Nguyễn Thị Hồng Nhung 1 Hoá lý Silicat I – CH4209 HOÁ LÝ SILICAT I S T T Chủ đề + Giải đáp câu hỏi trắc nghiệm Vấn đề cốt lõi của chủ đề Ví dụ minh họa Chương 1 Khái quát về hóa học tinh thể và cấu trúc vật liệu 0 1 N h iễ u x ạ t ia X Đặc điểm để tinh thể lý tưởng có giản đồ nhiễu xạ tia X là dạng vạch? Tính chất hình học hoàn chỉnh Các nút mạng thay đổi có quy tắc Khuyết tật trong tinh thể lý tưởng bù trừ nhau Các điểm nút hoàn toàn đối xứng Giải thích Tinh thể lý tưởng không có khuyết.
Trang 1HOÁ LÝ SILICAT I
S
T
T
Chủ đề + Giải đáp câu hỏi trắc
Chương 1: Khái quát về hóa học tinh thể và cấu trúc vật liệu
Đặc điểm để tinh thể lý tưởng có
giản đồ nhiễu xạ tia X là dạng vạch?
Tính chất hình học hoàn chỉnh
Các nút mạng thay đổi có quy tắc
Khuyết tật trong tinh thể lý tưởng
- Do tính tuần hoàn của cấu trúc tinh thể tạo nên các cực đại và cực tiểu nhiễu xạ
- Tại các vị trí trong tinh thể: các đỉnh giao thoa của tia X được đặc trưng bởi sự phân bố các nguyên tử trong tinh thể -> mô hình nhiễu xạ tia X là duy nhất với mỗi cách sắp xếp nguyên tử trong vật liệu
- Nhiễu xạ với mặt phẳng tinh thể gần hơn thì vạch nhiễu xạ cao hơn tức đạt cực đại nhiễu xạ
- Thời gian nhiễu xạ ở 1 góc nhất định càng lâu thì cường độ (số tín hiệu) nhiễu xạ càng lớn
- Giản đồ nhiễu xạ tia X của:
+Tinh thể lý tưởng: dạng vạch +Tinh thể thực: dạng đường cong cực đại (Do khuyết tật của tinh thể)
- Nhiễu xạ là hiện tượng quan sát được khi sóng lan truyền qua khe nhỏ hoặc mép vật cản, trong đó sóng bị lệch hướng lan truyền, lan toả về mọi phía từ vị trí vật cản, và tự giao thoa với các sóng khác lan ra từ vật cản
- Tia X là một dạng của sóng điện từ, khả năng xuyên thấu lớn, gây ra hiện tượng phát quang ở một số chất
- Chiếu lên tinh thể một chùm tia X (tia Rơnghen), mỗi nút mạng trở thành tâm nhiễu xạ và mạng tinh thể đóng vai trò như cách tử nhiễu xạ
Máy nhiễu xạ tia
X dùng để phân tích cấu trúc tinh thể (tham số mạng tinh thể), ứng dụng trong phân tích các mẫu chất, nghiên cứu vật liệu
Trang 2Liên kết trong hầu hết vật liệu
Ceramic là liên kết hỗn hợp ion –
Cation cùng kích thước và điện
tích, nguyên tố chuyển tiếp có đặc
tính CHT lớn hơn kiềm và kiềm thổ
Nguyên tố chuyển tiếp luôn có
đặc tính CHT lớn hơn kiềm và kiềm
thổ
Giải thích:
- Tỉ lệ r+/r- nhỏ -> phần liên kết ion
nhỏ -> phần CHT lớn
- Điện tích cation lớn -> Liên kết ion
- Đặc tính CHT trong cation của
nguyên tố chuyển tiếp lớn hơn kiềm
và kiềm thổ (đk: cation cùng kích
thước và điện tích)
- Tinh thể chuyển tiếp là dạng chủ yếu của vật liệu ceramic, liên kết trong hầu hết chúng là liên kết ion – CHT
+ Phần liên kết ion dễ bị hòa tan, dễ
