1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài báo cáo kinh tế vĩ mô TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19 ĐẾN KINH TẾ VĨ MÔ VIỆT NAM

13 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 238,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết dưới đây sẽ đề cập đến tác động của dịch COVID-19 lên tổng cung, tổng cầu; cũng như ảnh hưởng của “cú sốc kép” cung và cầu lên trạng thái cân bằng vĩ mô trong 3 quý đầu năm 2020

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT



Bài báo cáo kinh tế vĩ mô:

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19 ĐẾN KINH TẾ VĨ

MÔ VIỆT NAM

Thực hiện: Nhóm 17

GVHD: Thầy Nguyễn Xuân Lâm

Trang 2

MỤC LỤC

1 Đặt vấn đề 2

1.1 Tính cấp thiết của chủ đề 2

1.2 Sự cần thiết của báo cáo 2

2 Phân tích tác động 2

2.1 Tác động của Đại dịch Covid 19 lên Tổng cầu Việt Nam 2

2.2 Những tác động đến tổng cung 5

2.3 Tác động đến trạng thái cân bằng vĩ mô 7

3 Khuyến nghị chính sách 10

3.1 Những chính sách và giải pháp đã triển khai 10

3.2 Những chính sách và giải pháp cho thời gian tới 11

4 Tổng kết 12

Trang 3

1 Đặt vấn đề

1.1 Tính cấp thiết của chủ đề

Đại dịch COVID-19 đã gây ra những ảnh hưởng toàn diện, sâu rộng đến hầu khắp các quốc gia trên thế giới và cho đến hiện tại vẫn còn diễn biến rất phức tạp Việt Nam cũng không ngoại lệ, dưới tác động của đại dịch, nền kinh tế Việt Nam với độ mở lớn, hội nhập quốc tế sâu rộng đã và đang chịu nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng Các hoạt động kinh tế đa ngành đều hứng chịu tác động tiêu cực, doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc “trụ vững” giữa bối cảnh kinh tế khó khăn, dẫn đến đời sống người lao động cũng bị ảnh hưởng nặng nề Đứng trước thực trạng này, chủ đề nghiên cứu: “Tác động của đại dịch COVID-19 đến kinh tế vĩ mô Việt Nam” là một chủ đề hết sức cần thiết, cần được khai thác và làm rõ

1.2 Sự cần thiết của báo cáo

Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đều bị đe dọa nghiêm trọng của dịch COVID-19, việc đưa ra một bản báo cáo kinh tế vĩ mô về sự tác động tiêu cực trong thời kỳ dịch bệnh là rất cấp bách và cần thiết Một bản báo cáo không chỉ đưa ra được những góc nhìn khách quan về tình hình kinh tế Việt Nam mà còn giúp cho chính phủ có thể từ đó đưa ra những chính sách thích hợp nhằm đảm bảo an toàn cho sức khỏe người dân, đồng thời góp phần giúp cho nền kinh tế nước nhà tránh trường hợp rơi vào khủng hoảng trong cuộc khủng hoảng dịch bệnh COVID-19 Bài viết dưới đây sẽ đề cập đến tác động của dịch COVID-19 lên tổng cung, tổng cầu; cũng như ảnh hưởng của “cú sốc kép” cung và cầu lên trạng thái cân bằng vĩ mô trong 3 quý đầu năm 2020 Từ đó, phân tích những chính sách của chính phủ đề ra nhằm phục hồi kinh tế Việt Nam trong giai đoạn dịch bệnh và đưa ra một

số khuyến nghị cho tình hình nước nhà trong tương lai

2 Phân tích tác động

2.1 Tác động của Đại dịch Covid 19 lên Tổng cầu Việt Nam

0 1.193.485 1.382.951 1.593.586

2.1.1 Tác động đến chi tiêu người dân ( C)

Ở đây ta dùng số liệu Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ trong cả nước để minh họa cho số liệu Chi tiêu người dân (C) Theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch Đầu từ thì Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng các quý 2020 như sau

Quý I 2020: 1225814 tỷ đồng

Quý II 2020: 1141882 tỷ đồng

Y (Nghìn tỉ đồng)

Biều đồ đường tổng cầu kinh tế Việt Nam Quý I 2020 đến Quý III 2020

Q II

Trang 4

Quý III 2020: 1305836 tỷ đồng

Dữ liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy Mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ Quý I 2020 tăng 3.2% so với cùng kỳ năm trước Số liệu Quý II thì lại giảm 5.5% so với cùng kỳ năm 2019 Số liệu của Quý III thì đã tăng trở lại 4.5% so với cùng kì năm 2019

