1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN Hình thành năng lực làm bài đọc- Hiểu cho học sinh trường Trung học phổ thông Tĩnh Gia 4

17 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 244,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN Hình thành năng lực làm bài đọc Hiểu cho học sinh trường Trung học phổ thông Tĩnh Gia 4 1 MỤC LỤC Nội dung Trang 1 Mở dầu 1 1 Lí do chọn đề tài 1 1 1 Nguyên nhân khách quan 1 1 2 Nguyên nhân chủ quan 1 2 Mục đích nghiên cứu 1 3 Đối tượng nghiên cứu 1 4 Phương pháp nghiên cứu 2 2 2 2 3 3 3 2 Nội dung của sáng kiến 2 1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 2 2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 2 3 Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 2 3 1 Một số đề đọc hiểu min[.]

Trang 1

MỤC LỤC

1.Mở dầu:

1.1 Lí do chọn đề tài

1.1.1 Nguyên nhân khách quan

1.1.2 Nguyên nhân chủ quan

1.2 Mục đích nghiên cứu

1.3 Đối tượng nghiên cứu

1.4 Phương pháp nghiên cứu

2 2 2 2 3 3 3 2.Nội dung của sáng kiến:

2.1.Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

2.3 Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

2.3.1 Một số đề đọc- hiểu minh họa 2.3.2 Cấu trúc của phần thi đọc- hiểu trong cấu trúc đề thi Quốc gia

2.3.3 Hướng dẫn phương pháp giải quyết từng cấp độ nhận thức

2.3.3.1 Cấp độ nhận biết

2.3.3.2 Cấp độ thông hiểu

2.3.3.3 Cấp độ vận dụng

2.4 Kết quả vận dụng sáng kiến vào trong thực tế:

3 3 4 4 4 8 8 8 14 14 15 3 Kết luận, kiến nghị 15

Trang 2

1.Mở đầu:

1.1 Lí do chọn đề tài:

1.1.1 Nguyên nhân khách quan:

Nghị quyết 29- NQ/TW Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn

bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Nêu rõ: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương

pháp dạy học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền đạt một chiều ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo

cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực

Vì thế, trong những năm gần đây ngành giáo dục và đào tạo đang thực hiện đổi mới một cách đồng bộ ở tất cả các khâu “Trong đó chú trọng đến việc đổi mới kiểm tra đánh giá, từ khâu then chốt này sẽ dẫn đến đổi mới nội dung và phương pháp dạy học Nếu trước đây việc kiểm tra đánh giá học sinh còn nặng về kiểm tra kiến thức, kĩ năng thì bây giờ việc kiểm tra, đánh giá học sinh theo hướng phát triển năng lực Để thực hiện được điều này, Bộ đã thực hiện nhiều phương

án trong đó đổi mới thi cử và cách ra đề thi là phương án hữu hiệu nhất”[1] Năm 2014 là năm đầu tiên đổi mới cách ra đề, đề thi theo hướng mở nhằm đánh giá năng lực thực sự của người học đã hạn chế được tình trạng giáo viên là người truyền thụ kiến thức đơn thuần, học sinh là cái bình chứa và kết quả bài thi của học sinh được đo bằng dung lượng kiến thức mà học sinh đã thuộc được sau những lời thầy đã dạy Trong đó đề thi môn Ngữ văn đã có sự thay đổi mạnh

mẽ, vẫn là cấu trúc đề gồm 3 câu, nhưng nếu theo đề thi tốt nghiệp, Đại học- Cao đẳng trước đó Câu 1 (2.0 điểm), chỉ đơn thuần tái hiện hoặc hoàn cảnh

sáng tác của một tác phẩm văn học, hoặc nét chính trong sự nghiệp của một tác giả…thì đề thi theo hướng đổi mới đã phát huy được tính sáng tạo của học sinh

