Xét tình hình thực tế, khi nước ta bước vào thời kỳ đổi mới thì sự phân hoá giàu nghèo diễn ra rất nhanh nếu không tích cực xoá đói giảm nghèo và giải quyết tốt các vấn đề xã hội khác thì khó có thể đạt được mục tiêu xây dựng một cuộc sống ấm no về vật chất, tốt đẹp về tinh thần, vừa phát huy được truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu được yếu tố lành mạnh và tiến bộ của thời đại. Xoá đói giảm nghèo không chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần, mà nó còn là vấn đề kinh tế xã hội quan trọng, do đó phải có sự chỉ đạo thống nhất giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội. Thực hiện thành công chương trình xoá đói giảm nghèo không chỉ đem lại ý nghĩa về mặt kinh tế là tạo thêm thu nhập chính đáng cho người nông dân ổn định cuộc sống lâu dài, mà xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế nông thôn còn là nền tảng, là cơ sở để cho sự tăng trưởng và phát triển một nền kinh tế bền vững, góp phần vào sự nghiệp đổi mới đất nước. Hơn thế nữa nó còn có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị xã hội. Xoá đói giảm nghèo nhằm nâng cao trình độ dân trí, chăn sóc tốt sức khoẻ nhân dân, giúp họ có thể tự mình vươn lên trong cuộc sống, sớm hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng, xây dựng được các mối quan hệ xã hội lành mạnh, giảm được khoảng trống ngăn cách giữa người giàu với người nghèo, ổn định tinh thần, có niềm tin vào bản thân, từ đó có lòng tin vào đường lối và chủ trương của đảng và Nhà nước. Đồng thời hạn chế và xoá bỏ được các tệ nạn xã hội khác, bảo vệ môi trường sinh thái. Với tầm quan trọng của việc xóa đói giảm nghèo hiện nay thì việc xây dựng một chính sách xóa đói giảm nghèo cụ thể sẽ cần phải được thực hiện một cách chu toàn hơn. Trong đó hoạch định chính sách chính là giai đoạn quyết định một chính sách có phù hợp và đúng đắn để áp dụng vào thực tiễn hay không. Muốn hoạch định một chính sách xóa đói giảm nghèo tốt thì cần phải có những căn cứ chủ yếu để dựa vào, từ đó sẽ xác định được rõ ràng mục tiêu và giải pháp mà chính sách đang hướng đến. Từ lý do trên, tôi chọn đề tài “Những căn cứ để hoạch định chính sách xóa đói giảm nghèo ở nước ta hiện nay” để nghiên cứu viết bài tiểu luận học phần môn Hoạch định và thực thi chính sách công.
Trang 1HÀ NỘI - 2021
MỞ ĐẦU
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VIỆN CHÍNH TRỊ HỌC
TIỂU LUẬN
MÔN: HOẠCH ĐỊNH VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH CÔNG
TÊN NỘI DUNG
NHỮNG CĂN CỨ ĐỂ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Họ và tên học viên: NGÔ
Mã số học viên: MP22
Lớp: Cao học Xây dựng Đảng và CQNN
HN – 20
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 4
6 Kết cấu của tiểu luận 4
CHƯƠNG 1: Chính sách công, một số vấn đề cơ bản……….5
1 Khái niệm chính sách công………5
2 Hoạch định chính sách công……… 7
3 Các căn cứ chủ yếu để hoạch định chính sách công……… 8
CHƯƠNG 2: Chính sách cụ thể……… 13