Dịch Covid 2019 đã làm hoạt động kinh doanh của rất nhiều doanh nghiệp bị ảnh hưởng, nhiều doanh nghiệp phải ngừng hoạt động hoặc thậm chí là phá sản Theo Báo cáo của Bộ Kế hoạch thì 9 tháng đầu năm 2020 số lượng Doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 38629 doanh nghiệp, tăng 81.8 % so với cùng kỳ năm 2019 Con số này cho thấy tác động to lớn của dịch Covid lên hoạt động của các doanh nghiệp Hệ quả của việc doanh nghiệp phải ngừng hoạt động đó là thu nhập của người chủ doanh nghiệp cũng như người lao động đều bị sụt giảm Vì thế mà thu nhập khả dụng của các hộ gia đình Việt Nam bị sụt giảm dẫn đến Chi tiêu của người dân vào hàng hóa và dịch vụ cũng giảm theo Và trong suốt 9 tháng đó thì thời điểm dịch hoành hành nhiều nhất là vào Quý II Thời điểm từ tháng 4 đến tháng 6 là giai doạn dịch trầm trọng nhất Vì lẽ đó mà ta thấy rằng Chi tiêu người dân đã giảm mạnh vào Quý II khi so sánh với cùng kì năm 2019 Đến Quý III thì do dịch Covid đã tạm lắng xuống nên hoạt động kinh doanh có phần khởi sắc trở lại từ đó kéo theo người dân có nhiều thu nhập hơn để chi tiêu mua hàng hóa và dịch vụ Nhưng nhìn chung thì do tác động to lớn của DỊch Covid đén hoạt động kinh doanh và qua đó là tác động đến thu nhập và Chi tiêu người dân (C) đã có ảnh hưởng tiêu cực đến Tổng cầu Việt Nam Lẽ ra tác động này sẽ làm đường tổng cầu dịch chuyển sang trái những do những chính sách sẽ được đề cập ở phần sau nên cuối cùng đường tổng cầu vẫn dịch chuyển sang phải

2.1.2 Tác động đến Đầu tư (I)

Yếu tố Đầu tư có thể được thấy rõ nhất qua số liệu Vốn đăng ký mới của Bộ Kế hoạch và đầu

tư Cụ thể, theo báo cáo của Bộ thì Vốn đăng ký ở Việt Nam 3 quý đầu năm như sau:

Quý I: 351369 tỷ đồng

Quý II: 345720 tỷ đồng

Quý III: 731393 tỷ đồng

Dự liệu của Bộ Kế hoạch cho thấy số vốn đăng ký mới của Quý I 2020 đã giảm 6.4 % so với cùng kỳ năm 2019 Sang quý II sự sụt giảm còn trầm trọng hơn khi số vốn đăng ký mới giảm 27.3%

so với cùng quý II 2019 Đến Quý III 2020 thì tình hình có sự khởi sắc khi số vốn đăng ký mới tăng 70.2% so với cùng kỳ năm ngoài Nhìn chung thì 9 tháng đầu năm 2020 số vốn đăng ký vẫn tăng 10.7% so với cùng ký năm 2019

Việc vốn đăng ký mới hay có thể hiểu là Đầu tư (I) của Quý I và Quý II 2020 giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2019 chính là do tác động của Dịch Covid Như đã nói ở phần trên, Dịch Covid làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, làm cho thị trường đầu tư Việt Nam những tháng dịch gần như đóng bang Tâm lí bi quan về triển vọng kinh tế của các nhà đầu tư đã làm cho Đầu tư (I) của kinh tế Việt Nam giảm mạnh so với với năm ngoài Đặc biệt là vào Quý II 2020 khi dịch có diễn biến nghiêm trọng, phức tạp nhất cũng là lúc Đầu tư (I) của Việt Nam giảm thấp đáng kể Tất cả sự sụt giảm trong Vốn kinh doanh mới hày nói cách khác là Đầu tư (I) này đều tác động tiêu cực đến Tổng Cầu của Việt Nam

2.1.3 Tác động của Dịch Covid đến Chi tiêu Chính phủ (G)

Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì Số Vốn đầu Nhà nước (tức là chi tiêu chính của Nhà nước trong số các khoản chi mua hàng hóa và dịch vụ sau các khoản chi thường xuyên) thì vốn đầu tư qua các Quý 2020 là:

Quý I: 60503

Quý II: 96887

Trang 5

Quý III: 145586

Dữ liệu của Bộ Kế hoạch cho thấy Vốn đầu tư Nhà nước Quý I tăng 18.4% so với cùng ký năm

2019 Vốn đầu tư Nhà nước Quý II tiếp tục tăng 23.6% so với cùng kỳ năm trước Sang Quý III Vốn đầu tư Nhà nước có sự tăng mạnh, tăng 48.9% so với cùng kỳ Quý III 2019

