Mục tiêu của công cuộc cải cách đó là nhằm xây dựng một nền hành chínhtrong sạch, có đủ năng lực, sử dụng quyền lực và từng bước không ngừng hoànthiện để quản lý có hiệu lực và hiệu quả
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN KHOA NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
~~~~~~*~~~~~~
TIỂU LUẬN
MÔN: PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
Đề tài:
Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh mới hiện nay, tình hình trên thế giới tiếp tục có những diễnbiến nhanh, phức tạp; đất nước đứng trước vận hội và cả những thách thức khôngnhỏ, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân ta thực hiện một bước cải cách nền hành chínhNhà nước để đáp ứng công cuộc đổi mới, đưa đất nước phát triển nhanh, bềnvững Mục tiêu của công cuộc cải cách đó là nhằm xây dựng một nền hành chínhtrong sạch, có đủ năng lực, sử dụng quyền lực và từng bước không ngừng hoànthiện để quản lý có hiệu lực và hiệu quả công việc Nhà nước, thúc đẩy xã hộiphát triển đúng hướng, phục vụ đắc lực đời sống nhân dân, xây dựng nếp sống vàlàm việc theo pháp luật trong xã hội Đảng lãnh đạo nhân dân lao động làm chủchỉ có thể thực hiện được thông qua pháp luật và được bảo đảm bằng pháp luật.Một xã hội tiến bộ có kỷ cương, nề nếp, chủ yếu được điều chỉnh bằng pháp luật,không chỉ với ý nghĩa là một sức mạnh cưỡng chế mà còn là công cụ giáo dục
Để đạt được những mục tiêu đó, phải không ngừng củng cố và tăng cườngpháp chế XHCN Đây là một trong những yêu cầu khách quan và cấp thiết củacông cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền, đổi mới toàn diện và sâu sắc tất cảcác lĩnh vực đời sống xã hội nước ta hiện nay Do ý nghĩa và tầm quan trọng củapháp chế XHCN, Đảng Cộng Việt Nam đã nhiều lần đề cập đến trong các nghịquyết của Đảng, chỉ rõ phương hướng và biện pháp để tăng cường pháp chếXHCN
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa ởViệt Nam hiện nay” là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần quyết địnhthành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xãhội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 3Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng pháp chế xã hội chủnghĩa, tiểu luận đề ra các giải pháp cụ thể nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủnghĩa hiện nay của nước ta
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, cần thực hiện 3 nhiệm vụ chính như sau:
- Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận như khái niệm, đặc điểm, yêu cầu của pháp chế XHCN
- Thứ hai, phân tích thực trạng pháp chế XHCN hiện nay qua những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân
- Thứ ba, đề xuất các giải pháp tăng cường pháp chế XHCN và trách nhiệm của sinh viên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tiểu luận nghiên cứu vấn đề tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: hiện nay
- Phạm vi không gian: Việt Nam
4 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, tiểu luận được dự kiến triển
khai theo kết cấu nội dung gồm 3 chương 8 tiết
Trang 4NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 1.1 Khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa
Pháp chế XHCN là một khái niệm, một phạm trù pháp lý cơ bản của khoahọc pháp lý XHCN Đây là vấn đề không phải là mới mẻ Song, sau khi các nướcXHCN ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, các nước trong hệ thống XHCN đã đềutiến hành cải tổ đổi mới theo những con đường phát triển riêng của mình, phápchế được bàn đến trong một điều kiện mới Trong điều kiện của quá trình xâydựng nhà nước pháp quyền, quá trình xây dựng phát triển nền kinh tế thị trường
mở cửa, hội nhập quốc tế và xây dựng xã hội công dân, pháp chế XHCN (theoquan niệm cũ) không dễ gì có sự thống nhất về nội hàm của nó Vì vậy, để đưa rađược một khái niệm về pháp chế XHCN một cách tương đối hoàn chỉnh, đúngvới tên gọi của nó cần tiếp cận từ nhiều phương diện