1 Khái quát về tình hình giảm nghèo ở nước ta trong những năm gần đây……… 13
2 Những căn cứ để hoạch định chính sách xóa đói giảm nghèo ở nước ta……… 15
3 Một số hạn chế và giải pháp khi hoạch định chính sách xóa đói giảm nghèo ở nước ta……… 24
KẾT LUẬN.……… 26
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……….27
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xét tình hình thực tế, khi nước ta bước vào thời kỳ đổi mới thì sự phânhoá giàu nghèo diễn ra rất nhanh nếu không tích cực xoá đói giảm nghèo vàgiải quyết tốt các vấn đề xã hội khác thì khó có thể đạt được mục tiêu xâydựng một cuộc sống ấm no về vật chất, tốt đẹp về tinh thần, vừa phát huyđược truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu được yếu tố lành mạnh vàtiến bộ của thời đại
Xoá đói giảm nghèo không chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần, mà nó còn làvấn đề kinh tế -xã hội quan trọng, do đó phải có sự chỉ đạo thống nhất giữachính sách kinh tế với chính sách xã hội Thực hiện thành công chương trìnhxoá đói giảm nghèo không chỉ đem lại ý nghĩa về mặt kinh tế là tạo thêm thunhập chính đáng cho người nông dân ổn định cuộc sống lâu dài, mà xoá đóigiảm nghèo, phát triển kinh tế nông thôn còn là nền tảng, là cơ sở để cho sựtăng trưởng và phát triển một nền kinh tế bền vững, góp phần vào sự nghiệpđổi mới đất nước Hơn thế nữa nó còn có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị xãhội Xoá đói giảm nghèo nhằm nâng cao trình độ dân trí, chăn sóc tốt sứckhoẻ nhân dân, giúp họ có thể tự mình vươn lên trong cuộc sống, sớm hoànhập vào cuộc sống cộng đồng, xây dựng được các mối quan hệ xã hội lànhmạnh, giảm được khoảng trống ngăn cách giữa người giàu với người nghèo,
ổn định tinh thần, có niềm tin vào bản thân, từ đó có lòng tin vào đường lối vàchủ trương của đảng và Nhà nước Đồng thời hạn chế và xoá bỏ được các tệnạn xã hội khác, bảo vệ môi trường sinh thái
Với tầm quan trọng của việc xóa đói giảm nghèo hiện nay thì việc xâydựng một chính sách xóa đói giảm nghèo cụ thể sẽ cần phải được thực hiệnmột cách chu toàn hơn Trong đó hoạch định chính sách chính là giai đoạnquyết định một chính sách có phù hợp và đúng đắn để áp dụng vào thực tiễnhay không Muốn hoạch định một chính sách xóa đói giảm nghèo tốt thì cầnphải có những căn cứ chủ yếu để dựa vào, từ đó sẽ xác định được rõ ràng mụctiêu và giải pháp mà chính sách đang hướng đến Từ lý do trên, tôi chọn đề tài
Trang 4“Những căn cứ để hoạch định chính sách xóa đói giảm nghèo ở nước ta hiện nay” để nghiên cứu viết bài tiểu luận học phần môn Hoạch định và thực
thi chính sách công
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Hoạch định chính sách xóa đói giảm nghèo cần dựa vào những căn cứnào?
Những căn cứ đó có ảnh hưởng như thế nào đến quá trình hoạch địnhchính sách xóa đói giảm nghèo?
Những hạn chế khi hoạch định chính sách xóa đói giảm nghèo gặp phải
là gì? Phương pháp giải quyết hạn chế?