Đại dịch Covid 2019 có tác động rất lớn đến chi tiêu Chính phủ Nhà nước để khắc phục hảnh hưởng tiêu cực của đại dịch lên nền kinh tế đã tăng mạnh chi tiêu công Chính phủ Việt Nam trong giai đoạn dịch vừa qua cũng đã có những khoản đầu tư lớn vào vật tư ngành y tế Những khoản chi tiêu lớn đã được dùng để mua sắm thêm máy móc thiết bị phục vụ cho công tác chống dịch như: máy thở, khẩu trang ý tế,… Sự đầu tư mạnh vào ngành y tế này đã góp phần lớn làm tăng chi tiêu Chính phủ Bên cạnh đó các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng lớn vẫn tiếp tục được tiến hành trong năm 2020 mặc dù chịu ảnh hưởng của dịch như: Dự án Đường sắt đô thị TP Hồ Chí Minh, Đường sắt Đường sắt Cát Linh - Hà Đông, Cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận,… Việc Nhà nước tiếp tục tiến hành đầu tư ngân sách vào các dự án này góp phần nâng cao chi tiêu chính phủ Như chúng ta

đã biết, theo lý thuyết Kinh tế Vĩ mô việc tăng chi tiêu chính phủ (G) sẽ có tác động tích cực đến Tổng cầu của Việt Nam, làm cho đường tổng cầu dịch chuyển sang phải

2.1.4 Tác động của Dịch Covid đến xuất khẩu ròng (NX)

Theo số liệu báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, xuất khẩu ròng của Việt Nam trong 3 quý đầu

2020 cho thấy những biến động bất thường Sự thay đổi này đã phản ánh tác động của Covid-19 đến giá trị xuất nhập khẩu, một trong bốn yếu tố ảnh hưởng đến tổng cầu của Việt Nam

Xuất khẩu ròng quý I năm 2020 đạt 7.246 triệu USD, giảm 3.335 triệu USD so với quý IV năm

2019 và giảm 326 triệu USD so với cùng kỳ năm trước Một điểm cần lưu ý, quý I năm 2020 cũng chính là thời điểm đại dịch Covid-19 bắt đầu bùng phát và tàn phá nền kinh tế toàn cầu, và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ Những biểu hiện suy giảm ở quý I chủ yếu xuất phát từ sự gián đoạn thương mại với thị trường Trung Quốc - một trong những đối tác thương mại lớn nhất nước ta, đặc biệt là xuất khẩu hàng nông, thủy sản và nhập khẩu nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất trong nước, do hầu hết nguyên liệu sản xuất của Việt Nam như may mặc, linh kiện điện tử được nhập khẩu từ Trung Quốc

Hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam chỉ thực sự “ngấm đòn” mạnh mẽ trong quý II năm

2020, sau khi COVID-19 gây hậu quả nghiêm trọng trên toàn cầu, trong đó có các đối tác thương mại lớn của Việt Nam như: Mỹ, EU, Nhật Bản, ASEAN… Quý II năm 2020 tiếp tục ghi nhận sự sụt giảm giá trị xuất khẩu ròng, cụ thể, xuất khẩu ròng Việt Nam đạt 6.962 triệu USD, giảm 1.148

so với cùng kỳ năm ngoái và giảm 284 triệu USD so với quý trước đó Nguyên nhân xuất phát từ việc các nước thực hiện chính sách đóng cửa, cách ly xã hội trên diện rộng, qua đó là gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu trên tất các cả lĩnh vực, nhu cầu tiêu dùng của người dân giảm đáng kể Tuy nhiên, một điểm sáng trong hoạt động xuất nhập khẩu là trong quý III năm 2020 xuất khẩu ròng của Việt Nam đã tăng trưởng mạnh mẽ so với kỳ trước liền kề, và cả tăng so với cùng kỳ năm trước Cụ thể là tăng 6.035 triệu USD so với quý II, và tăng 3.403 triệu USD so với cùng kỳ Điều này xuất phát từ việc chúng ta đã thành công trong việc ngăn chặn đại dịch Covid-19 lây lan trong nước, từ đó bước đầu ổn định các hoạt động sản xuất trong nước Từ đó, tận dụng tốt các cơ hội từ Covid-19 như xuất khẩu các trang thiết bị y tế, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng chủ lực để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trên toàn cầu Ngoài ra, Việt Nam hưởng lợi lớn từ làn sóng dịch chuyển sản xuất khỏi Trung Quốc khi dần trở thành một công xưởng mới của thế giới Việc tăng trưởng đáng kể xuất khẩu ròng trong bối cảnh các nước khác trên thế giới vẫn đang “vật lộn” với cơn khủng hoảng kinh tế do Covid-19 mang lại đã chứng minh cho sức bật kinh tế đáng ngạc nhiên của thị trường Việt Nam

Trang 6

2.2 Những tác động đến tổng cung

Quý I : Tổng GDP quý I năm 2020: 1.193.485 nghìn tỷ đồng, giảm 40,64% so với quý IV năm

2019, tăng 3,68% so với cùng kỳ năm trước Đây là mức tăng thấp nhất của quý I trong giai đoạn (2011-2020)

Quý II: Tổng GDP quý II năm 2020: 1.382.951 nghin tỷ đồng, tăng 15,9% so với quý I năm

2020, tăng 0,36% so với cùng kỳ năm trước Đây là mức tăng thấp nhất của quý II trong giai đoạn (2011-2020)

Quý III: Tổng GDP quý III năm 2020: 1.593.586 nghìn tỷ đồng, tăng 15,2% so với quý II năm