bị biến đổi + Phần liên kết CHT độ bền cơ học cao, khó bị biến đổi
-Quy tắc Fajan sử dụng để dự báo xem liên kết hóa học là liên kết CHT hay là liên kết ion, nó phụ thuộc vào điện tích của cation và kích thước tương đối của cation và anion:
+ Là liên kết ion nếu: Điện tích dương thấp hoặc cation lớn hoặc anion nhỏ (Ví dụ: Chloride natri NaCl)
+ Là liên kết CHT thì ngược lại (Ví dụ: SiO4)
Ví dụ Trong các loại đất sét:
+ Phần ion là phần của phân lớp bát diện (các ion Mg,
Al, Fe bị bọc bởi các anion O2-, OH-, F-
+ Phần cộng hóa trị là phần phân lớp tứ diện [SiO4]
- Chloride natri NaCl (với điện tích dương thấp (+1), với cation tương đối lớn và anion nhỏ) là liên kết ion
- Iodide nhôm AlI3 (với điện tích dương cao (+3) và anion lớn)
Để có sự biến đổi thù hình xảy ra thì
yếu tố nào làm thay đổi những đặc
- Ví dụ (dựa vào lý thuyết đã nêu)
T tăng -> bán kính ion tăng -> r+/r-
thay đổi (giả thiết r+/r- tăng) -> SPT
-> Tính chất hóa lý thay đổi
- Tứ diện [SiO4] không thay đổi, chỉ thay đổi góc giữa 2 tứ diện với nhau tức góc Si-O-Si
VD1- Ban đầu có hệ rắn ổn định -> Tăng dần nhiệt độ thì xảy ra biến dạng dẻo từ dạng
A sang B -> Tăng nhiệt độ thêm thì nóng chảy -> Và khi làm lạnh thì quá trình xảy
ra hoàn toàn ngược lại VD2- Sự khác nhau
về cấu trúc của tinh thể, chẳng hạn kim cương và than chì (graphit) là hai dạng thù hình của nguyên
tố cacbon Ở áp suất bình thường carbon có dạng của graphit, ở áp suất cực kỳ cao các nguyên tử carbon tạo thành thù hình gọi là
Trang 3-Do mặt phẳng đi qua gốc tọa độ hệ,
khi nghịch đảo giao điểm thì được
chỉ số Miller không xác định
-Nhưng vị trí gốc tọa độ của hệ được
chọn tùy ý
=> Tịnh tiến gốc tọa độ đến một
điểm mạng tương đương khác
(Tránh được phải dùng dấu ∞ do mp
cắt tạo gốc tọa độ, khi nghịch đảo sẽ
thu được giá trị là “∞” trong tập hợp
chỉ số Miller)
- Lùi về sau sẽ được giá trị âm nên
thay dấu trừ bằng ký hiệu dấu ngang
trên đầu
- Trong tinh thể có vô số mặt phẳng
- Các mặt phẳng song song nhau chia thành các bộ khác nhau trong
đó các mặt phẳng liền kề cách đều nhau
=> Chỉ số Miller (h,k,l) được đưa ra
để theo dõi các bộ mặt phẳng đó, tính toán được cấu trúc và nhiễu hạt
- Nó thể hiện vị trí tương đối của mặt mạng đối với các trục tinh thể
- Họ mặt có chỉ số Miller càng nhỏ thì khoảng cách giữa hai mặt kế nhau càng lớn và mật độ các nút mạng cũng càng lớn
Dựa vào số thông
số của chỉ số Miller có thể nhận
ra được tinh thể lục phương + Chỉ số Miller có
4 thông số thì là các tinh thể thuộc
hệ lục phương + Các hệ khác thì chỉ số Miller chỉ
có 3 thông số
Trang 4ể Đáp án nào dưới đây chỉ đúng nhất
về khuyết tật điểm nội tại?