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Căn cứ để hoạch định chính sách xóa đói giảm nghèo
Phạm vi nghiên cứu: Trong giai đoạn hoạch định chính sách xóa đóigiảm nghèo ở nước ta hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Đề tài nghiên cứu trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của các học giả, quan điểmcủa Đảng ta về chính sách công trong vấn đề giải quyết xóa đói giảm nghèohiện nay
Phương pháp nghiên cứu: Thông qua giáo trình nghiên cứu những kháiniệm chuyên ngành để hiểu sâu hơn về vấn đề đang cần giải quyết
Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp kết hợp với phân tích mô tả, sosánh, phân tích-tổng hợp…
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Việc nghiên cứu những vấn đề chung về chính sách công, sự lãnh đạocủa Đảng đối với chu trình chính sách công ở Việt Nam hiện nay, liên hệ việchoạch định chính sách xóa đói giảm nghèo ở nước ta hiện nay
6 Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung tiểu luận gồm 2 chương, 7 tiết
Trang 5NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CHÍNH SÁCH CÔNG, MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN
1 Khái niệm chính sách công
1.1 Khái niệm chính sách
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về chính sách:
Theo James Anderson (2003): "Chính sách là một quá trình hành động
có mục đích được theo đuổi một cách kiên định bởi một hoặc nhiều chủ thểtrong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm"; Chính sách là hành độngcủa các chủ thể nhằm quyết định cái gì được thực hiện
Các chính sách có thể được đề ra và thực hiện bởi nhiều chủ thể khácnhau, ở những phạm vi và tầng nấc khác nhau: Chính sách của Liên hiệpquốc, chính sách của một đảng chính trị, chính sách của nhà nước, chính sáchcủa chính quyền địa phương, chính sách của một bộ, chính sách của một tổchức, đoàn thể, hiệp hội, chính sách của một doanh nghiệp…
Căn cứ vào phạm vi, quy mô ảnh hưởng và tính chất của các chủ thểhoạch định chính sách mà người ta chia chính sách thành chính sách công vàchính sách tư Theo đó, “chính sách tư” là chính sách do các tổ chức, cácdoanh nghiệp, các hiệp hội, đoàn thể… ban hành để điều chỉnh các mối quan
hệ cũng như làm cơ sở cho việc triển khai hoạt động của tổ chức ấy Cácchính sách này nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra cho mỗi tổ chức, chúngchỉ có hiệu lực thi hành trong nội bộ tổ chức đó, vì vậy, chúng mang tính chấtriêng biệt Còn “chính sách công” là những chính sách do các cơ quan nhànước có thẩm quyền ban hành nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộngđồng Do được ban hành và thực thi bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền(cơ quan công quyền hay còn gọi là cơ quan thực thi quyền lực công) nênchính sách công được coi là một trong những công cụ quản lý quan trọng củanhà nước
1.2 Khái niệm chính sách công
Cho đến nay trên thế giới, cuộc tranh luận về định nghĩa chính sáchcông vẫn là một chủ đề sôi động và khó đạt được sự nhất trí rộng rãi Sau đây
Trang 6là một số định nghĩa chính sách công khá tiêu biểu của các học giả nướcngoài và trong nước.
William Jenkin cho rằng: "Chính sách công là một tập hợp các quyếtđịnh có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trịgắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mụctiêu đó"(William Jenkin, 1978)
Thomas R Dye lại đưa ra một định nghĩa ngắn gọn về chính sách công,song định nghĩa này lại được nhiều học giả tán thành Theo ông, "Chính sáchcông là cái mà nhà nước lựa chọn làm hay không làm"(Thomas R Dye,1984) Bốn mặt quan trọng của định nghĩa này là:
B Guy Peter đưa ra định nghĩa: "Chính sách công là toàn bộ các hoạtđộng của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống củamọi công dân"
Ở Việt Nam, có quan điểm cho rằng chính sách được hiểu là đường lối
cụ thể của chủ thể quyền lực công về một lĩnh vực nhất định trong một giaiđoạn xác định cùng các biện pháp, kế hoạch thực hiện đường lối ấy
Theo định nghĩa này, một chính sách thường gồm ba bộ phận cấuthành: 1) đường lối cụ thể về một lĩnh vực nhất định trong một thời gian xácđịnh, 2) biện pháp thực hiện, 3) kế hoạch thực hiện đường lối ấy
Từ những phân tích trên, thuật ngữ chính sách có thể hiểu như sau:
"Chính sách công là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết định hoạtđộng của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đờisống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định"
1.3 Quy trình chính sách công
Quy trình chính sách công là những bước đi cơ bản, tất yếu bao quáttoàn bộ đời sống của một chính sách, kể từ khi nảy sinh ý tưởng (vấn đề chínhsách) tới việc định hình, hoàn chỉnh, thi hành, kiểm nghiệm, sửa đổi hoặc hủybỏ
Quy trình chính sách công gồm:
- Hoạch định chính sách công
Trang 7- Thực thi chính sách công
- Đánh giá, tổng kết chính sách công
2.Hoạch định chính sách công
2.1.Khái niệm hoạch định chính sách công
Hoạch định chính sách công (Public Policy Making ) là giai đoạn đầutiên trong quy trình xây dựng một chính sách Là việc xây dựng một chínhsách mới theo yêu cầu quản lý, bao gồm việc nghiên cứu đề xuất ra một chínhsách và ban hành chính sách đó Quá trình hoạch định chính sách do nhiềukhâu hợp thành với ảnh hưởng tác động lẫn nhau tương đối phức tạp Thựcchất hoạch định chính sách cũng là một quy trình với các bước đi cụ thể Sản phẩm của giai đoạn hoạch định chính sách không phải là những kếtquả của các hoạt động thực tế, mà ó thường được biểu hiện dưới dạng cácquyết định do các cấp có thẩm quyền ban hành để đưa vào áp dụng trong thựctiễn
2.2.Vị trí, vai trò của họach định chính sách công
Hoạch định chính sách có vị trí quyết định đối với toàn bộ quy trìnhchính sách, vì:
Thứ nhất, trên cơ sở cho ra đời một chính sách tồn tại thường xuyên vàliên hệ mật thiết với đời sống xã hội, hoạch định chính sách khởi đầu, mởđường cho một quy trình chính sách, bằng việc định ra mục tiêu, cách thức vàbiện pháp đạt tới mục tiêu đó
Thứ hai, là giai đoạn quan trọng đầu tiên trong quy trình chính sách, sảnphẩm của hoạch định chính sách vừa là điều kiện để tiến hành giai đoạn tiếptheo, vừa là căn cứ để đánh giá toàn bộ quy trình chính sách
Thứ ba, việc đề ra một chính sách phù hợp, đáp ứng yêu cầu của thực tế
sẽ đem lại kết quả tích cực trên thực tiễn Chính sách là những công cụ vĩ môcủa Nhà nước để điều tiết và quản lý các quá trình kinh tế- xã hội Chính sáchđúng đắn và phù hợp sẽ đảm bảo cho các hoạt động kinh tế có hiệu quả, thúcđẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân và qua đó góp phần tíchcực vào việc củng cố quyền lực Nhà nước
Trang 8Đối với một quốc gia cũng như một tổ chức, việc xác định chính sách là
vô cùng cần thiết bởi đó là xác định hướng đi gắn với lập kế hoạch dài hạn để
có thể phát triển bền vững Trong một thế giới đa dạng, phức tạp, thay đổinhanh chóng hiện nay thì sự lựa chọn và định hướng chính sách có ý nghĩaquyết định đến tương lai mỗi quốc gia; thể hiện tính chủ động của các chủ thểtrong việc lựa chọn con đường phát triển của mình
3 Các căn cứ chủ yếu để hoạch định chính sách công
3.1 Căn cứ chính trị