2020, tăng 2,62% so với cùng kỳ năm trước Đây là mức tăng thấp nhất của quý III trong giai đoạn (2011-2020)

*Phân tích và đánh giá:

- Như ta thấy ở quý I năm 2020, tổng số GDP giảm cực kỳ lớn so với quý IV năm 2019 cho thấy ảnh hưởng tiêu cực của bối cảnh covid-19 vô cùng lớn đến mọi lĩnh vực kinh tế-xã hội ở Việt Nam Đảng và nhà nước ta đã đưa mục tiêu chống covid-19, “chống dịch như chống giặc” lên hàng đầu, nhằm bảo vệ sức khoẻ đời sống của công dân Việt Nam để đánh đổi lợi ích kinh tế Tuy mức tăng trưởng GDP vẫn tăng nhưng lại đạt ngưỡng thấp nhất so với các quý của các năm trong cùng giai đoạn (2011-2020), cho thấy sự nỗ lực không ngừng nghỉ đến từ chính phủ, bộ máy nhà nước để tiếp tục duy trì sự tăng trưởng kinh tế để không rơi vào tình trạng tăng trưởng âm Đây có thể coi là một thắng lợi nho nhỏ trong công cuộc chống dịch covid-19, đồng thời duy trì các hoạt động kinh doanh liên quan đến các lĩnh vực sản xuất liên quan đến y tế

- Còn ở quý II năm 2020, tổng số GDP tăng một mức đáng kể so với quý I năm 2020 nhưng tại đây cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP đạt ngưỡng thấp nhất của quý II trong các năm chỉ 0,36% qua

đó cho thấy quý II chịu ảnh hưởng tiêu cực rất nặng đến từ covid-19 vì đây là khoảng thời gian dịch bùng phát rất mạnh và chính phủ cũng đưa ra rất nhiều giải pháp mạnh mẽ như là giãn cách xã hội, đóng cửa biên giới,… để chấp nhận đánh đổi tăng trưởng để đảm bảo an toàn quốc gia

- Tại quý III năm 2020, ta nhận thấy được sự dịch phải của tổng cung có thể coi là đáng kể khi xét vào bối cảnh dịch covid-19 đang diễn biến phức tạp trên thế giới Tổng số GDP và tốc độ GDP tăng trưởng đều được cải thiện Dịch covid-19 đã được nhà nước ta kiểm soát chặt chẽ ở từng khu vực, cũng như ý thức của người dân nâng cao Từng bước năng động trở lại vào điều kiện bình thường mới cho thấy sự khởi sắc trong khó khăn của quý III so với quý II cùng năm 2020

P

Y (nghìn tỷ đồng)

1.193.485 1.382.951 1.593.586

Q I

Q II

Q III

Trang 7

- Trên bề nổi của tảng băng chìm, những tác động tiêu cực không những ảnh hưởng đến tổng cầu như thường lệ mà nay còn tác động tiêu cực đến tổng cung làm đường tổng cung AS ở quý I

2020 dịch trái so với quý IV năm 2019:

+ Yếu tố chi phí sản xuất: Yếu tố này không ảnh hưởng quá nhiều đến tổng cung trong thời điểm này vì đa phần các yếu tố liên quan đến chi phí sản xuất đều bị động trước dịch covid-19 + Yếu tố mức giá kỳ vọng: Đây là một trong những biến số mới quan trọng tác động lên vị trí của tổng cung ngắn hạn Khi covid-19 diễn ra việc cắt giảm lực lượng lao động ở đa số các ngành nghề là bắt buộc, thậm chí là doanh nghiệp tạm ngưng sản xuất hoạt động dẫn đến người lao động

và doanh nghiệp kỳ vọng mức giá cao hơn ở các ngành nghề thuận lợi trong mùa dịch, phổ biến là ở các cá nhân quan trọng trong lĩnh vực ý tế, sản xuất công cụ phục vụ y tế, họ có khuynh hướng đàm phán với mức lương danh nghĩa cao Nhưng vấn đề ở đây là việc kỳ vọng này chỉ đến từ một

số ít, và mức lương đàm phán trên có thể đến từ ngân sách nhà nước nên yếu tố này cũng không ảnh hưởng mấy đến việc đường tổng cung AS dịch trái

+ Ta xét đến các nhân tố sản xuất:

