Suy đến cùng sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội, cho nên lực lượng sản xuất là cốt lõi cho
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần: Triết Học Mác - Lênin
ĐỀ TÀI: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỰC LƯỢNG SẢN
XUẤT - LIÊN HỆ VỚI THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn : Trần Thị Thu Hường Sinh viên thực hiện : Trần Thị Phương Anh
Hà nội, ngày 14 tháng 04 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu . 4
2.1 Mục đích nghiên cứu 4
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
4.1 Cơ sở lý luận 5
4.2 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 5
5.1 Ý nghĩa lý luận 5
5.2 Ý nghĩa thực tiễn 5
NỘI DUNG 6
Phần 1 Cơ sở lý luận 6
1 Khái niệm lực lượng sản xuất 6
2 Nội dung 6
3 Kết cấu 7
4 Mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất 9
5 Ý nghĩa phương pháp luận 11
Phần 2: vận dụng thực tiễn 12
1 Thực trạng lực lượng lao động tại Việt Nam 12
2 Nguyên nhân 14
3 Giải pháp trước mắt 14
4 Liên hệ bản thân 17
KẾT LUẬN 18
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khi nghiên cứu về xã hội loài người, C Mác khẳng định mọi sự thay đổi của đời sống xã hội, xét đến cùng, đều bắt nguồn từ sự biến đổi của lực lượng sản xuất Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay, trình độ của lực lượng sản xuất đã có những bước phát triển nhảy vọt
so với trước kia Sự phát triển đó cung cấp thêm cho chúng ta những chứng cứ thực tiễn thuyết phục để tiếp tục khẳng định quan điểm đúng đắn của C Mác về lực lượng sản xuất, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cần phải bổ sung, phát triển quan điểm của C Mác về vấn đề này cho phù hợp với thực tiễn
Từ quan điểm duy vật về đời sống của con người nói chung và về lực lượng sản xuất nói riêng, trong các tác phẩm tiếp theo, như “Hệ tư tưởng Đức”, “Sự khốn cùng của triết học”, “Lao động làm thuê và tư bản”, “Tiền công, giá cả và lợi nhuận”, đặc biệt là trong bộ “Tư bản”, nội hàm của khái niệm lực lượng sản xuất ngày càng được C.Mác và Ph.Ăng-ghen làm sáng tỏ và có nội dung sâu sắc hơn Đó cũng là cơ sở khoa học cho việc nhận thức bản chất, động lực của sự phát triển lịch sử - xã hội thông qua hoạt động lao động của con người Suy đến cùng sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội, cho nên lực lượng sản xuất là cốt lõi cho mọi sự thay đổi của đời sống kinh tế
- xã hội, trong đó người lao động chính là yếu tố quyết định
Kế thừa quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng
ta cũng nhấn mạnh trước hết đến sự phát triển lực lượng sản xuất để tạo
cơ sở vật chất – kỹ thuật cho sự phát triển kinh tế - xã hội cho đất nước Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng đã đưa ra kêu gọi " khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại” và “phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI nước
ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa"
Trang 4Trước những đòi hỏi khách quan về việc phát triển, xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, việc phân tích, triển khai đề tài “Lý luận chung về lực lượng sản xuất từ đó liên hệ với thực trạng lao động ở Việt Nam hiện nay.” là vô cùng cần thiết mà mang ý nghĩa chính trị sâu sắc
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu về LLSX từ đó liên hệ đến thực trạng lao động của Việt Nam ngày nay, tiểu luận trình bày một cách tổng quan về lực lượng sản xuất trong tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam Đặc biệt là trong thời kỳ nước ta đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập vào nền kinh tế thế giới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về khái niệm, biểu hiện của lực lượng sản xuất, kết cấu và tương quan của lực lượng sản xuất và lao động sản xuất Phân tích thực trạng của nhân tố người lao động trong xã hội sản xuất của Việt Nam hiện nay, đồng thời chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng đó