Bất kỳ một chính sách nào của nhà nước đều mang tính chính trị, cónghĩa là nó căn cứ vào đường lối chính trị và tư tưởng chỉ đạo của Đảng cầmquyền, phục vụ đường lối và tư tưởng đó Chính sách là công cụ quản lý củaNhà nước, hướng vào những mục tiêu của Nhà nước, mà những mục tiêu nàyluôn thể hiện bản chất và phương hướng của Đảng cầm quyền
Ở các nước tư bản chủ nghĩa, chính trị thể hiện mối quan hệ giữa các giaicấp, các đảng phái, bao gồm các đảng chính trị, các nhóm có áp lực Sự cạnhtranh giữa các đảng phái và cuộc đấu tranh mạnh mẽ cho sự thăng tiến, quyềnchỉ huy, kiểm soát ảnh cho ảnh hưởng và vị trí của đảng mình, tạo nên môitrường chính trị của những quốc gia này Song, quyền lực chính trị thực tế tậptrung vào tay đảng (hay liên minh đảng) chính trị đang cầm quyền trong giaiđoạn đó Ở nước theo chế độ đại nghị, thủ tướng và nội các là do đảng nắm đa
số ghế trong quốc hội lập nên, vì vậy đương nhiên nhà nước sẽ phục vụ chođường lối chính trị của đáng đó Trong các nước theo chế độ tổng thống, tuytổng thống là người đứng đầu quốc gia, nắm quyền hành pháp tối cao vàthành lập nên nội các, song các chính sách của chính phủ đề ra đều phải đượcquốc hội thông qua Do đó, ngay cả trong trường hợp tổng thống không phảingười của đảng chiếm đa số thì những chính sách của chính phủ vẫn phản ánhlợi ích của đảng này Như vậy, các chính sách của chính phủ luôn tuân theođường lối chính trị của đảng (hoặc liên minh đảng) cầm quyền trong giai đoạn
đó Có thể nói, chính trị quyết định nội dung của chính sách cũng như quyếtđịnh việc lựa chọn giữa các phương án chính sách đưa ra Vì vậy, khi hoạch
Trang 9định một chính sách, cần xác định rõ: chính sách dự định ban hành chịu tácđộng của những yếu tố chính trị nào, chịu ảnh hưởng của những lực lượngchính trị nào và những tác động chính trị nào có thể nảy sinh khi thực hiệnchính sách.
Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhànước ta thực hiện những mục tiêu chiến lược của đất nước Đảng lãnh đạoNhà nước thông qua việc vạch ra cương lĩnh, chiến lược và định hướng vềchính sách Nhà nước thể chế hóa những đường lối, chủ trương của Đảngbằng pháp luật và thực thi những đường lối chủ trương đó trong thực tiễn Vìvậy, những chính sách do Nhà nước đề ra phải căn cứ vào đường lối, chủtrương và những định hướng chính sách của Đảng Trong giai đoạn hiện nay,các chính sách của Nhà nước phải được định hướng và đẩy mạnh công cuộcđổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiềuthành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quảcao và bền vững, đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội, bảođảm an ninh, quốc phòng, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhândân
3.2 Căn cứ pháp luật
Trong mỗi quốc gia đều tồn tại những chuẩn mực chung bắt buộc mọingười phải tuân thủ Những chuẩn mực chung đó được cơ quan quyền lực tốicao của nhà nước thông qua và ban hành dưới hình thức văn bản pháp luật
Hệ thống pháp luật tạo nên những khuôn khổ pháp lý quy định và điều chỉnhtất cả các quan hệ xã hội Các chính sách công cũng phải căn cứ vào hệ thốngpháp luật hiện hành
Bản thân các thể chế pháp luật không gây ra hành động Chúng tác độngđến các chính sách bằng cách định hình sự hiện diện của vấn đề và các giảipháp, cũng như các phương pháp để thực hiện các giải pháp đó Các thể chếpháp luật cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những quy tắc hànhđộng, tiêu chuan xây dựng chính sách, những ràng buộc và khuôn khổ đối với
Trang 10chính sách Nói cách khác, các chính sách không được trái với những quyđịnh pháp luật hiện hành Điều đó có nghĩa là khi hoạch định một chính sáchcần nắm được tất cả các quy định pháp luật đang điều tiết lĩnh vực liên quanđến chính sách đó.