 Đầu tiên là lao động (L): Đây có thể nói là một yếu tố trọng tâm làm ảnh hưởng đến đường tổng cung AS ngắn hạn dịch trái Nhận thấy dễ nhất đó là yếu tố con người, yếu tố nguồn nhân lực Dòng dịch chuyển nguồn nhân lực bị tê liệt hoàn toàn khi mà các công nhân, các kỹ sự, chuyên gia, người lao động, đi du lịch hay đi công tác ngoài nước không thể trở về nước mình Kể cả trong nước cũng bị ảnh hưởng mạnh khi mà việc giãn cách xã hội làm cho các doanh nghiệp bắt buộc tạm ngưng sản xuất cũng như thu hẹp quy mô, cắt giảm nguồn lao động Dẫn đến lợi nhuận giảm Việc này là hạt nhân khiến cho đường tổng cung dịch trái Ta có logics sau: L giảm -> π giảm -> AS dịch trái Ở quý I,II năm 2020 tình hình lao động chịu tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, còn lực tỷ lệ tham gia lực lượng lao động rất thấp, nhu cầu thị trường lao động cũng giảm sút theo làm cho tỷ lệ thiếu việc làm cho nhóm lao động trong độ tuổi tăng cao nhất trong năm mười năm trở lại đây Số liệu cho thấy tỷ lệ thất nghiệp ở

2 quý trên (quý I 2,02%; quý II 2,53%) tăng đáng kể Nhưng khi tới quý III ta thấy được dấu hiệu hồi sinh với 2,29% về số tỷ lệ thất nghiệp giảm 0,24% so với quý 2 Tuy vậy quý III vẫn ở mức cao nhất so với các năm cùng kỳ trong giai đoạn 10 năm trở lại đây

 Yếu tố thứ hai là tư bản hay vốn (K): Ở đây bao gồm cả số lượng máy móc và trình độ người lao động Do tác động của covid-19 nên nhiều doanh nghiệp đã thu hẹp quy mô hoặc ngừng hoạt động để chờ giải thể Theo thống kê ở quý I năm 2020, 12,2 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động và chờ giải thể Tuy quý II năm 2020 là quý chịu thiệt hại nặng nề nhất nhưng nhờ sự

nổ lực của chính phủ và nhà nước cũng như người dân thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội, rửa tay, phòng chống dịch mà đã có dấu hiệu vực dậy với số doanh nghiệp hoạt động trở lại tăng 16,4%, doanh nghiệp ngưng hoạt động chờ giải thể 10,2% và doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 5% Ở quý III vấn đề có khởi sắc nhưng không hoàn toàn là nằm ở việc áp lực chi phí sản xuất cũng như một số vấn đề nợ nần mà doanh nghiệp gặp phải khiên doanh nghiệp trở lại hoạt động gần như là không thể và giảm so với tháng trước Việc doanh nghiệp trở lại hoạt động tăng 90% so với cùng kỳ năm 2019 Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể ở quý III/2020 tăng 22,6% và 14,1% so với cùng kỳ các năm khác Sau 3 quý vấn đề về vốn được thể hiện một cách

rõ ràng và làm cho đường tổng cung ngắn hạn dịch trái rồi dịch phải theo thứ tự các quý I -> quý II -> quý III

 Yếu tố công nghệ (Tech): yếu tố công nghệ không làm đường tổng cung ngắn hạn AS dịch trái

 Yếu tố tài nguyên thiên nhiên (N): Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng và tác động rất mạnh vào sự dịch chuyển của đường cung ngắn hạn Theo thống kê giá dầu giảm mạnh xuống mức 33 USD, đến 31/3/2020 đã giảm trên 60% Sự sụt giảm giá dầu trên thế giới không làm đường AS ngắn hạn dịch trái

 Ngoài ra còn một số yếu tố khác như thiên tai, ảnh hưởng của thiên nhiên tác động đến sự dịch chuyển của tổng cung làm cho tổng cung ngắn hạn dịch trái Như thống kê cả 3 quý hay trong 9 tháng liệt kê rằng: “làm 96 người chết và mất tích; 292 người bị thương; 142,6 nghìn ha lúa và

Trang 8

67,8 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; 849 con gia súc và 65,9 nghìn con gia cầm bị chết; 1.806 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; gần 101,2 nghìn ngôi nhà bị hư hỏng Tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong 9 tháng ước tính 7,2 nghìn tỷ đồng, trong đó do xâm nhập mặn là 3,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 47% tổng giá trị thiệt hại”

 Bên cạnh những ảnh hưởng tiêu cực cũng đã có những ảnh hưởng tích cực vô cùng to lớn đến từ chính phủ nhà nước cũng như người dân trong việc đẩy lùi đại dịch bùng nổ Covid-19 Ngoài ra còn có nhiều nhân tố khách quan khác ảnh hưởng đến việc dịch chuyển của tổng cung ngắn hạn

AS để duy trì theo hướng tăng trưởng không âm trong thời kỳ vô cùng khó khăn khiên các đường AS ngắn hạn dịch phải trong một khoảng dịch trái nhất định (giai đoạn Covid-19 bùng nổ

từ quý IV/2020 đến quý I/2020) theo thứ tự quý I -> quý II-> quý III Sau đây là các yếu tố khiến đường AS ngắn hạn thay đổi một cách tích cực:

 Trước hết là tinh thần người Việt Nam ta xưa đến nay luôn sống tình cảm Một nét tiêu biểu trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam là tinh thần “tương thân, tương ái”, số liệu báo cáo cho biết : “hình thức liên kết được nhiều doanh nghiệp áp dụng nhất là cho trả chậm tiền hàng, với 33,3% doanh nghiệp áp dụng; chia sẻ đơn hàng với 7,9%; hàng đổi hàng với 3,8%; cho vay với 2,8% doanh nghiệp áp dụng Trong hoạt động này, nhóm doanh nghiệp vừa và lớn có mối quan

hệ mật thiết giữa các doanh nghiệp hơn nhóm doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ Doanh nghiệp khu vực công nghiệp và xây dựng có mối liên hệ chặt chẽ nhất với tỷ lệ là 50,1%, tiếp theo là ngành dịch vụ 46,8%, ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản 43,5%”

 Giá dầu thế giới giảm cũng là một nhân tố vô cùng lớn góp phần cho sự dịch chuyển của AS tích cực ở Việt Nam Nó góp phần làm giảm CPSX cho doanh nghiệp, từ đó lượng ngoại tệ nhập khẩu xăng dầu được tiết kiệm một cách đáng kể, thêm vào đó là sự hỗ trợ về vấn đề kiểm soát lạm phát để ổn định kinh tế vĩ mô Nhờ vậy mà đầu tư và tiêu dùng cũng dần được kích thích Tuy vậy cũng sẽ có một số khó khăn ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách và ở các khâu khai thác, lọc hoá dầu, cũng như tình hình Covid-19 khiến cho nhiều doanh nghiệp còn e dè, chưa dám mạo hiểm để mở rộng lại quy mô hoạt động khiến cho việc sự dụng các tài nguyên còn chưa nhiều gây thâm hụt kinh tế cũng như vấn đề tổng cung

 Yếu tố công nghệ (Tech): ): Covid-19 được xem là cơ hội cho những đột phá về công nghệ trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Covid-19 buộc con người phải bước vào trạng thái “bình thường mới”, khi mà các biện pháp giãn cách xã hội vẫn diễn ra song song với các hoạt động kinh tế Yếu tố công nghệ được đủ mạnh phát triển và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là sản xuất và dịch vụ Để thích ứng với các biện pháp phòng chống Covid-19, nhiều ngân hàng đã tiên phong ứng dụng công nghệ AI để tạo ra các giải pháp đột phá, đẩy mạnh ứng dụng các sản phẩm công nghệ như: làm việc từ xa, gặp khách hàng từ xa, Nhiều khách hàng phản hồi tích cực về tiện ích của ứng dụng vì công việc vẫn đạt hiệu quả, trong khi giảm được chi phí đi lại và tiết kiệm thời gian Covid-19 buộc các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đổi mới công nghệ, trong đó ứng dụng AI là nhân tố cốt lõi giúp phục hồi sản xuất trong bối cảnh bị giảm giao dịch, đứt gãy nguồn nguyên liệu buộc phải ứng dụng công nghệ vào sản xuất, kinh doanh Ngoài ra Vingroup cũng đã tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao trong việc hỗ trợ nền y

tế nước nhà cũng như đảm bảo nguồn cung cho thị phần nước ngoài về các vấn đề công cụ y tế như tiến hành sản xuất máy thở, tài trợ các dự án nghiên cứu khoa học công nghệ ứng phó với đại dịch Covid-19,…

 Còn một số yếu tố về cơ hội như việc đẩy lùi được dịch bệnh khiến Việt Nam trở thành một điểm sáng trên thế giới đặc biệt thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, khiến Việt Nam trở thành một điểm đến đầy tiềm năng, vừa an toàn cho cải tạo vốn đầu tư trên thế giới vừa là nơi có lực lượng lao động dồi dào, nhân công giá rẻ và đặc biệt là xu hướng rút các dây chuyền sản xuất ở Trung quốc của các tập đoàn lớn trên thế giới cũng là một trong những yếu tố khiến Việt Nam khao khát có được khi cơ sở hạ tầng Việt Nam đang phát triển cực kỳ tốt

2.3 Tác động đến trạng thái cân bằng vĩ mô

Dịch bệnh Covid-19 đã gây nên cú sốc đối với nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng, không chỉ ảnh hưởng đến nguồn cung (sản xuất hàng hóa và dịch vụ) mà còn tác động tới nhu cầu (tiêu dùng và đầu tư) Nhìn chung, cả 3 quý đều chịu ảnh hưởng của “cú sốc

Trang 9

kép” nhưng quý I/2020 khi đại dịch có dấu hiệu dần nghiêm trọng hơn thì người ta chỉ liên tưởng đến cú sốc cung Sang đến quý II/2020 cú sốc cầu dần rõ nét hơn và có phần lấn át cú sốc cung từ 3 tháng đầu năm 3 tháng tiếp theo (Quý III/2020) khi tình hình dịch bệnh trong nước có phần thuyên giảm thì nền kinh tế dần có dấu hiệu hồi phục

*Quý I/2020:

Do COVID-19 lây lan mạnh trên toàn thế giới, bao gồm cả các quốc gia có quan hệ thương mại với Việt Nam, kim ngạch xuất nhập khẩu nhiều loại hàng hóa bị ảnh hưởng nghiêm trọng Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của quý I đạt 115,34 tỷ USD, giảm 0,7% Cụ thể: kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 56,26 tỷ USD, giảm 1,9% so với cùng kỳ năm trước; kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 59,08 tỷ USD, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước Cán cân thương mại hàng hóa quý 1/2020 tiếp tục xuất siêu 2,8 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 4,4 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 7,2 tỷ USD Diễn biến phức tạp của tình hình dịch COVID-19 tại Việt Nam và thế giới gây ra tác động tiêu cực lên tâm lý người tiêu dùng, cùng với đó là khuyến cáo hạn chế đi lại để đảm bảo công tác phòng chống dịch đã ảnh hưởng đến hành vi mua sắm nơi công cộng, nhu cầu đi du lịch, cũng như sử dụng dịch vụ ăn uống bên ngoài Dẫn đến, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống Quý I/2020 đạt 126,2 nghìn

tỷ đồng, giảm 9,6% so với cùng kỳ năm trước Doanh thu du lịch lữ hành Quý I đạt 7,8 nghìn tỷ đồng, giảm 27,8% so với cùng kỳ năm trước do nhiều địa điểm tham quan du lịch ngừng hoạt động, cùng với việc khách du lịch trong nước và quốc tế đã hủy tour du lịch vì lo ngại dịch bệnh lây lan Điều này cho thấy các ngành hàng không, du lịch và khách sạn phải đối mặt với một mối đe dọa thực sự về sự sụt giảm đáng kể về doanh thu, mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, nghiêm trọng hơn là dẫn đến phá sản và khiến người lao động mất việc làm

CPI bình quân Quý I/2020 so với cùng kỳ năm trước tăng 5,56% do các nguyên nhân như: nhu cầu về nhiều loại mặt hàng trong dịp Tết Nguyên đán như lương thực, thực phẩm tăng cao so với cùng kỳ năm trước; dịch bệnh Covid-19 làm giá rau trong quý I/2020 tăng 4,14% do rau, quả Trung Quốc không xuất được sang Việt Nam CPI tăng, nhưng lạm phát lại có xu hướng giảm Nguyên nhân chính là do giá xăng dầu và giá nguyên vật liệu trên thế giới giảm, triển vọng tăng trưởng thấp, thậm chí là tăng trưởng âm của kinh tế thế giới đẩy giá nguyên liệu, nhiên liệu xuống thấp hơn Bên cạnh đó, căng thẳng giữa các nước xuất khẩu dầu mỏ cũng góp phần kéo giá dầu xuống, do đó làm giảm lạm phát

*Quý II/2020:

Sau 3 tháng đầu năm 2020, cú sốc cầu dần thể hiện rõ nét hơn Cụ thể, tháng 4 và tháng 5/2020 chỉ số CPI giảm (lần lượt: giảm 1,54% và giảm 0,03% so với tháng trước), đến tháng 6/2020 CPI mới có xu hướng tăng trở lại (tăng 0,66% so với tháng trước) nhưng không đáng kể Chính vì CPI

“hạ nhiệt” dẫn đến việc cú sốc cầu đang có phần lấn át cú sốc cung Lý giải cho vấn đề này, sẽ căn

cứ vào các nguyên nhân như sau: Thứ nhất, giá xăng dầu, cước phí vận tải của các loại phương tiện như tàu hỏa, máy bay giảm mạnh trong quý I, do chính sách gian cách xã hội phòng chống dịch Covid-19 Đến tận, ngày 15/5/2020 của Quý II giá xăng dầu mới có xu hướng tăng do nhu cầu nhiên liệu mạnh lên vì chính sách cách ly và giãn cách xã hội được nới lỏng Bên cạnh đó, xuất phát

từ tác động của đại dịch, giá cả của các dịch vụ giải trí, du lịch giảm mạnh, do nhu cầu của người dân không cao Thứ hai, mặc dù CPI giảm, nhưng giá cả nhóm hàng hóa thực phẩm thiết yếu vẫn tăng khá mạnh, tới 0,48% trong quý II/2020 (trong đó tháng 4/2020 tăng 0,66%; tháng 5/2020 tăng 0,34%; tháng 6/2020 tăng 0,44%) do tâm lý lo sợ của người dân rằng: dịch Covid khiến sản xuất trì trệ dẫn đến thiếu hụt lương thực, nên người dân gia tăng nhu cầu mua thực phẩm để tích trữ Tuy nhiên, trên thực tế, lượng thực phẩm trong nước không chỉ đảm bảo nhu cầu cho người dân mà còn đảm bảo nhu cầu xuất khẩu Bên cạnh đó, để đáp ứng công tác phòng chống Covid-19 diễn biến phức tạp, cho nên ngoài giá thực phẩm tăng thì giá các mặt hàng thiết bị y tế, mà đặc biệt là khẩu trang, nước rửa tay… cũng tăng mạnh Ngoài ra, một điển hình đáng để đề cập chính là việc giá thịt lợn tăng rất cao và không có xu hướng giảm nhiệt Nguyên nhân của tình trạng này là dịch tả lợn Châu Phi hoành hành khiến lợn chết số lượng lớn, trong khi thời gian để nuôi lợn lớn, đủ để xuất chuồng phải từ 4-6 tháng, đồng thời, do thói quen tiêu dùng của người Việt Nam không quen sử dụng thịt lợn nhập khẩu, cũng như việc nhập khẩu cũng sẽ gặp nhiều khó khăn trong bối cảnh dịch