- Khuyết tật Schottky (1 nút khuyết
anion và 1 nút khuyết cation)
- Khuyết tật Frenkel (1 nút khuyết
cation và 1 nút xen kẽ cation)
Đáp án 2 và 4 giống nhau => Lỗi
+ Khuyết tật cấu trúc (Khuyết tật điểm; Đường; Mặt; Khối) Do khuyết nguyên tử hoặc xen kẽ nguyên tử, do lỗi sắp xếp
- Khuyết tật vừa có lợi vừa có hại:
+ Lợi: khuyết tật nhiều -> dễ nghiền mịn, đập nhỏ -> phản ứng rắn-rắn dễ dàng hơn
+ Hại: Vật liệu có nhiều khuyết tật
-> ảnh hưởng tính chất vật liệu (Kim cương không sáng, không bóng)
- Các vị trí khuyết tật có năng lượng
dự trữ lớn, khả năng phản ứng cao, tính chất lý hóa thay đổi => Các chất khuếch tán dễ khuếch tán vào trong vật chất
-Đối với chất khuếch tán nếu bề mặt không có khuyết tật thì cấu trúc có thể gọi là hoàn thiện, phân
tử của chất bị khuếch tán khó có thể khuếch tán lên
bề mặt
- Nhưng, nếu có khuyết tật (ví dụ khuyết tật Shottky) -> bề mặt thoáng hơn
-> phân tử dễ khuếch tán vào hơn
Biên giới có tác dụng cản trở quá
trình trượt khi biến dạng
Khi chuyển biến pha, biên giới là
nơi dễ sinh ra tâm mầm nhất
Có khả năng khuếch tán cao với
tốc độ nhanh hơn so với vùng bên
trong
Khả năng khuếch tán với tốc độ
chậm hơn so với vùng bên trong
Giải thích:
- Biên giới hạt gồm các hạt khác
nhau tiếp xúc, sắp xếp hỗn độn với
nhau (-> Do có nhiều loại hạt nên
khả năng sinh mầm có xác suất cao
-Biên giới hạt là vùng mà 2 hạt rắn (hoặc tinh thể) trong khối vật liệu đa tinh thể tiếp xúc với nhau
- Đặc điểm:
+ Hai pha hoàn toàn khác nhau hoặc cấu trúc giống nhau nhưng hướng của tinh thể (chỉ số Miller) khác nhau
+ Tại đó, các phần tử sắp xếp không trật tự
+ Biên giới hạt có khả năng hòa tan nhiều nguyên tử tạp chất -> Kim loại càng chứa nhiều tạp chất thì biên giới hạt càng dày
-Hầu hết các ranh giới hạt là các vị trí ưa thích cho sự khởi đầu của sự
Ví dụ đối với phản ứng rắn – rắn của CaO và Al2O3 thì nơi tiếp xúc của chúng hay là nơi phản ứng đầu tiên ban đầu chính là biên giới hạt, sau
đó phản ứng xảy
ra, biên giới hạt lại thay đổi (tăng lên
về số lượng cũng như thành phần hạt tại đó)
Trang 5Điều kiện tạo dung dịch rắn lẫn?
Có phần tử lạ xâm nhập vào cấu
trúc tại vị trí xen kẽ cố định
Thành phần không tỷ lượng, thiếu
cation hoặc anion
Có phần tử lạ xâm nhập vào cấu
trúc tại vị trí xen kẽ bất kỳ với bán
kính nhỏ hơn nguyên tử gốc, tạo
thành bề mặt phân chia pha
Có phần tử lạ xâm nhập vào cấu
trúc tại vị trí xen kẽ bất kỳ với bán
kính nhỏ hơn nguyên tử gốc, không
tạo thành bề mặt phân chia pha
bề mặt phân chia pha
- Nhiệt độ khác nhau thì mức độ hòa tan khác nhau
+ Ở nhiệt độ cao thì cấu tử hòa tan
vô hạn vào nhau -> Rắn liên tục + Nhiệt độ thấp, hòa tan hạn chế ->
Rắn hạn chế + Lạnh, có thể tách pha ở một số dung dịch do vượt quá độ hòa tan
- Có 3 loại dung dịch rắn:
+ Rắn lẫn: Có phần tử lạ xâm nhập vào cấu trúc tại vị trí xen kẽ bất kỳ với bán kính nhỏ hơn nguyên tử gốc, không tạo thành bề mặt phân chia pha
+ Rắn thay thế: Phân tử lạ xâm nhập cấu trúc, thay thế vị trí nút mạng (lượng nhỏ -> tạp chất đồng hành;
lượng lớn -> Tinh thể hỗn tạp) + Rắn khuyết: Thành phần không tỷ lượng, thiếu cation hoặc anion
Thấm cacbon/nitơ vào thép
• Thấm cacbon giúp tăng độ cứng
và khả năng chịu mài mòn của thép
• Kim loại không
bị mất các tính chất đặc trưng như ánh kim, độ dẫn điện,… song
Điều gì đúng về sự thay thế Si trong
tứ diện với cấu trúc silicat dạng đảo?