Đồng thời, chính sách lại là một nguồn tạo ra những thể chế pháp luậtmới Thông thường, sau khi nhà nước ban hành một chính sách, để thực thichính sách đó trong cuộc sống, nhà nước thường phải thể chế hóa chính sách
đó thành các quy phạm pháp luật vừa khuyến khích, vừa cưỡng chế đối vớiviệc thi hành chính sách đó
Ở nước ta, pháp luật Nhà nước là một hệ thống pháp luật thống nhất,phản ánh ý chí, nguyện vọng và lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dânlao động, được phát triển từng bước phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa
mà Đảng đã đề ra Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam Hiến pháp mới nhất của nước ta là Hiến pháp đượcban hành vào năm 2013 Cho đến nay, nhà nước ta đã ban hành được một hệthống pháp luật bao quát và điều chỉnh các qua hệ xã hội trong nhiều lĩnh vựcđời sống Những văn bản pháp luật này đã tạo cơ sở pháp lý cho việc hìnhthành nền kinh tế thị trường ở nước ta và việc quản lý kinh tế theo cơ chế thịtrường ngày càng đi vào nề nếp
Hệ thống pháp luật do Nhà nước ban hành ở nước ta là sự thể chế hóaCương lĩnh, Chiến lược và định hướng chính sách… của Đảng ta Vì vậy, cácchính sách không những phải căn cứ vào những quan điểm, đường lối củaĐảng, mà còn phải tuân thủ những quy phạm pháp luật được thể chế hóa từđường lối chính trị đó Mặt khác, một chính sách mới được ban hành đồngthời lại tạo ra một lĩnh vực điều tiết mới của hệ thống pháp luật Có thể nói,chính sách gắn bó chặt chẽ với hệ thống luật pháp, có mối quan hệ nhân quả
và chế ước lẫn nhau
3.3 Căn cứ kinh tế
Mỗi chính sách đề ra phải dựa vào hoàn cảnh kinh tế cụ thể, chúngkhông thể vượt quá điều kiện kinh tế và nguồn lực kinh tế hiện có Ở tầm vĩ
Trang 11mô, những điều kiện kinh tế đó là trình độ phát triển của nền kinh tế, mức độtăng trưởng kinh tế, sự phát triển và nhu cầu phát triển của lĩnh vực kinh tế
mà chính sách tác động đến…Khi hoạch đinh chính sách cần xác định nhữngyếu tố kinh tế nào tác động đến lĩnh vực chính sách dự định ban hành, và ảnhhưởng kinh tế có thể phát sinh khi thực hiện chính sách đó Việc tính đến cácyếu tố kinh tế này bảo đảm cho chính sách được đề ra có tính khả thi trongđiều kiện kinh tế hiện có
Ở nước ta, công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu quan trọng
về kinh tế Tuy nhiên, cho đến nay, nước ta vẫn là một trong những nước cònnghèo, trình độ phát triển kinh tế, năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinhdoanh còn thấp, cơ sở lạc hậu,… Trong môi trường kinh tế đó, các giải phápcủa chính sách phải phù hợp với những điều kiện kinh tế hiện có
3.4 Căn cứ xã hội
Việc đề ra một chính sách phải xuất phát từ những căn cứ xã hội Đó là:mức sống của dân cư, tình trạng công ăn việc làm, sự công bằng xã hội, trình
độ dân trí, chất lượng giáo dục, y tế,…
Nếu các căn cứ xã hội ở mức tiến bộ thì việc đề ra các giải pháp của mộtchính sách công có thể dựa vào ý thức tự giác của nhân dân, được sự ủng hộcủa nhiều người, ít bị những yếu tố xã hội tiêu cực cản trở Các căn cứ xã hội
là điều kiện rất quan trọng, đảm bảo cho sự thành công của một chính sách
Vì vậy, khi hoạch định chính sách, luôn phải xác định rõ các yếu tố xã hội nàotác động đến lĩnh vực chính sách đó và ảnh hưởng xã hội có thể xuất hiện khithực thi chính sách
Ở nước ta, điều kiện xã hội có nhiều mặt tiến bộ đời sống vật chất củađại bộ phận nhân dân được cải thiện rõ rệt, trình độ dân trí và hưởng thụ vănhóa được nâng cao,…Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tiêu cực và những vấn đề xãhội bức bách đang đặt ra như nạn tham nhũng, buôn lậu chưa ngăn chặn đượckịp thời, việc làm đang là vấn đề gay gắt, sự phân hóa giàu nghèo tăng nhanh,