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận là lực lượng sản xuất và thực trạng lao động, nhân tố cốt lõi của lực lượng sản xuất, ở Việt Nam ngày nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Trong nền sản xuất hiện đại, không chỉ có người lao động trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất mà cả những người quản lý sản xuất, kỹ sư, nhà khoa học,…Tuy vậy, tiểu luận chỉ khảo sát quá trình hình thành phát triển và kết cấu của lực lượng sản xuất, tìm hiểu quan điểm của
Trang 5Đảng cộng sản về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tập trung phân tích lực lượng sản xuất từ đó tìm hiểu rõ hơn về thực trạng lao động của Việt Nam ngày nay
Phạm vi nghiên cứu: lực lượng sản xuất và thực trạng lao động
ở Việt Nam ngày nay
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4.1 Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về lực
lượng sản xuất, về vai trò của nhân tố người lao động trong phát triển lực lượng sản xuất Luận án cũng dựa trên những quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam; chính sách, pháp luật của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong việc phát triển nhân tố con người nói chung và phát triển nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, như phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp lôgíc - lịch sử Ngoài ra, tiểu luận còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp,
so sánh, thống kê để triển khai các nội dung của luận án
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 5.1 Ý nghĩa lý luận
Tiểu luận góp phần làm sáng tỏ lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin về lực lượng sản xuất; vai trò và ý nghĩa của nhân tố lao động ở Việt Nam hiện nay
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Tiểu luận góp phần làm sáng tỏ thêm thực trạng của nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay; đặc biệt là góp phần làm
rõ hơn những ưu điểm và hạn chế của người lao động là công nhân trong các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh ở nước ta trong thời gian qua
Trang 6NỘI DUNG PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Khái niệm lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là toàn bộ những năng lực thực tiễn được dùng trong quá trình sản xuất của xã hội qua các thời kỳ nhất định, về mặt cấu trúc thì lực lượng sản xuất của xã hội bao gồm hệ thống những tư liệu sản xuất và sức lao động mà người ta dùng cho việc sản xuất
Khái niệm lực lượng sản xuất được dùng để chỉ tổng thể các yếu tố cấu thành nội dung vật chất, kỹ thuật, công nghệ,…của quá trình sản xuất từ đó tạo thành năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người Với ý nghĩa như vậy lực lượng sản xuất cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc phản ánh căn bản trình độ chinh phục giới tự nhiên của con người
Lực lượng sản xuất là phương tiện để tiến hành sản xuất vật chất cho xã hội Để thỏa mã được nhu cầu cơ bản của con người Mác thấy con người cần phải chế tạo ra công cụ lao động, gọi bằn khái niệm rộng hơn và chính xác hơn đó
là tư liệu lao động, tư liệu sản xuất, lực lượng sản xuất Sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định sự biến đổi, sự phát triển về mọi mặt của đời sống, quyết định sự phát triển của xã hội từ thấp đến cao Theo đó lực lượng sản xuất trở nên có ý nghĩa và thực sự rất quan trọng Lực lượng sản xuất là một bộ phận cấu thành của phương thức sản xuất, là nền tảng, là cơ sở và là tiền đề của sản xuất Bởi lẽ nếu không có công cụ lao động thì con người sẽ không thể sản xuất
để tạo ra của cải vật chất thỏa mãn nhu cầu của con người Sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn tới sự phân công lao động xã hội và năng xuất lao động xã hội tăng Từ đó sản phẩm sản xuất ra đã có sự dư thừa, sự dư thừa này chính là một nguyên nhân dẫn tới sự ra đời của chế độ tư hữu và xuất hiện giai cấp trong
xã hội Như vậy nguyên nhân sâu xa của sự xuất hiện giai cấp ở trong
Trang 7xã hội chính là sự phát triển của lực lượng sản xuất Nói tóm lại lực lượng sản xuất có một vai trò đặc biệt quan trọng đối với sản xuất xã hội cũng như quá trình phát triển của lịch sự loài người Chính vì vậy vấn đề phát triển lực lượng sản xuất cần phải được coi trọng và đề cao trong mọi thời kỳ phát triển của xã hội