Thứ nhất, tiếp cận từ tư tưởng của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Lênin về pháp chế XHCN, "pháp chế là một hiện tượng xã hội độc lập với tưcách là nhân tố của quyền lực chính trị"
Mác-Thứ hai, tiếp cận từ quan điểm của Đảng ta về pháp chế XHCN trong cácvăn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, Đảng ta đều coi pháp chế XHCN là nguyên tắc
tổ chức và hoạt động của Nhà nước Muốn nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản
lý Nhà nước và phát huy dân chủ XHCN phương pháp chủ yếu, tổng thể, toàndiện và thường xuyên là tăng cường pháp chế XHCN
Thứ ba, tiếp cận từ khái niệm pháp chế của khoa học pháp lý, có nội dung đadiện, đa nghĩa mà hạt nhân, cốt lõi của nó là sự tôn trọng và thực hiện pháp luậthiện hành một cách tự giác, đầy đủ, nghiêm minh và thống nhất của các chủ thểtrong toàn xã hội
Pháp chế và pháp luật là hai khái niệm có quan hệ chặt chẽ với nhau.Chúng là những khái niệm gần gũi, nhưng không đồng nhất Pháp luật là hệthống các quy phạm do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội.Pháp chế là một phạm trù thể hiện những yêu cầu, đòi hỏi đối với chủ thể pháp
Trang 5luật phải tôn trọng và thực hiện đúng pháp luật Cho nên, pháp luật là tiền đề củapháp chế nhưng có pháp luật chưa hẳn đã có pháp chế Do đó pháp luật chỉ có thểphát huy được hiệu lực của mình, điều chỉnh một cách có hiệu quả các quan hệ xãhội khi dựa trên cơ sở vững chắc của nền pháp chế và ngược lại pháp chế chỉ cóthể được củng cố và tăng cường khi có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng
bộ, phù hợp và kịp thời
Như vậy, pháp chế xã hội chủ nghĩa là một chế độ đặc biệt của đời sống
chính trị - xã hội, trong đó tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội và mọi công dân phải tôn trọng và thực hiện pháp luật hiện hành một cách nghiêm minh, triệt để, chính xác, bình đẳng và thống nhất.
1.2 Đặc điểm pháp chế xã hội chủ nghĩa
Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một khái niệm rộng bao gồm nhiều mặt, dovậy cần phải xem xét nó ở những bình diện sau đây:
Thứ nhất, pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước
Pháp chế đòi hỏi việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máynhà nước phải tiến hành đúng quy định của pháp luật Mọi cán bộ công chức nhànước phải tôn trọng và nghiêm chỉnh tuân theo pháp luật khi thực hiện quyền vànghĩa vụ của mình; mọi vi phạm đều bị xử phạt nghiêm minh Đó là cơ sở bảođảm bộ máy nhà nước hoạt động đồng bộ, nhịp nhàng và có hiệu quả, phát huyhiệu lực của nhà nước và bảm đảm công bằng xã hội Điều 12 Hiến pháp 1992(sửa đổi bổ sung năm 2001) khẳng định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng phápluật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”
Thứ hai, pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của
các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể quần chúng
Mọi tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể quần chúng đều có phương thức,nguyên tắc hoạt động riêng, nhưng vẫn phải tôn trọng và tuân theo nguyên tắcpháp chế XHCN Bởi mỗi thành viên của tổ chức hay đoàn thể đó trước hết làmột công dân nên họ luôn chịu sự tác động của nhà nước; mặt khác các tổ chứcchính trị - xã hội và đoàn thể quần chúng đều được hình thành và hoạt động
Trang 6trong phạm vi lãnh thổ của nhà nước, tham gia các quan hệ xã hội, trong đó cócác quan hệ do nhà nước xác lập và bảo vệ Ngay cả Đảng Cộng sản với tư cách
là đảng cầm quyền, là lượng lãnh đạo nhà nước, quản lý xã hội phải “hoạt độngtrong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” như Điều 4 Hiến pháp 1992 quy định
Thứ ba, pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc xử sự của công dân.