Do đặc điểm của Silicat dạng đảo
- Đơn vị cấu trúc cơ bản là SiO4 , bao quanh SiO4 là các cation kim loại ngoại Các cation kim loại đóng vai trò như 1 cầu nối liên kết các dạng đảo với nhau
- Đặc điểm:
+ Các nguyên tử Oxi không dùng chung với các tứ diện bên cạnh + Các tứ diện liên kết nhau qua các cation kim loại
+ Thường các cation kim loại kích thước vừa, nhỏ; Không gặp các cation kích thước lớn
+ Silic trong tứ diện [SiO4] không được thay thế bằng Al hay các cation khác
Trong Fosterite
Mg2[SiO4] - thành phần sản xuất gạch chịu lửa, khối tứ diện [SiO4] được sắp xếp làm 2 hướng ngược nhau, liên kết với nhau thông qua các nguyên tử
Mg hoặc có thể là
Fe
Trang 6 Các ion ở phân lớp bát diện được
trung hòa hoàn toàn bởi các phân
lớp khác
Các lớp được liên kết với nhau
bằng lực Van der Waals
F-
- Si có thể được thay thế bằng Al hoặc Mg
Thành phần mỗi tấm:
+ Kaolinit: 1 phân lớp bát diện và 1 phân lớp tứ diện Giữa các tấm liên kết nhau bằng liên kết Hidro
+ Khoáng Vermiculit, Montmonrilonit, Talc: 1 bát diện kẹp giữa 2 tứ diện Giữa các tấm là các phân tử nước (Montmonrilonit) hoặc các nguyên
Zeolite được sử dụng rộng rãi trong
công nghệ hóa học nhờ khả năng
- Silicat dạng khung gồm:
+ Tất cả các dạng hình thù của SiO2 + Tất cả các loại tràng thạch
+ Zeolite
Zeolit có cấu trúc
là các đơn vị bát diện lập phương với các đỉnh là Al,
Si và ở giữa là các cạnh Oxi.-> Tạo thành các lưới lỗ liên tục phân bố đều đặn, không gian lỗ có thể lấp đầy nước, khi mất nước thì cấu trúc vẫn không biến dạng
Chương 3: Silicat ở trạng thái nóng chảy
Trang 7diện [SiO4] không chung đỉnh do
nhiều Oxy tức tỷ lệ O/Si lớn
Phức Silicoxy không phức tạp có
các tứ diện [SiO4] chung đỉnh do ít
Oxy tức tỷ lệ O/Si nhỏ
Phức Silicoxy không phức tạp có
các tứ diện [SiO4] không chung đỉnh
do nhiều Oxy tức tỷ lệ O/Si lớn
- Phức silicoxy đơn giản (các tứ diện [SiO4] không cần chung đỉnh) Nhiều Oxy -> Tỷ lệ O/Si lớn
- Phức silicoxy phức tạp (các tứ diện [SiO4] cần chung đỉnh) Ít Oxy ->
Tỷ lệ O/Si nhỏ
- Khi O/Si không đổi thì mức độ tạo phức phụ thuộc vào năng lượng của
1 đơn vị liên kết Me-O
Cơ chế đứt gãy của phức silicoxy:
SiO2 chuyển vào hỗn hợp nóng chảy ở dạng
nhóm silicoxy bền vững đặc trưng bởi số
lượng trùng hợp polime khác nhau Những nhóm silicoxy đó bao xung quang bởi các ion Na+, K+, Ca2+, Fe2+ và hướng tới
lựa chọn những ion liên kết cộng hóa trị
của oxy và tạo nên với số phối trí kép (số phối trí hình đa diện) Dưới tác dụng của
những lực ion mà mạng polime -Si-O-Si-
dần dần bị đứt và trong hỗn hợp nóng chảy
xuất hiện những mạng xích yếu hơn dạng
-Si-O-Me-
Na2O (tnc = 800oC – tnc thấp) -> Cung cấp ion Na -> Có khả năng tấn công vào silicat dạng khung -> cắt đứt các liên kết -> cung cấp O cho mạng lưới silicat -
> Tăng tỉ lệ O/Si
-> Ít tứ diện SiO4 chung đỉnh -> linh hoạt hơn -> liên kết các phân tử tốt hơn
- Natri oxide thường được thêm
vào qua sôđa
Thêm oxit kiềm vào silicat nóng
chảy thì độ nhớt giảm đi nhiều so