Theo qua điểm của chủ nghĩ Mác lực lượng sản xuất gồm ba bộ phận: người lao động, từ liệu sản xuất, khoa học – công nghệ
3.1 Người lao động
Khi phân tích về lực lượng sản xuất trong xã hội tư bản, C.Mác viết “Trong tất cả những công cụ sản xuất thì lực lượng sản xuất hùng mạnh nhất là
Trang 8bản thân giai cấp cách mạng”1 Như vậy, trong toàn bộ các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất thì người lao động chính là yếu tố có vai trò quan trọng nhất, quyết định nhất Người lao động là nhân tố hoạt động kết hợp và phát huy sức mạnh của các yếu tố tham gia vào toàn bộ quá trình sản xuất, những yếu tố này được phất huy thế nào đều do năng lực trình độ, thị hiếu và mục đích của con người quy định thông qua những hành động và thao tác vật chất của họ
Chính người lao động là chủ thể, với sức mạnh và kỹ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động để sản xuất ra của cải vật chất Cùng với quá trình lao động sản xuất, sức mạnh, kỹ năng của con người ngày càng được tăng thêm, đặc biệt là hàm lượng trí tuệ của người lao động ngày càng cao Người lao động không chỉ tái sản xuất ra sức lao động mà còn muốn nâng cao chất lượng lao động bằng con đường kế thừa các yếu tố xã hội và phát triển chúng
Con người là yếu tố cơ bản, là lực lượng chủ đạo quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất nên có thể nhận định rằng: con người
là chủ thể quyết định mọi quá trình vận động và phát triển lịch sử
3.2 Tư liệu sản xuất
Tư lệu sản xuất là khái niệm đặc trưng cho toàn bộ yếu tố “vật” của lực lượng sản xuất Được cấu thành từ hai bộ phận: Đối tượng lao động
và Tư liệu lao động Cụ thể:
Đối tượng lao động là những sự vật mà hoạt động của con người tác động vào nhằm làm biến đổi cho phù hợp với mục đích của con người Đối tượng lao động gồm có hai loại cơ bản: đối tượng lao động tự nhiên và đối tượng lao động
do con người sáng tạo ta từ những sự vật do tự nhiên cung cấp
Đối tượng lao động là đại diện của tự nhiên tham gia vào quá trình sản xuất, mức độ phong phú của đối tượng lao động phụ thuộc vào khả năng tiếp cận và chọn lọc của nền sản xuất đó đối với tự nhiên Đối tượng lao động là
1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, (1995) Tr 257
Trang 9yếu tố tự nhiên nhưng mặt khác nó thể hiện một phần tính đại diện của con người
3.3 Khoa học – công nghệ
Ta thấy rằng, khoa học – công nghệ vốn bắt nguồn từ hoạt động lao động sản xuất và kết quả lao động nhận thức của con người, gắn liền và phụ thuộc vào con người Khoa học – công nghệ trở thành lực lượng vật chất là nhờ được con người vận dụng vào trong lao động để nâng cao và hoàn thiện kỹ năng kỹ xảo Sự phát triển của khoa học gắn liền với sản xuất và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển Ngày nay, khoa học đã thâm nhập sâu vào quá trình sản xuất và đã trở thành “lực lượng sản xuất trực tiếp”
Sự thâm nhập này càng sâu của khoa học vào sản xuất đã làm cho lực lượng sản xuất có bước nhảy vọt, tạo thành cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ hiện đại Điều này đã chứng minh sự thiên tài của C.Mác khi ông cho rằng khoa học sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
4. Mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất
Ngoài tư liệu sản xuất được coi là yếu tố cần thiết của quá trình sản xuất, C.Mác khẳng định cần phải có người lao động Theo C.Mác, yếu tố vật thể sẽ không có bất cứ tác dụng nào nếu không có một lực lượng xã hội
để tiến hành sản xuất vật chất Tư liệu sản xuất sẽ trở thành vô nghĩa nếu không có sự tác động của con người Điều này đã được C.Mác khẳng định như sau: “Giới tự nhiên không chế tạo ra bất kỳ máy móc nào, không chế tạo ra xe hơi, đường sắt, điện báo, máy dệt Chúng là sản phẩm lao động của con người, đã biến thành vật chất tự nhiên của ý chí con người điều khiển tự nhiên hoặc bộ máy hoạt động của con người trong giới tự nhiên Chúng là cơ quan đầu não của con người được sáng tạo bởi bàn tay con người, là lực lượng tri thức được vật hóa” 2
2 Trần Tiên Đạt (chủ biên): Nguyên lý Triết học Chủ nghĩa Mác, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, (2006) Tr 480