Điều này đòi hỏi mọi công dân tôn trọng và tự giác thực hiện đúng yêu cầucủa pháp luật trong các hành vi xử sự của mình, được phép làm những gì màpháp luật không cấm Đây là điều kiện đảm bảo công bằng xã hội, mọi công dânđều bình đẳng trước pháp luật, là điều kiện cho mỗi người được tự do, tồn tại vàphát triển Mặt khác, trong chủ nghĩa xã hội, nhân dân lao động là chủ nhân đấtnước nên còn đòi hỏi mọi công dân có trách nhiệm tham gia quản lý công việcnhà nước, bảo đảm thực hiện nguyên tắc pháp chế bằng hình như như kiểm tra,giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội, đấu tranh chống
Nhu vậy, pháp chế XHCN đã trở thành tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ
cơ chế hoạt động trong chế độ chính trị- xã hội XHCN ở nước ta Pháp chếXHCN là hình thức, phương pháp tổ chức và vận hàn cơ chế Đảng lãnh đạo, nhànước quản lý, nhân dân làm chủ
Trang 71.3 Những yêu cầu cơ bản của pháp chế xã hội chủ nghĩa
1.3.1 Tôn trọng tính tối cao của Hiến pháp và Luật
Tôn trọng tính tối cao của Hiến pháp và Luật bảo đảm tính thống nhất của
hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện cho hệ thống pháp luật ngàycàng hoàn thiện, làm cơ sở để thiết lập trật tự pháp luật, củng cố và tăng cườngpháp chế xã hội chủ nghĩa
Hiến pháp và Luật là những văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội - cơquan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành, thể hiện một cách tập trung ý chí vànhững lợi ích cơ bản của nhân dân lao động trên các lĩnh vực, trong các vấn đềquan trọng của nhà nước và xã hội Đó là những văn bản quy phạm pháp luật cógiá trị pháp lý cao nhất Tuy nhiên, Hiến pháp và Luật có đặc điểm riêng, trongnhiều trường hợp không thể quy định một cách chi tiết và cụ thể để áp dụng trongmọi tình huống Vì vậy, chúng luôn đòi hỏi phải có sự cụ thể hoá của các văn bảndưới luật Trên thực tế, những văn bản dưới luật hết sức phong phú, chiếm một sốlượng rất lớn trong hệ thống pháp luật, vì vậy, mọi quy định của các văn bản dướiluật đều phải phù hợp với Hiến pháp và Luật Do đó, khi xây dựng các văn bảndưới luật phải dựa trên những quy định của Hiến pháp và Luật Nếu không thựchiện tốt yêu cầu tôn trọng tính tối cao của Hiến pháp và Luật thì tình trạng tảnmạn, trùng lặp, chồng chéo hoặc mâu thuẫn trong các quy phạm pháp luật, phá vỡtính thống nhất của hệ thống pháp luật là không thể tránh khỏi
Ví dụ: Hiến pháp quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân (hay sở hữu nhà
nước) Luật đất đai, nghị định, thông tư hướng dẫn cũng phải tôn trọng quy địnhnày, chỉ quy định quyền chiếm hữu, sử dụng còn quyền định đoạt thuộc về nhànước
Để thực hiện tốt yêu cầu này cần chú ý: thứ nhất, phải chú trọng tới việc
hoàn thiện Hiến pháp và xây dựng các văn bản luật để làm cơ sở cho việc hoàn
thiện hệ thống pháp luật; thứ hai, phải nhanh chóng cụ thể hoá những quy định
của Hiến pháp và Luật, triệt để tôn trọng tính tối cao của Hiến pháp và Luật
1.3.2 Bảo đảm tính thống nhất của pháp chế trên quy mô toàn quốc
Trang 8Từ bản chất của nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc mọicông dân đều bình đẳng trước pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải
có sự thống nhất về nhận thức và tổ chức thực hiện pháp luật trên quy mô toànquốc Thực hiện tốt yêu cầu này là điều kiện quan trọng để thiết lập trật tự, kỷcương, cấp dưới phục tùng cấp trên, lợi ích của địa phương phải phù hợp với lợiích quốc gia, cá nhân có quyền tự do dân chủ nhưng phải tôn trọng quyền củanhững chủ thể khác Bảo đảm nguyên tắc pháp chế thống nhất là điều kiện để xóa
bỏ tư tưởng cục bộ, địa phương chủ nghĩa, tự do vô chính phủ, bảo đảm côngbằng xã hội
Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật, củng cố,tăng cường pháp chế, Nhà nước cũng cần phải xem xét những điều kiện và hoàncảnh cụ thể của từng địa phương, tìm ra những hình thức và phương pháp phùhợp để đưa pháp luật vào cuộc sống với hiệu quả cao nhất mà không vi phạmpháp luật, không xâm hại đến tính thống nhất của pháp chế
Ví dụ: Theo quy định của Luật hôn nhân gia đình và Nghị Định 158/2005
quy định: Đăng ký kết hôn Khi đăng ký kết hôn phải nộp lệ phí Tuy nhiên ởvùng sâu vùng xa,vùng dân tộc thiểu số Chính phủ có quy định riêng để phù hợpvới điều kiện, hoàn cảnh, đó là khi đăng ký kết hôn sẽ được miễn lệ phí.(NghịĐịnh số 32/2000)
1.3.3 Các cơ quan xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật phải hoạt động một cách tích cực, chủ động và có hiệu quả
Để có cơ sở vững chắc củng cố nền pháp chế, cần chú ý những biện phápbảo đảm cho các cơ quan chuyên trách xây dựng pháp luật đủ khả năng và điềukiện để hoàn thiện hệ thống pháp luật một cách đầy đủ, đồng bộ và thống nhất
Tổ chức và thực hiện pháp luật là một mặt quan trọng của nền pháp chế dẫnđến một trong những yêu cầu đặt ra là muốn củng cố và tăng cường pháp chế thìphải bảo đảm cho các cơ quan tổ chức và thực hiện pháp luật hoạt động có hiệuquả Từ đó, các chủ thể mới hiểu được pháp luật, có ý thức và tự giác, nghiêmchỉnh tuân theo pháp luật và bảo đảm được nguyên tắc pháp chế
Trang 9Xử lý kịp thời và nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật là trách nhiệmcủa cả bộ máy nhà nước, nhưng trước hết chủ yếu là những cơ quan bảo vệ phápluật nên cần thiết chú trọng nâng cao hoạt động của các cơ quan này tích cực, chủđộng và hiệu quả hơn Kết quả sẽ tác động trực tiếp tới việc củng cố và tăngcường pháp chế Hơn nữa, pháp chế còn là nhiệm vụ của các tổ chức xã hội vàtoàn dân, vì vậy, yêu cầu cũng đòi hỏi các tổ chức và mọi công dân phải có tráchnhiệm tham gia đấu tranh chống vi phạm pháp luật, bảo vệ pháp chế XHCN.
Ví dụ: Nghị Định về kiềm chế tai nạn giao thông của Thủ tướng Chính phủ
quy định: “Mọi người ngồi trên xe mô tô, gắn máy phải đội mũ bảo hểm trên cáctuyến đường từ ngày 15/12/2007” Đối tượng phải chấp hành đầu tiên là cán bộcông chứcvà tích cực tuyên truyền Đến nay, 99% người dân đã chấp hành quyđịnh này và đã trở thành thói quen Có thể thấy, pháp luật đã thực sự được thựchiện trong cuộc sống
1.3.4 Không tách rời công tác pháp chế với văn hoá
Trình độ văn hoá nói chung và trình độ văn hoá pháp lý nói riêng của cácnhân viên nhà nước, nhân viên các tổ chức xã hội và công dân có ảnh hưởng rấtlớn tới quá trình củng cố nền pháp chế xã hội chủ nghĩa Trình độ văn hóa củacông chúng càng cao thì thì việc thực hiện pháp luật càng tự giác và thống nhất
Có thể nói, văn hoá là cơ sở quan trọng để củng cố nền pháp chế, ngược lại, nềnpháp chế vững mạnh lại mở ra khả năng lớn thúc đẩy phát triển văn hoá XHCN
Vì vậy, phải gắn công tác pháp chế với công việc nâng cao trình độ văn hoá nóichung và văn hoá pháp lý nói riêng của các nhân viên nhà nước, nhân viên các tổchức xã hội và công dân Công tác pháp chế, quá trình xây dựng pháp luật phảiphù hợp với đặc trưng văn hóa từng vùng miền trong từng thời kì khác nhau
Ví dụ: Việc vi phạm pháp luật có tỷ lệ lớn hơn ở những nơi mà những người
lãnh đạo có trình độ văn hóa không cao, hoặc ở những tập thể trong đó thiếu sựtôn trọng pháp luật và bản thân người người lãnh đạo vi phạm pháp luật
Trang 10Như vậy, thực chất của việc tăng cường pháp chế là tăng cường chế độ quản
lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật để mọi chủ thể trong xã hội đều hoạtđộng trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN
NAY 2.1 Thành tựu
Trên phương diện thực tiễn, việc xây dựng pháp chế XHCN ở Việt Nam đạtnhiều thành tựu quan trọng