với them oxit kiềm thổ
Dịch chuyển O2- từ liên kết với
Mex+ sang liên kết với Si4+, tạo phức
đơn giản
Dịch chuyển O2- từ liên kết với
Si4+ sang liên kết với Mex+, tạo phức
phức tạp
Xuất hiện nhóm MeOx kết hợp
với oxit silic tách ra thành pha lỏng
riêng
Giải thích:
Mức độ tạo phức của chất lỏng nóng
chảy silicat phụ thuộc vào năng
lượng liên kết của Me-O
-Mức độ tạo phức của chất lỏng nóng chảy silicat phụ thuộc vào năng lượng liên kết của Me-O:
+ E lớn -> dịch chuyển O2- từ liên kết với Si4+ sang liên kết với Mex+ -
> Oxy tại các tứ diện giảm -> các tứ diện buộc phải chung đỉnh -> Phức phức tạp
+ E nhỏ -> dịch chuyển O2- từ liên kết với Mex+ sang liên kết với Si4+ -
> Oxy tại các tứ diện tăng -> các tứ diện không phải chung đỉnh -> Phức đơn giản
- Nếu ER+ > ER2+ -> khi thêm oxit kiềm vào silicat nóng chảy thì độ nhớt giảm đi nhiều hơn so với thêm oxit kiềm thổ
Trang 8Đặc điểm của chất lỏng quá lạnh?
Giữ nguyên được cấu trúc chất
lỏng ở nhiệt độ cao
Có năng lượng tự do lớn hơn
năng lượng tự do của chất đó ở trạng
thái tinh thể
Có năng lượng tự do nhỏ hơn
năng lượng tự do của chất đó ở trạng
thái tinh thể
Hạ nhiệt độ kết tinh nhưng vẫn
chưa kết tinh
Giải thích:
Đặc điểm của chất lỏng quá lạnh
- Khi làm lạnh nhanh nhưng chất lỏng vẫn chưa kết tinh, đến nhiệt độ nào đó thì đạt trạng thái dẻo, chất lỏng ở khoảng nhiệt độ từ giữa tkết tinh đến thời điểm bắt đầu hóa dẻo được gọi là chất lỏng quá lạnh
-> Ngắn gọn: Hạ đến nhiệt độ kết tinh rồi nhưng chất lỏng vẫn chưa kết tinh
- Chất lỏng quá lạnh chỉ xảy ra ở một số hệ
- Silicat nóng chảy ở trạng thái quá lạnh là giả bền: năng lượng tự do >
năng lượng tự do của cùng chất đó ở trạng thái tinh thể
Thủy tinh có thể được coi là chất lỏng quá lạnh, vẫn còn giữ được cấu trúc chất lỏng ở nhiệt độ cao
Khả năng len lỏi vào các khe, lấp
đầy chỗ trống trong vật liệu
Quá trình chuyển hóa lỏng, rắn
Mức độ biến dạng sản phẩm sau
khi nung
Khả năng thấm ướt các pha rắn
giúp tiếp xúc tốt hơn, phản ứng tốt
hơn
Giải thích:
Đặc điểm của độ nhớt
- Độ nhớt là đại lượng đặc trưng cho
ma sát nội của dòng chảy
- Được xác định bằng lực ma sát giữa 2 lớp chất lỏng song song trượt lên nhau
- Các yếu tố ảnh hưởng đến độ nhớt:
+ Nhiệt độ: Khi to↑ -> dao động các phần tử ↑ -> các lớp kế tiếp liền nhau có Fms↓ -> Độ nhớt↓
Tuy nhiên, khi bắt đầu ↑to thì độ nhớt ↓ nhanh -> chậm dần + Thành phần hóa học (chưa có quy luật tổng quát) - một số quy luật quan sát được:
o Hoặc có thể nói: tạo phức phức tạp -> độ nhớt tăng;
phức đơn giản -> độ nhớt giảm
+ Khi đưa thêm oxi kiềm hay kiềm thổ, năng lượng liên kết giữa kim loại với O nhỏ ->
O2- dịch chuyển sang Si4+ -> phức đơn giản đi -> ma sát giữa chúng ko còn cao như trước -> độ nhớt ↓ + Nhưng khi thêm oxit kim loại kiềm thổ và nhôm vào thì lại tạo thành các phức alumosilicoxy phức tạp -> ma sát giữa chất lỏng với nhau↑ -> độ nhớt↑
Trang 9Đặc điểm của sức căng bề mặt trong
công nghệ sản xuất thủy tinh?