Trang 10Như vậy, nếu không có con người biết chế tạo, sử dụng công cụ lao động, tác động vào giới tự nhiên thì sẽ không có quá trình sản xuất vật chất Với tính cách là một bộ phận cấu thành của lực lượng sản xuất, người lao động là những người có khả năng lao động, nghĩa là phải có cả sức mạnh cơ bắp và sức mạnh trí tuệ mà C.Mác đã gọi cụ thể là có "đầu óc" và
"đôi bàn tay" Ngoài ra người lao động cũng cần phải có kinh nghiệm, những kỹ năng, kỹ xảo trong lao động C.Mác viết: "Chúng tôi hiểu sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó"3 Như vậy, người lao động không phải là con người nói chung và không phải người nào có sức mạnh thể chất và tinh thần cũng được coi là người lao động, chỉ những người nào dùng sức mạnh thể chất và tinh thần cùa mình tham gia vào quá trình sản xuất vật chất nhằm tạo ra của cải mới được coi
là người lao động với tư cách là yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất
C.Mác đã khẳng định hoạt động sản xuất chính là một dạng hoạt động chỉ có
ở con người, nó khác hẳn về chất so với hoạt động của con vật: “Con nhện làm những động tác giống như động tác của người thợ dệt, và bằng việc xây dựng những ngăn tổ sáp của mình, con ong phải làm cho một sổ nhà kiến trúc phải hổ thẹn Nhưng điều ngay từ đầu phân biệt nhà kiến trúc tồi nhất với con ong giỏi nhất là trước khi xây dựng những ngăn tổ ong bằng sáp, nhà kiến trúc đã xây dựng chúng ở trong đầu mình rồi Cuối quá trình lao động, người lao động thu được cái kết quả mà họ dã hình dung ngay từ đầu quá trình ấy, tức là đã có trong
ý niệm rồi.” 4 Khi tham gia vào quá trình sản xuất, trước hết người lao động đem nhập vào các yếu tố của lực lượng sản xuất sức mạnh cơ bắp của mình Tuy nhiên, nếu chỉ tiến hành sản xuất bằng các khí quan vật chất thuần túy của cơ thể thì con người sẽ không bao giờ tiến xa hơn động vật Vì con
3 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 46, phần II, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, (1995) Tr 215
4 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 3, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, (1995) Tr 260-261
Trang 11người là một sinh vật xã hội nên ngoài sức mạnh cơ bắp, khi tham gia vào quá trình sản xuất, con người còn có cả trí tuệ và toàn bộ hoạt động tâm sinh lý và
ý thức của họ nên lao động cùa họ trở nên khéo léo, linh hoạt, uyển chuyển, năng động, sáng tạo hơn Chính điều này làm cho các quá trình sản xuất vật chất có thể giống nhau ở máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu đầu vào nhưng những sản phẩm đầu ra của những lao động khác nhau lại rất khác nhau Điều đó cho thấy rõ vai trò quyết định của nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất
5. Ý nghĩa phương pháp luận
Để xác lập, hoàn thiện hệ thống quan hệ sản xuất của xã hội, cần phải căn
cứ vào thực trạng (tình hình thực tế) phát triển của lực lượng sản xuất hiện có để xác lập nó cho phù hợp chứ không phải căn cứ vào ý muốn chủ quan Chỉ có như vậy mới có thể tạo ra được hình thức kinh tế thích hợp cho việc bảo tồn, khai thác
- sử dụng, tái tạo và phát triển lực lượng sản xuất của xã hội
Khi đã xuất hiện mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất đang kìm hãm sự phát triển đó thì cần phải có những cuộc cải biến (cải cách, đổi mới, ) mà cao hơn là một cuộc cách mạng chính trị để có thể giải quyết được mâu thuẫn này
Ví dụ, trong quá trình xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa vào trước những năm 80 của thế kỷ XX, nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã rơi vào bệnh chủ quan duy ý chí, chưa tuân theo thật đúng yêu cầu của quy luật này Do
đó đã dẫn đến tình trạng lực lượng sản xuất hiện có không được bảo tồn, tái tạo và phát triển tốt Thực tế đó là nguyên nhân căn bản và sâu xa dẫn tới sự khủng hoảng kinh tế lớn, buộc các nước này phải tiến hành những cuộc cải ách, đổi mới theo hướng tạo lập sự phù hợp của quan hệ sản xuất với thực tế trình độ phát triển lực lượng sản suất, nhờ đó lực lượng sản xuất của xã hội từng bước được phục hồi và phát triển