Cụ thể: đề thi gồm hai phần: đọc- hiểu và làm văn Phần đọc- hiểu văn bản là điểm mới nhất của đề thi môn Ngữ văn Ngay trong khái niệm đọc– hiểu đã cho

thấy đề thi tập trung nhiều đến việc phát huy tính tính cực chủ động, sáng tạo

của người học Đòi hỏi học sinh muốn hiểu một văn bản trước hết phải đọc để

từ đó bày tỏ suy nghĩ của mình về một văn bản văn học cho sẵn “Để làm được phần này thì người học có một năng lực đọc hiểu văn bản nhất định trên một nền tảng kiến thức cơ bản Năm 2015, Bộ đã sát nhập hai kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông và Đại học- Cao đẳng thành kì thi Quốc gia những thay đổi trên tiếp tục được thực hiện” [1] Năm học 2016-2017 này, do hạn chế về thời gian làm bài (thay vào 180 phút chỉ còn 120 phút) vì thế câu hỏi viết đoạn văn khoảng 5-7 dòng liên quan đến nội dung của văn bản không còn nữa Phần II (Làm văn) câu 1 (Nghị luận xã hội) sẽ là viết một đoạn văn liên quan đến nội dung của

văn bản đọc- hiểu ở dạng nén so với bài văn nghị luận trước đây Đề đọc- hiểu

đã được thu lại ngắn hơn, mức độ yêu cầu làm bài có phần nhẹ hơn Tuy nhiên,

đối tượng học sinh có lực học yếu và trung bình đang vẫn còn rất trì trật trong việc gỡ điểm ở dạng đề này.

1.1.2 Nguyên nhân chủ quan:

Thực tế năng lực đọc- hiểu của học sinh Trung học phổ thông nói chung và học sinh trường Trung học phổ thông Tĩnh Gia 4 nói riêng là rất hạn chế Thậm chí có nhiều học sinh không có khả năng tự lập làm bài dù đã chỉ là câu hỏi ở

Trang 3

mức độ nhận biết Đó là vì kiến thức về tiếng Việt, Làm văn mà các em đã học ở

cấp dưới đã bị mai một, nói đúng hơn là đã bị mất gốc học trước quên sau hoặc cũng có thể là các em còn vô cảm trước một văn bản văn học vì thế mà đọc vẫn

không hiểu những gì mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm của mình Kết quả thi

tốt nghiệp trong ba năm 2014, 2015, 2016 trở về đây cũng như kết quả thi thử kì thi Quốc gia do Sở Giáo dục và đào tạo Thanh Hóa tổ chức cho các trường trung học vừa qua rất thấp đã phản ánh rõ điều đó Trước thực trạng trên tôi nhận thấy cần trang bị cho học sinh những kiến thức kĩ năng và đặc biệt là hình thành năng lực đọc- hiểu văn bản để giúp các em bít lúng túng hơn khi đứng trước phần thi đọc- hiểu văn bản trong đề thi

- Thực ra trước khi cấu trúc đề thi thay đổi cho đến thời điểm này đã có không ít tài liệu phát hành nhằm hướng dẫn học sinh ôn luyện tốt dạng đề đọc- hiểu Thế nhưng hầu hết những nguồn tài liệu ấy đều có điểm chung chỉ đơn thuần cung cấp câu hỏi và đáp án Nghĩa là dù học sinh có giống như một con ong chăm chỉ thì việc lĩnh hội kiến thức vẫ rất thụ động do không nắm được bản chất của những vùng kiến thức mà đề bài yêu cầu Qua việc triển khai sáng kiến sẽ giúp các em hệ thống hóa kiến thức, kĩ năng cơ bản để phục vụ quá trình đọc- hiểu

Đây chính là yếu tố cơ bản để giúp các em hiểu được những gì sau khi đã đọc

văn bản Đó là lí do tôi chọn đề tài Hình thành năng lực làm bài đọc- hiểu cho học sinh trường Trung học phổ thông Tĩnh Gia 4.

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Người viết sáng kiến chỉ xin dừng lại trong việc khoanh vùng kiến thức

đọc- hiểu giúp học sinh nắm lại phần lí thuyết Nắm vững lí thuyết là bước đầu giúp học sinh tự trang bị cho mình năng lực làm bài đọc- hiểu khi đứng trước bất

kì một văn bản nào dù không có trong chương trình mà các em đã học Đó cũng

là cách rèn cho học sinh kĩ năng làm bài đạt điểm tối ưu nhất nhằm cải thiện tỉ lệ

đỗ tốt nghiệp, Đại học- Cao đẳng

Qua sáng kiến còn giúp các đồng nghiệp cùng điều chỉnh phương pháp ôn tập, rèn luyện kĩ năng làm bài cho học sinh để đạt kết quả tốt nhất