Khả năng thấm ướt các pha rắn
giúp tiếp xúc tốt hơn, phản ứng tốt
hơn
Khả năng khử hết ứng suất
Là nguyên nhân làm cho mép các
tấm thủy tinh bị cộm
Có tác dụng lớn trong việc tạo
hình thủy tinh có những sắc thái độc
đáo
Giải thích:
Đặc điểm của sức căng bề mặt
- Sức căng bề mặt là đại lượng đặc trưng cho xu hướng bề mặt chất lỏng
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sức căng
bề mặt:
+ Nhiệt độ: ↑to -> sức căng bề mặt giảm
+ Thành phần hóa học (phân loại các oxit ảnh hưởng đến sức căng bề mặt):
o Nhóm không hoạt tính bề mặt (Al2O3, MgO, CaO, Na2O, CdO ): Nằm trong khối chất lỏng;
Khi tạo thành chất lỏng nóng chảy với SiO2 thì diện tích bề mặt ít bị thay đổi
o Nhóm oxit trung gian (PbO, K2O, Sb2O5, B2O3 ): hòa tan tốt trong chất lỏng nóng chảy, giảm sức căng tương đối nhanh
o Nhóm hoạt tính bề mặt
(Cr2O3, V2O5): Không nằm trong lòng chất lỏng mà phân bố ở bề mặt; hòa tan ít trong silicat nóng chảy, giảm sức căng mạnh
Khi thêm oxit kim loại kiềm thổ (như BaO, MgO, BeO, Cao) vào khối chất lỏng nóng chảy,
nó thuộc nhóm oxit không hoạt tính bề mặt (do khi hòa tan vào thì tập trung trong lòng khối chất lỏng)
-> sức căng bề mặt không ảnh hưởng
Trang 10- Liên kết giữa phần cation và phần
anion là kiên kết ion
- Liên kết giữa Si với O là liên kết
- Liên kết giữa O với các cation tạo phức là liên kết hỗn tạp
- Liên kết giữa các ion đơn giản (Nax+, Kx+, Ca2x+, Mn2x+, ) với O chủ yếu là liên kết ion
- Mức độ tạo phức (phức tạp, đơn giản) phụ thuộc việc số Oxy dùng chung của tứ diện ít hay nhiều ->
Tức phụ thuộc tỷ lệ O/Si và năng lượng liên kết oxy – kim loại
- Nếu độ âm điện của các cation oxit tăng -> phần liên kết ion ↓, phần liên kết CHT ↑
- Những anion có phần liên kết CHT với anion oxy O2- lớn hơn các cation còn lại -> tạo ra các anion phức đóng vai trò mạng lưới cấu trúc trong chất lỏng nóng chảy:
+ SiO2 có cấu trúc dạng khung + Oxit kim loại kiềm, kiềm thổ nóng chảy -> Cấu trúc ion
Trang 11 Oxit tan tốt trong chất lỏng nóng
chảy, có khả năng làm giảm sức
-Khi thêm oxit kim loại kiềm thổ và
nhôm vào thì lại tạo thành các phức
alumosilicoxy phức tạp -> ma sát
giữa chất lỏng với nhau↑ -> độ
nhớt↑ => Sai đáp án
- Khi thêm oxit kim loại kiềm thổ
(như BaO, MgO, BeO, Cao) vào
khối chất lỏng nóng chảy, nó thuộc
nhóm oxit không hoạt tính bề mặt
(do khi hòa tan vào thì tập trung
Si4+) -> phức đơn giản đi -> ma sát giữa chúng ko còn cao như trước ->
độ nhớt ↓
- Nhưng khi thêm oxit kim loại kiềm thổ và nhôm vào thì lại tạo thành các phức alumosilicoxy phức tạp -> ma sát giữa chất lỏng với nhau↑ -> độ nhớt↑
- Khi thêm oxit kim loại kiềm thổ (như BaO, MgO, BeO, Cao) vào khối chất lỏng nóng chảy, nó thuộc nhóm oxit không hoạt tính bề mặt
(do khi hòa tan vào thì tập trung trong lòng khối chất lỏng)
-> sức căng bề mặt không ảnh hưởng
- Khi tỷ lệ kiềm/nhôm nhỏ -> khả năng tạo phức alumosilicoxy lớn -> phức càng phức tạp -> độ nhớt càng tăng
Chương 4: Silicat ở trạng thái thủy tinh
Tính chất nào của trạng thái thủy
tinh không có so với trạng thái tinh
thể?