tệ nạn xã hội phát triển,…
3.5 Căn cứ khoa học- công nghệ
Trang 12Cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin pháttriển nhảy vọt, làm biến đổi sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và hìnhthành nên kinh tế tri thức Các nước đang phát triển có cơ hội để thu hẹpkhoảng cách, cải thiện vị thế của mình, đồng thời cũng đứng trước nguy cơ tụthậu xa hơ và bị phụ thuộc nếu không tranh thủ được cơ hội và khắc phục cácyếu kém để vươn lên Khoa học- công nghệ là chiếc chìa khóa mở đường đuanước ta bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Khoa học- công nghệ
ở đây bao gồm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Do đó, mọi chínhsách đề ra đều phải tiếp thu và tận dụng những thành tựu hiện có của khoahọc và công nghệ Chính những yếu tố khoa học- công nghệ tác động rất lớnđến sự thành công của một chính sách
3.6 Bối cảnh quốc tế
Trong suốt những thập kỷ qua, bối cảnh quốc tế đã có nhiều thay đổi.Chủ nghĩa xã hội hiện thực tạm thời lâm vào thoái trào nhưng vẫn có điềukiện và khả năng phục hồi và phát triển Thế giới đang thay đổi nhanh chóngvới những biểu hiện tuy rất đa dạng nhưng rất nhất quán về chiều hướng: toàncầu hóa và kinh tế tri thức Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan, ngày càng
có nhiều nước tham gia, đang bị một số nước phát triển và một số tập đoànkinh tế xuyên quốc gia chi phối, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực.Toàn cầu hóa trở thành một động lực chính thúc đẩy tương tác giữa các quốcgia trên mọi lĩnh vực Toàn cầu hóa dẫn đến sự thay đổi về chính sách liênquốc gia cũng như chính sách của từng quốc gia nhằm tăng tính hiệu quả kinh
tế thông qua việc hội nhập kinh tế, nới lỏng sự kiểm soát các thị trường quốcgia Trong bối cảnh đó, các chính sách của nhà nước ta phải tập tính đếnnhững yếu tố quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế, song phải trên nguyên tắcgiữ vững độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa
Tóm lại, các chính sách của Nhà nước phải được xác lập dựa trên nhữngcăn cứ nhất định Những căn cứ này làm cho chính sách đề ra trở thành một
bộ phận thống nhất của hệ thống chính sách Vừa giải quyết mục tiêu riêngcủa từng chính sách, vừa góp phần thực hiện mục tiêu chung của quốc gia
Trang 13Bên cạnh những thách thức về giảm nghèo ở nhóm dân tộc thiểu số vànhững vùng khó khăn, quá trình đô thị hoá nhanh chóng và sự tăng lên ồ ạtcủa dòng người di cư từ nông thôn về các thành phố lớn cũng làm tăng áp lựcgiảm nghèo ở khu vực thành thị Nghèo đói ở khu vực thành thị không chỉ thểhiện ở thu nhập thấp, mà còn thể hiện trong thiếu hụt về tiếp cận các dịch vụ y
tế, giáo dục, nước sạch và vệ sinh, nhà ở, các mạng lưới an sinh xã hội, cơ hộitham gia vào thị trường lao động và các hoạt động của cộng đồng Đặc biệt,đặc tính không ổn định và hay di chuyển của những đối tượng di cư tạm thờihoặc không có đăng ký hộ khẩu, cũng khiến cho họ khó tiếp cận với các trợgiúp và dịch vụ công
Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo tạiViệt Nam 10 năm qua đã đạt được những kết quả nổi bật Đã có hơn 500nghìn lượt hộ nghèo được hỗ trợ về nhà ở, 542 triệu lượt người được hỗ trợbảo hiểm xã hội Điều kiện sống của người nghèo được cải thiện
Thông qua Chương trình 135 giai đoạn 2, tỷ lệ hộ nghèo ở các xã, thôn,bản đặc biệt khó khăn giảm từ 47% năm 2006 xuống còn 28,8% năm 2010;thu nhập bình quân đầu người là 4,2 triệuđồng/người/năm;…Tỷ lệ hộ nghèo