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Phạm vi triển khai thực hiện của sáng kiến là lĩnh vực chuyên môn giảng dạy xuất phát từ yêu cầu thực tiễn mới về đổi mới kiểm tra đánh giá của Bộ giáo dục và Đào tạo trong những năm gần đây Đối tượng áp dụng của sáng kiến là học sinh của trường Trung học phổ thông Tĩnh Gia 4

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu là điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin Bản thân người thực hiện đề tài đã tiến hành khảo sát thông qua đối sánh bằng những số liệu cụ thể của các lớp trực tiếp giảng dạy qua các năm học sau khi áp dụng đề tài vào thực tiễn giảng dạy

2.Nội dung của sáng kiến:

2.1.Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:

“Đọc- hiểu văn bản thực ra không quá mới với học sinh bởi lẽ sách giáo khoa hiện hành đã được thiết kế theo hướng này Thế nhưng suốt thời gian khá dài thực hiện sách giáo khoa hiện hành, cho đến khi chuẩn bị thay đổi sách giáo khoa thì Bộ mới thay đổi cách ra đề và kiểm tra đánh giá theo hướng đánh giá

Trang 4

năng lực thực sự của người học” [1] Đề thi đọc- hiểu văn bản bắt đầu xuất hiện trong đề thi tốt nghiệp Trung học phổ thông và Đại học- Cao đẳng từ năm 2014 cho nên hiện nay dạng đề này không còn xa lạ nhưng thực ra nó cũng chưa hoàn toàn quen thuộc, thuần thục đối với học sinh nhất là đối với học sinh yếu kém Vậy thế nào là đọc- hiểu văn bản?

Đọc là một hoạt động của con người, dùng mắt để nhận biết các kí hiệu và chữ viết, dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc có thể đọc thành tiếng hoặc đọc bằng mắt Đọc có hai mức độ: đọc đúng và đọc diễn cảm

Hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa của mối quan hệ đó Hiểu còn là sự bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống Ví dụ đọc một tác phẩm văn học, chúng

ta phải hiểu những vấn đề sau: nội dung, ý nghĩa của văn bản, đánh giá được tư tưởng của tác giả, hài đồng thông tin và tư tưởng của tác giả với tri thức và kinh nghiệm của bản thân

Từ đó ta có thể khái quát đọc- hiểu văn bản tức là thông qua hoạt động đọc

để hình thành những năng lực giải thích, phân tích, khái quát, biện luận đúng sai

về logic, tức là kết hợp với năng lực tư duy và biểu đạt Đọc hiểu có văn bản có các mức độ:

- Đọc tái hiện

- Đọc giải thích

- Đọc sáng tạo

- Đọc nghiên cứu

- Đọc suy ngẫm và liên tưởng

Dựa vào kết quả quá trình đọc- hiểu, giáo viên có thể đánh giá được năng lực thực sự của học sinh [1]

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:

Theo quan sát của bản thân, trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm, học sinh thường tỏ ra rất lúng túng Nhiều em không biết cách nhận dạng phương thức biểu đạt, thao tác lập luận… thậm chí không biết là có bao nhiêu phong cách ngôn ngữ chức năng Nhiều khái niệm đã học khi được nhắc đến các em vẫn cảm thấy rất xa lạ hoặc rất mơ hồ Những đáp án được lựa chọn khi trả lời hầu hết là theo cảm tính Và như nói ở trên đã là do kiến thức ở cấp dưới các em hổng quá nhiều Đây là nguyên nhân dẫn đến chất lượng bài viết kém, ảnh hưởng đến tỉ lệ đỗ tốt nghiệp và Đại hoc- Cao đẳng trong các năm học

2.3 Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:

Để tránh hiện tượng học sinh làm bài đọc hiểu một cách rập khuôn máy móc, giáo viên cần trang bị cho các em phần kiến thức cơ bản về lí thuyết liên quan đến các dạng câu hỏi thường xuất hiện trong đề Trong phạm vi của sáng kiến tôi xin được hệ thống hóa vùng kiến thức trọng tâm mà các em cần nắm khi làm bài đọc- hiểu để giúp các em hình thành năng lực làm bài đọc- hiểu trong việc giải quyết đề thi

2.3.1 Một số đề đọc- hiểu minh họa:

Đề 1:

Đọc ngữ liệu và trả lời câu hỏi:

Trang 5

Con đê dài hun hút như cuộc đời Ngày về thăm ngoại, trời chợt nắng, chợt râm

Mẹ bảo:

- Nhà ngoại ở cuối con đê.