Không có tính đẳng hướng
Không có năng lượng dự trữ
Không có điểm nóng chảy xác
- Có thể nóng chảy và đóng rắn thuận nghịch
Trang 12Nguyên nhân gì dẫn đến nội năng
của thủy tinh lớn hơn của tinh thể?
Cấu trúc sắp xếp không đối xứng
Không tuần hoàn
Mạng lưới nguyên tử sắp xếp
không gian 3 chiều
Lực tương tác nguyên tử trong
thủy tinh lớn hơn tinh thể
Giải thích:
- Cấu trúc sắp xếp không đối xứng,
không tuần hoàn -> khuyết tật ->
năng lượng dự trữ (nội năng) lớn
- Lực tương tác giữa các nguyên tử
trong thủy tinh và tinh thể gần như
nhau -> tính cơ học gần như nhau
- Cả 2 đều có mạng lưới nguyên tử
sắp xếp trong không gian 3 chiều
- Theo đặc điểm của thủy tinh ở trạng thái tinh thể: Năng lượng dự trữ của thủy tinh lớn hơn tinh thể ->
điều kiện nhiệt độ thuận lợi, thủy tinh có khuynh hướng kết tinh.
- Năng lượng dự trữ lớn hơn do:
+ Thủy tinh là chất rắn vô định hình:
trạng thái mà các phân tử, nguyên tử không nằm ở các vị trí có trật tự trên diện rộng -> Cấu trúc sắp xếp không đối xứng
+ Vì không có trật tự nên sẽ ko có tính tuần hoàn
➔ Khuyết tật nhiều
➔ Năng lượng dự trữ lớn
Vì có năng lượng
dự trữ lớn nên chỉ cần nhiệt độ thích hợp là thủy tinh có thể dễ dàng kết tinh
Điền từ còn thiếu: Tôi thủy tinh là
công đoạn dùng để chế tạo thủy tinh
với cường độ chịu nén -(1) - và
cường độ chịu uốn -(2) - so với
thủy tinh bình thường
(1) cao hơn; (2) cao hơn
(1) thấp hơn; (2) thấp hơn
(1) bằng; (2) cao hơn
(1) bằng; (2) thấp hơn
Giải thích:
Khái niệm của tôi thủy tinh
Tôi thủy tinh là quá trình gia công
nhiệt (đốt nóng và làm lạnh nhanh)
tạo ứng suất nén dư lớn lớp bên
ngoài và ứng suất kéo ở bên trong
đều đặn, hợp lý
-Tôi thủy tinh là công đoạn chế tạo
thủy tinh với cường độ chịu nén và chịu uốn cao hơn so với thủy tinh bình thường
+ Tôi hóa học: Sử dụng oxit kiềm dạng soda để cắt đứt liên kết của Si-
O + Tôi vật lý: Làm nóng thủy tinh ->
Thổi khí đột ngột (vỏ co nhanh, lõi
co chậm) -> Ứng suất nén (ứng suất là một đại lượng thể hiện nội lực được phát sinh bên trong một vật thể biến dạng do tác động của những nguyên nhân bên ngoài như nhiệt độ thay đổi, tải trọng… Ứng suất sẽ chỉ xuất hiện bên trong hệ do chính nội lực gây ra ở một đơn vị diện tích nhất định.)