Nhà nước ta đã xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật ngày càng lớn,chất lượng ngày càng nâng cao, hoàn thiện một bước quan trọng trong hệ thốngpháp luật về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, thể chế kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN; về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân;
về các lĩnh vực văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục – đào tạo, khoa học, công nghệ,môi trường, quốc phòng an ninh, đối ngoại bảo đảm yêu cầu quản lý, ổn định,phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hệthống pháp luật đã thể chế hóa kịp thời chủ trương của Đảng, cụ thể hóa các quyđịnh mới của Hiến pháp 2013, bám sát yêu cầu cuộc sống và đáp ứng tiêu chí của
hệ thống pháp luật về “tính đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch”,
xử lý tốt những vấn đề phức tạp của thực tiễn
Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định những vấn đề quantrọng của đất nước, giám sát tối cao có nhiều đổi mới, chất lượng và hiệu quảđược nâng cao Vai trò, quyền làm chủ của nhân dân được củng cố, phát huy, bảođảm và lan tỏa tinh thần tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, cơ chế dânchủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở dựa trên phươngchâm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”
Bộ máy nhà nước bước đầu được sắp xếp theo hướng tinh gọn gắn với tinhgiảm biên chế, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; cơ chế phân công, phối
Trang 11hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện cácquyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ngày càng rõ hơn và có chuyển biến tíchcực Trong đó, vai trò, trách nhiệm của đại biểu dân cử thể hiện rõ hơn, hiệu quảhơn.
Hoạt động cơ quan hành pháp chủ động, tích cực, tập trung vào quản lý,điều hành, tháo gỡ rào cản, phục vụ, hỗ trợ phát triển Cải cách hành chính, tưpháp có bước đột phá; chất lượng hoạt động có tiến bộ, bảo vệ tốt hơn lợi ích củaNhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức và cá nhân; tôntrọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân Định kỳ, các bộ tưpháp về các vùng xa để tuyên truyền phổ biến pháp luật có nội dung phù hợp vớiđặc điểm tình hình từng cơ sở, lắng nghe tâm tư nguyện vọng, ý kiến kiến nghị vàgiải thích để người dân hiểu, nâng cao ý thức sống và làm việc theo hiến pháp vàpháp luật của nhân dân Năm 2020, Bộ Tư pháp trong nhóm ba bộ dẫn đầu vềChỉ số cải cách hành chính với tổng điểm và đứng thứ 2 về Chỉ số đo lường sựhài lòng của người dân, tổ chức – 89.58%
Những kết quả này được Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Xây dựngNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có nhiều tiến bộ, tổ chức bộ máy nhànước tiếp tục được hoàn thiện, hoạt động hiệu lực và hiệu quả hơn; bảo đảm thựchiện đồng bộ các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”
“chính xác, phổ thông, rõ ràng, dễ hiểu” theo quy định của Luật Ban hành vănbản QPPL, dẫn đến việc hiểu, áp dụng không thống nhất
Trang 12Hơn nữa, kỷ luật, kỷ cương trong xây dựng và ban hành văn bản pháp luậtchưa nghiêm Một số cơ quan soạn thảo văn bản chưa quan tâm đúng mức đếnviệc rà soát đầy đủ, kỹ lưỡng quy định trong các văn bản QPPL liên quan khi sửađổi, bổ sung, ban hành quy định mới, dẫn đến mâu thuẫn, chồng chéo giữa cácquy định Tình trạng luật khung, luật ống, luật phải chờ văn bản hướng dẫn thihành từ Chính phủ (Nghị định), các Bộ (Thông tư, Thông tư liên tịch ), thậm chí
có nơi phải chờ hướng dẫn của UBND tỉnh, thành phố và các Sở, ngành mớiphát sinh hiệu lực thực tế vẫn còn Tình trạng “nợ” văn bản hướng dẫn thi hànhtuy có cải thiê •n nhưng chưa được khắc phục triệt để