Trên đê chỉ có mẹ, có con Lúc nắng mẹ kéo tay con:

- Đi nhanh lên kẻo nắng vỡ đầu ra.

- Con cố Lúc râm con đi chậm, mẹ mắng:

- Đang lúc mát trời, nhanh lên kẻo nắng bây giờ!

Con ngỡ ngàng: Sao nắng, sao râm đều phải vội?

Trời vẫn nắng, vẫn râm

Mộ mẹ cỏ xanh, con mới hiểu: Đời, lúc nào cũng nhanh lên.

(Theo vinhvien.edu.vn)

Câu 1 Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của văn bản trên.

Câu 2.

"Trên đê chỉ có mẹ, có con Lúc nắng mẹ kéo tay con:

- Đi nhanh lên kẻo nắng vỡ đầu ra"

Xác định biện pháp tu từ và hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng biện pháp đó?

Câu 3 Nêu nội dung chính của văn bản trên?

Câu 4 Bài học mà anh/ chị rút ra từ văn bản trên?

Đề 2:

Đọc ngữ liệu và trả lời câu hỏi:

Mẹ ta không có yếm đào

Nón mê thay nón quai thao đội đầu

Rối ren tay bí tay bầu

Váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu bốn mùa.

Cái cò…sung chát đào chua

Câu ca mẹ hát gió đưa về trời

Ta đi trọn kiếp con người

Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru

(Thơ Nguyễn Duy, Trần Đăng Khoa tuyển chọn,NXB Giáo duc, 1998)

Câu 1: Trong 4 câu thơ đầu, hình ảnh người mẹ được hiện lên qua những chi

tiết nào?

Câu 2: Nghĩa của chữ đi trong các dũng thơ: Ta đi trọn kiếp con người/ Cũng

không đi hết mấy lời mẹ ru là gì?

Câu 3: Trong đoạn thơ trên có những câu thơ tác giả sử dụng chất liệu ca dao Anh/ chị hãy chỉ ra những câu thơ sử dụng chất liệu ca dao và ghi lại câu ca dao tác giả sử dụng làm chất liệu cho câu thơ đó

Câu 4: Anh / chị hãy nhận xét quan niệm của tác giả thể hiện trong hai Câu: Ta

đi trọn kiếp con người/ Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru

Đề 3:

Đọc ngữ liệu và trả lời câu hỏi:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Trang 6

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

(Tây Tiến- Quang Dũng, Ngữ văn 12 tập 1, NXB Giáo dục 2011)

Câu 1: Văn bản trên được viết theo thể thơ gì?

Câu 2: Nêu nội dung của văn bản

Câu 3: Văn bản sử dụng nhiều từ Hán Việt, anh/ chị hãy liệt kê những từ ngữ đã

và nêu tác dụng của chúng

Câu 4: Chỉ ra phép tu từ nói giảm và nêu tác dụng của phép tu từ đó.

Đề 4:

Đọc ngữ liệu và thực hiện các yêu cầu:

(1) Trào lưu “Like là làm” đang gây cơn sốt trong giới trẻ Trước đó, mở đầu trào lưu này là sự việc một chàng trai có tài khoản Facebook N.T đăng chia sẻ: “Bức hình này đủ 40.000 like sẽ đổ xăng từ trên người xuống, lấy hộp quẹt

tự đốt người rồi nhảy cầu Tân Hóa! Đủ like sẽ làm, tôi nói là làm Share mạnh

để có cái hay hấp dẫn mà xem”

Bài viết thu hút gần 100.000 like (thích) cùng hàng nghìn bình luận cổ vũ lẫn thách thức Giữ đúng lời hứa “nói là làm”, tối ngày 20/9, N.T này có mặt tại cầu Tân Hóa (TPHCM) thực hiện thử thách Đươc biết, sau khi tẩm xăng đốt, do kịp thời nhảy xuống dòng kênh nên N.T chỉ bị bỏng nhẹ.