-Tôi hóa học: Sản xuất kính cường lực
-Tôi vật lý: Sản xuất kính thủy tinh
an toàn (tạo ứng suất nén dư lớn ở bên ngoài và ứng suất kéo
ở bên trong một cách thật đều đặn -> khi thủy tinh tôi bị phá hủy sẽ tạo những mảnh vụn, không sắc cạnh)
Nhờ đặc điểm nào của thủy tinh mà
khi sử dụng phương pháp ngâm
chiết có thể tách các kim loại kiềm
và Bo ra khỏi thủy tinh mà mạng
lưới thủy tinh vẫn tồn tại?
Cấu trúc vi tinh thể
Cấu trúc polymer
Cấu trúc nhóm
- Nhờ có cấu trúc nhóm mà việc sử dụng phương pháp ngâm chiết có tác dụng hơn: Tách các kim loại kiềm ra khỏi thủy tinh mà mạng lưới không đổi
=> Thủy tinh không hoàn toàn đồng nhất, có những miền bền hóa và không bền hóa
Thủy tinh tạo ra từ
hệ Na2O-B2O3SiO2 (70-75% mol)
-Dùng HCl tách Na
và B -> Thủy tinh
có nồng độ SiO2lên đến 95% và
Trang 13Chọn đáp án sai khi nói về cấu trúc
vi tinh thể của thủy tinh?
Gồm những tinh thể rất mịn, chủ
yếu là những tinh thể thạch anh
Nhóm tiền kết tinh chưa có thông
số mạng
Tồn tại nhóm tiền kết tinh có biên
giới pha như trong tinh thể
-> Nhóm tiền kết tinh và thủy tinh
không có biên giới pha
Chiết suất của thủy tinh phụ
thuộc vào nhiệt độ
-> tỷ lệ thuận với nhiệt độ trong
khoảng 520 – 600 (biến đổi thuận
nghịch); phụ thuộc ko tuyến tính khi
to lớn hơn (biến đổi không thuận
xạ của thủy tinh kết tinh
- Nghiên cứu bằng quang phổ hồng ngoại phản xạ và hấp thụ thấy các cực đại ứng với các dải phản xạ và hấp phụ của tinh thể và tinh thể kết tinh trùng nhau hoàn toàn
- Trong thủy tinh luôn tồn tại nhóm tiền kết tinh như trong tinh thể nhưng nhóm tiền kết tinh và thủy tinh không có biên giới pha và cũng chưa có thông số mạng
Chương 5: Silicat ở trạng thái phân tán mịn
Đất sét khi gặp nước, hấp phụ ion
hay phân tử nào lên bề mặt hạt sét?
Do bề mặt hạt sét luôn tích điện âm
nên xu hướng luôn là hấp phụ ion
- Phân loại:
+ Hấp phụ vật lý (do lực Van der Waals): không có tính chọn lọc, phụ thuộc cấu trúc của bề mặt pha rắn
+ Hấp phụ hóa học (do ái lực hóa học): có tính chọn lọc, phụ thuộc bản chất hóa học của 2 pha -Các vật liệu silicat đều có cực -> dễ hấp phụ đầu H+ của H2O lên bề mặt của nó -> là nguyên nhân quan trọng tạo ra màng nước trên bề mặt
khoáng sét -> khoáng sét dễ bị trương nở
- Nếu bề mặt pha rắn ưa lỏng (dễ thấm ướt) -> trên bề mặt pha rắn xuất hiện một lớp chuyển tiếp, trong
đó các phân tử chất lỏng gắn chặt lên bề mặt pha rắn
- Trong trộn vữa
và bê tông chứa xi măng Portland, nước có 2 nhiệm vụ: hoạt hóa các hạt xi măng (lượng nước ít) và làm cho hố xi măng linh động (lượng nước nhiều)
- Nếu nước quá nhiều -> cường độ
xi măng thấp -> dùng phụ gia để ↓ lượng nước dư: + Phần ưa nước sẽ quay vào bề mặt rắn
+Phần kỵ nước sẽ quay ra ngoài -> Hạn chế lượng nước hấp phụ