốngcủa người dân, tạo ra nhiều việc làm và làm tăng hiệu suất trong nềnkinh tế, góp phần làm ổn định an ninh kinh tế, ngoài ra còn góp phầnlàm tăng những nguồn vốn đầu tư, mở rộng các mối quan hệ quốc tế
PHẦN 3: ĐÁNH GIÁ
3.1 Đánh giá chung về lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith
Đề cao vai trò của cá nhân và các doanh nghiệp, ủng hộ một nền thươngmại tự do mà không có sự can thiệp của Chính phủ Mậu dịch tự do sẽ làmcho thế giới sử dụng tài nguyên có hiệu quả hơn, mang lại lợi ích nhiều hơn