Tiếp đã, hàng loạt người trẻ khác đua nhau đăng status (dòng trạng thái) thách thức dân mạng theo có pháp quen thuộc “chỉ cần đủ like tôi sẽ….” và khẳng định chắc nịch “nói là làm” Một số thanh niên sẵn sàng đổi like lấy những hành động gây sốc như: mặc đồ lót, nhảy xuống và uống hết một ca nước sông, mặc quần áo con gái đi ra đường…

(2) Xung quanh vấn đề này, dưới góc nhìn của một nhà văn, Trang Hạ chia sẻ: “Tôi không ngạc nhiên với sự ngông cuồng của một bộ phận thanh niên trên mạng Tuy nhiên, tôi vẫn phải kinh hãi trước những hành vi thiếu nhân văn của người biết bấm like

(3) Trang Hạ cho rằng, không bố mẹ nào đẻ con ra với mục đích con sống cho người ta bấm like Vậy thì tại sao người trẻ lại dùng like làm thước đo của cuộc sống? Nhân tiện, làm luôn thước đo của việc tự thiêu hay những việc như đốt trường, chạy trường…Hóa ra nhân cách và trí tuệ chỉ dành để trang trí, còn giá trị của bạn là mong người ta bấm like?

(Theo Minh Giang, Trào lưu “Like là làm”: Nhân cách, trí tuệ chỉ dành để trang trí?, Báo điện tử Vietnamnet, ngày 14 tháng 10 năm 2016)

Câu 1: Văn bản được viết theo phong cách ngôn ngữ nào?

Câu 2: Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản?

Câu 3 : Chỉ ra hai phép liên kết được tác giả sử dụng trong đoạn (3), nêu tác dụng của các phép liên kết đó

Câu 4: Nhà văn Trang Hạ đã dựng những từ ngữ nào để nhận xét về hành vi

của những người liên quan đến hiện tượng xã hội được đề cập trong văn bản? Theo anh/ chị, nhà văn bộc lộ quan điểm, thái độ gì khi sử dụng những từ ngữ đó?

Trang 7

Câu 5: Anh/ chị tự rút ra bài học cho bản thân sau khi đọc xong ngữ liệu trên

Đề 5: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Theo nhận định của các chuyên gia đầu ngành về ung thư, hiện nay tỉ lệ

người mắc mới và tử vong do bệnh ung thư ngày càng gia tăng Trong đã,

nguyên nhân dẫn đến căn bệnh này chủ yếu là do hút thuốc lá, nghiện rượu bia

và chế độ dinh dưỡng.

Trong số các nguyên nhân trên, nguyên nhân về chế độ dinh dưỡng đang

là vấn đề nhức nhối và được nhiều người quan tâm nhất hiện nay Nếu như đối

với thuốc lá và rượu bia thì những tác hại là dễ dàng nhìn thấy trước mắt và có

thể từ bỏ được, thì đối với chế độ dinh dưỡng lại hoàn toàn ngược lại.

Chế độ dinh dưỡng được bàn đến là tác nhân gây bệnh ung thư, đó chính

là sự mất an toàn vệ sinh thực phẩm với những loại thực phẩm được bảo quản

bằng các chất kích thích, thuốc tăng trọng vượt quá hàm lượng quy định, hay

chế độ ăn uống không hợp lí với nhiều chất béo, ăn nhiều đồ chiên rán

(Trích Chuyên gia giật mình vì thực phẩm bẩn gây ung thư, http://vietbao, 16

/12/ 2015)

Câu 1 Đoạn trích sử dụng thao tác lập luận nào là chủ yếu?

Câu 2 Theo tác giả, những nguyên nhân chủ yếu gây ra bệnh ung thư là gì?

Câu 3 Theo tác giả, thế nào thì được coi là mất an toàn thực phẩm? Anh/chị

hãy lấy ít nhất hai dẫn chứng về thực phẩm không an toàn trên thị trường mà

anh/chị biết

Câu 4 Theo anh/chị, làm thế nào để ngăn chặn tình trạng mất an toàn thực

phẩm?