Trang 10

bệnh Covid diễn biến phức tạp, cho nên biện pháp nhập khẩu để giảm thiểu tình trạng khan hiếm thịt lợn cũng không mấy khả thi, chính từ những lí do này, khiến giá thịt lớn tăng rất cao và ảnh hưởng đến khả năng chi tiêu của người dân

Biểu đồ ảnh hưởng của sự suy giảm tổng cầu đến sản lượng và mức giá Như đã phân tích ở mục 2.1, các doanh nghiệp phải tạm ngừng hoạt động đã tác động tiêu cực

đến thu nhập của chủ doanh nghiệp cũng như người lao động Trong đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ là nhóm chịu nhiều khó khăn nhất Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, tín dụng của toàn Ngành đến đầu tháng 5/2020 tăng khoảng 1,2%, tuy nhiên khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa lại giảm 0,8% Tác động tiêu cực chủ yếu là về thiếu hụt nguồn vốn, dòng tiền để đảm bảo hoạt động sản xuất, kinh doanh Đứng trước tình cảnh khó khăn như thế, các doanh nghiệp bắt buộc phải phản ứng lại sự giảm sút doanh số bán ra, cũng như các khó khăn về nguồn vốn, dòng tiền trong hoạt động sản xuất, kinh doanh bằng cách cắt giảm nguồn nhân lực Từ đây, khiến cho thất nghiệp có xu hướng tăng lên Cụ thể, tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước trong độ tuổi lao động quý II/2020 là 2,73%, tăng cao nhất trong giai đoạn 2011-20201

Mặc dù tình hình tài chính, ngân sách của Việt Nam đang gặp khó khăn, nhưng trước ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch, Quốc hội và Chính phủ đã quyết định sử dụng mọi nguồn lực tài chính cho giai đoạn hậu COVID-19 thông qua việc áp dụng các chính sách tài khóa và tiền tệ Dựa vào các dự báo Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển châu Á, theo suy đoán xác suất xảy ra trong hồi phục kinh tế của Việt Nam theo mô hình chữ V là cao nhất, vì các lý do chính sau đây: Khả năng tương đối cao dịch bệnh kết thúc trong mùa hè; Chính phủ đang quyết tâm thúc đẩy tăng trưởng với các giải pháp hợp lý kể cả từ chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ (Gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất; tạm dừng đóng quỹ bảo hiểm hưu trí, tử tuất; doanh nghiệp được hỗ trợ tiền để trả lương trong trường hợp người lao động ngừng việc tạm thời ); Các nước lớn đang trình phê duyệt các gói giải cứu kinh tế chưa từng có trước đây (như Hoa Kỳ với gói giải cứu lên tới 2000 tỷ USD), các quốc gia phương Tây và Trung Quốc cũng đưa ra các gói kích thích kinh tế mạnh mẽ, vì vậy khi tình hình từ quý II/2020 dịch bệnh được kiểm soát và đẩy lùi sẽ giúp kinh tế thế giới hồi phục sau đại dịch Các chính sách này góp phần hỗ trợ các doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn, từ đó giảm thiểu tỷ

lệ thất nghiệp, đảm bảo nguồn thu nhập ổn định và cải thiện khả năng chi tiêu

*Quý III/2020:

1 Tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước trong độ tuổi lao động quý II giai đoạn 2011-2020 lần lượt là: 2,22%, 1,87%, 2,17%, 1,84%, 2,42%, 2,29%, 2,26%, 2,19%, 2,16%, 2,73%

AS 0

AS 1

A B

C

AS LR

Y 1 Y *

P

P 0

P 1

P 2

Y 0

Ngày đăng: 24/05/2022, 21:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Mặc dù tình hình tài chính, ngân sách của Việt Nam đang gặp khó khăn, nhưng trước ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch, Quốc hội và Chính phủ đã quyết định sử dụng mọi nguồn lực tài chính cho giai đoạn hậu COVID-19 thông qua việc áp dụng các chính sách tài - Bài báo cáo kinh tế vĩ mô TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19 ĐẾN KINH TẾ VĨ MÔ VIỆT NAM
c dù tình hình tài chính, ngân sách của Việt Nam đang gặp khó khăn, nhưng trước ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch, Quốc hội và Chính phủ đã quyết định sử dụng mọi nguồn lực tài chính cho giai đoạn hậu COVID-19 thông qua việc áp dụng các chính sách tài (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w