Đề 6: Đọc ngữ liệu và trả lời câu hỏi:

Nhìn theo bóngTràng và bóngngười đàn bà lủi thủi đi về bến, người trong

xóm lạ lắm Họ đứng cả trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán Hình như họ cũng

hiểu được đôi phần Những khuôn mặt hốc hác u tối của họ bỗng dưng rạng rỡ

hẳn lên Có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối ấy

của họ Một người thở dài, người khác khẽ thì thầm hỏi:

- Ai đấy nhỉ? …Hay là người dưới quê nhà bà cụ Tứ mới lên?

- Chả phải, từ ngày còn mồ ma ụng cụ Tứ có thấy họ mạc nào lên thăm đâu.

- Quái nhỉ:

Im một lúc, có người lại bỗng cười lên rung rúc:

- Hay là vợ anh cu Tràng? Ừ, khéo mà vợ anh cu Tràng thật anh em ạ, trông chị

ta thèn thẹn hay đáo để.

- Ôi chao! Giời đất này còn rước cái của nợ đời về Biết có nuôi nổi nhau sống

qua được cái thì này không?

- Họ cùng nín lặng.

( Vợ nhặt- Kim Lân Ngữ văn 12 tập 2, NXB Giáo dục 2011)

Câu 1 Đoạn văn trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào?

Câu 2 Nội dung chủ yếu của đoạn?

Câu 3 Câu văn: Những khuôn mặt hốc hác u tối của họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn

lên Có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối ấy của họ

được sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? ý nghĩa nghệ thuật của biện pháp nghệ

thuật đã

Trang 8

Câu 4 Từ văn bản, bày tỏ suy nghĩ của anh/ chị về tình làng nghĩa xóm.

2.3.2.Cấu trúc của phần thi đọc- hiểu trong cấu trúc đề thi Quốc gia:Từ

những đề thi minh họa ta thấy, cấu trúc đề đọc- hiểu gồm hai phần:

Phần 1: Đưa ra ngữ liệu để đọc- hiểu (Văn bản văn học hoặc Văn bản nhật

dụng, văn xuôi hoặc thơ, có thể là một văn bản hoàn chỉnh hoặc có thể là một đoạn trích) [2]

Phần 2: Đưa ra các câu hỏi theo mức độ nhận thức từ thấp đến cao: nhận

biết, thông hiểu, vận dụng thấp[2], (vận dụng cao hầu như chỉ dành cho phần làm văn: viết đoạn nghị luận xã hội khoảng 200 từ hoặc tạo lập văn bản nghị luận văn học)

Cấp độ nhận biết yêu cầu các em phải nhận diện các vấn đề sau:

1 Nhận diện phương thức biểu đạt [1]

2 Nhận diện phong cách ngôn ngữ [1]

3 Nhận diện các hình thức ngôn ngữ [1]

4 Nhận diện các phương thức trần thuật [1]

5 Nhận diện các kiểu câu [1]

6 Nhận diện các biện pháp nghệ thuật [1]

7 Nhận diện thể thơ [1]

8 Nhận diện các phép liên kết [1]

9 Nhận diện các thao tác lập luận[1]

10 Nhận diện các phương pháp lập luận[1]

11 Nhận diện các lỗi về chính tả, diễn đạt [1]

Cấp độ thông hiểu yêu cầu các em phải giải quyết được các vấn đề sau:

1 Hiểu được nội dung chính của văn bản/ chủ đề của văn bản (Văn bản đề cập đến nội dung gì? Nội dung đã thể hiện bằng những ý chính nào? Tóm tắt ngắn gọn văn bản đã) [1]

2 Nếu văn bản không có nhan đề thì yêu cầu các em đặt nhan đề cho phù hợp [1]

3 Trả lời được các câu hỏi vì sao? [1]

4 Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ, nhịp thơ

5 Xác định giọng điệu chính của văn bản.[1]

Cấp độ vận dụng (thấp) yêu cầu các em phải giải quyết được các vấn đề sau:

1 Giải thích ý nghĩa của một số từ, hoặc câu đặc biệt trong văn bản

2 Rút ra bài học cho bản thân hoặc liên hệ thực tế

2.3.3 Hướng dẫn phương pháp giải quyết từng cấp độ nhận thức: 2.3.3.1 Cấp độ nhận biết: là cấp độ đơn giản nhất, đọc- hiểu chỉ dừng lại ở

mức độ tái hiện, phát hiện (đọc tái hiện)

*Nhận diện phương thức biểu đạt.

Để trả lời được câu hỏi hình thức biểu đạt chính của văn bản trên là gì? yêu cầu học sinh phải nắm được kiến thức của 6 phương thức biểu đạt và mục đích giao tiếp cần hướng tới của từng phương thức biểu đạt ấy Tuy nhiên “mỗi văn bản không phải chỉ có một phương thức biểu đạt duy nhất mà thường kết hợp với một hay nhiều phương thức biểu đạt khác nhưng bao giờ cũng có một phương thức chủ đạo” [1] (Đề 1- Minh họa)

Trang 9

STT Phương thức biểu đạt Mục đích giao tiếp

2 Miêu tả Dựng các chi tiết, hình ảnh giúp người đọc

hình dung ra được đặc điểm nổi bật của một sự việc, sự vật, con người, phong cảnh [2]

3 Biểu cảm Bày tỏ tình cảm, cảm xúc [2]

4 Nghị luận Nêu ý kiến đánh giá, bàn luận [2]

5 Thuyết minh Giới thiệu đặc điểm, tính chất [2]

6 Hành Chính Truyền đạt những nội dung và yêu cầu của cấp

trên hoặc bày tỏ những ý kiến nguyện vọng của

cỏ nhân hay tập thể tới các cơ quan và người có quyền hạn để giải quyết [2]

Khi xác định phương thức biểu đạt học sinh chú ý bản chất của từng phương thức biểu đạt để có cách nhận diện và nên sử dụng phương pháp loại trừ:

- Nếu là thơ: chủ yếu sử dụng phương thức biểu đạt biểu cảm

- Nếu là văn xuôi (truyện, tiểu thuyết): chủ yếu sử dụng phương thức biểu đạt tự

sự, miêu tả

- Nếu là đơn từ: sử dụng phương thức biểu đạt hành chính……

*Nhận diện phong cách ngôn ngữ:

tất cả 6 phong cách ngôn ngữ học sinh đã được làm quen trong chương Trình Trung học phổ thông Để nhận diện được phong cách ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản yêu cầu học sinh phải nắm được thể loại và các đặc trưng của từng phong cách ngôn ngữ Có thể hệ thống kiến thức theo bảng sau:

STT Phong cách

1 Sinh hoạt Dạng nói (độc thoại, đối

thoại), dạng viết (nhật ký, thư từ, tin nhắn…), dạng lời nói tái hiện trong tác phẩm văn học

Tính cụ thể, tính cảm xúc, tính cá thể

(nghệ thuật) Thơ ca, truyện, tiểu thuyết, kịch… Tính hình tượng, tính cá thể truyền cảm, tính

hóa

3 Hành chính Nghị định, thông tư, chỉ thị,

quyết định… Tính khuôn minh xác, tính công mẫu, tính vụ

4 Chính luận Cương lĩnh, tuyên bố, tuyên

ngôn, các bài xã luận, báo cáo tham luận trong các hội nghị Chính trị…

Tính công khai về quan điểm chính trị; tính chặt chẽ trong diễn đạt và suy luận; tính truyền cảm, thuyết phục

5 Báo chí Bản tin, phúng sự, tiểu

phẩm… Tính thông tin tính ngắn gọn; tính sinh thời sự;

động hấp dẫn

6 Khoa học Các loại văn bản khoa học Tính trừu tượng khái

Trang 10

chuyên sâu, các văn bản dùng để giảng dạy các môn khoa học, các văn bản phổ biến khoa học

quát; tính lý trí logic; tính phi cá thể

Học sinh có thể xác định các phong cách ngôn ngữ chức năng theo các dấu hiệu sau:

- Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt: là lời đối thoại của nhân vật trong tác phẩm văn chương hoặc trong đời sống hằng ngày, nhật ký …có sử dụng khẩu ngữ, từ thông tục…

- Phong cách ngôn ngữ văn chương: là văn bản văn học (truyện, thơ ) hoặc một đoạn trích của văn bản văn học

- Phong cách ngôn ngữ báo chí: có sự kiện, diễn biến, nhân vật….và chú ý đến xuất xứ nguồn tin

- Phong cách ngôn ngữ hành chính: là các đơn từ có quốc hiệu, tiêu ngữ

- Phong cách ngôn ngữ chính luận: thường sử dụng lớp từ mang màu sắc chính trị

- Phong cách ngôn ngữ khoa học: thể hiện kiến thức về các bộ môn khoa học (Khoa học Tự nhiên, Khoa học Xã hội) mang tính chuyên sâu hoặc văn bản giáo khoa

“Tuy nhiên, trong thực tế ngữ liệu đọc- hiểu không chỉ được trình bày theo một phong cách duy nhất mà thường kết hợp nhiều phong cách khác nhau Ví

dụ, Phong cách ngôn ngữ Chính luận và Phong cách ngôn ngữ Báo chí thường

đi kèm với nhau; Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật và Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt cũng có thể đi kèm với nhau” [1] Đề thi tốt nghiệp năm 2014 là một minh chứng tiêu biểu hay như đề 6 minh họa Vì vậy, khi gặp những loại văn bản này học sinh phải chú ý nếu không sẽ không được điểm tối đa

*Nhận diện hình thức ngôn ngữ:

**Ngôn ngữ trực tiếp:

- Ngôn ngữ nhân vật: ngôn ngữ đối thoại giữa các nhân vật với nhau trong truyện, hoặc chỉ là những lời độ thoại nội tâm của nhân vật

- Ngôn ngữ của người kể chuyện: ngôn ngữ trần thuật

Ví dụ:

- Anh Chí ơi sao lại làm ra thế?

Chí Phèo lim dim mắt rên lên:

- Tao chỉ liều chết với bố con nhà mày đấy thôi Nhưng tao mà chết thì có thằng sạt nghiệp, mà còn rũ tù chưa biết chừng.

Cụ Bá cười nhạt, nhưng tiếng cười giòn giã lắm; người ta bảo cụ hơn người cũng bởi cái cười.

(Chí Phèo- Nam Cao, SGK Ngữ văn 11, tập 1, NXB Giáo dục 2010) [1]

**Ngôn ngữ nửa trực tiếp: ngôn ngữ đan xen giữa lời nhân vật với lời của

người kể chuyện

Ví dụ:

Hắn vừa đi vừa chửi Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi Bắt đầu hắn chửi trời Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai Tức mình hắn chửi ngay tất cả làng

Ngày đăng: 25/05/2022, 10:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Tập, GV Trường THPT Chà Cang, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên Biện pháp nâng cao năng lực đọc hiểu văn bản cho học sinh trường THPT Chà Cang- SKKN năm học 2015-2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp nâng cao năng lựcđọc hiểuvăn bản cho học sinh trường THPT Chà Cang
2. Video bài giảng trên Youtube của các thầy cô giáo có kinh nghiệm Khác
3. Các biện pháp tu từ cú pháp thường gặp- Loigiaihay (loigiaihay.com/cac- bien- phap- tu- tu- cu- phap- thuong- gap) Khác
4. Các biện pháp tu từ đã học – Thu Trang (thutrang.edu.vn/cac- bien- phap- tu- tu- da- hoc) Khác
5. Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8 tập 1, NXB Giáo dục, H.2009 6. Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11tập 1, NXB Giáo dục, H.2010 7. Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12 tập 1+2, NXB Giáo dục, H.2011 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

(nghệ thuật) Thơ kịch… ca, truyện, tiểu thuyết, Tính hình tượng, truyền tính cá cảm, tính thể hóa. - SKKN Hình thành năng lực làm bài đọc- Hiểu cho học sinh trường Trung học phổ thông Tĩnh Gia 4
ngh ệ thuật) Thơ kịch… ca, truyện, tiểu thuyết, Tính hình tượng, truyền tính cá cảm, tính thể hóa (Trang 9)
2 Miêu tả Dựng các chi tiết, hình ảnh giúp người đọc hình dung ra  đượcđặcđiểmnổibậtcủamộtsự việc,sựvật, con người, phong cảnh [2]. - SKKN Hình thành năng lực làm bài đọc- Hiểu cho học sinh trường Trung học phổ thông Tĩnh Gia 4
2 Miêu tả Dựng các chi tiết, hình ảnh giúp người đọc hình dung ra đượcđặcđiểmnổibậtcủamộtsự việc,sựvật, con người, phong cảnh [2] (Trang 9)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w