Tại cuộc họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội phiên thứ 48, Phó Viện trưởngViện KSND tối cao Nguyễn Duy Giảng cho biết, có 23 văn bản có nội dung mâuthuẫn; 3 văn bản đã lạc hậu, không còn phù hợp với thực tiễn và 24 văn bản đãhết hiệu lực thi hành nhưng chưa có văn bản khác sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hoặcthay thế Tính đến tháng 8/2020, còn lại 87/572 nội dung chưa ban hành văn bảnquy định chi tiết Một số luật có từ 80% - 100% nội dung chưa có văn bản quyđịnh chi tiết được ban hành, đặc biệt, có một số nội dung sau gần 3 năm luật cóhiệu lực nhưng vẫn chưa có văn bản quy định Điều này tác động không tốt đến
sự phát triển kinh tế - xã hội và cũng là nguyên nhân làm tính thống nhất và kỷcương của pháp luật chưa cao
Thêm vào đó, vấn đề thực thi pháp luật đang là một tồn tại rất lớn Chúng tachưa có sự nhận thức một cách đầy đủ về việc xây dựng các cơ chế bảo đảm thựcthi pháp luật một cách hiệu quả Kỷ cương, phép nước trong thi hành công vụ vàtrong đời sống xã hội còn bị xem nhẹ, có lúc, có nơi còn lỏng lẻo, xử lý vi phạmpháp luật chưa kịp thời, chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe, dẫn đến tình trạng khinhnhờn pháp luật Thượng tôn pháp luật và bảo đảm tính tối thượng của Hiến phápchưa trở thành thói quen thường trực của đội ngũ cán bộ, công chức và của các tổchức, cá nhân trong xã hội, chưa ăn sâu vào đời sống chính trị - xã hội
Vụ việc tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội (tháng 1-2020), làm 3 cán
bộ Công an hy sinh là một điển hình của việc coi thường và vi phạm pháp
Trang 13luật, gây hậu quả nghiêm trọng, đồng thời cũng cho thấy những hạn chế của khâu
tổ chức thực hiện pháp luật và đấu tranh với vi phạm pháp luật, khiến hiệu lực,hiệu quả bị suy giảm Đặc biệt, nhân vụ việc này, các phần tử cơ hội chính trị vàcác thế lực thù địch trong và ngoài nước kích động cái gọi là “Bất tuân dân sự”nhằm chuyển hóa những bức xúc, mâu thuẫn, xung đột dân sự thông thườngthành các hành vi chống phá, đối đầu với chính quyền Đây là âm mưu hết sứcthâm độc nhằm cổ xúy cho thái độ, hành vi bất tuân pháp luật, hòng vô hiệu phápchế xã hội chủ nghĩa ở nước ta, mà mục đích là lật đổ chính quyền nhân dân
Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí ở một số địa phương, bộ,ngành chưa có chuyển biến rõ rệt; công tác phòng ngừa tham nhũng ở một số nơicòn hình thức Việc phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí vẫn còn hạn chế, tựkiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng, lãng phí trong nội bộ, cơ quan, đơn vịcòn yếu; tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong khu vực hành chính, dịch vụ côngchưa được đẩy lùi Tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn cònnghiêm trọng, phức tạp, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong
xã hội Tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe doạ sự tồn vong củaĐảng và chế độ ta Theo báo cáo của các đơn vị tại Hà Nội, từ năm 2009 đếntháng 6/2020, công tác tự kiểm tra nội bộ chưa phát hiện và xử lý trường hợp nàotham nhũng, nhưng qua thanh tra thì phát hiện sai phạm trên 3.597 tỉ đồng Báocáo về hoạt động chống tham nhũng của Hà Nội như thế không chỉ gây bức xúctrong cộng đồng mạng xã hội mà hàng chục tờ báo Nhà nước Việt Nam, trong đó
có các tờ báo lớn như Thanh niên, Tiền phong và VietnamNet tuy không đưa racác bình luận nhưng đều đồng loạt đưa tin về “thành tích” này
2.3 Nguyên nhân
Những khuyết điểm, yếu kém nói trên có nhiều nguyên nhân khách quan vàchủ quan, nhưng cần chú ý nhấn mạnh một số nguyên nhân là:
Thứ nhất, do xã hội truyền thống ở nước ta chưa có nhà nước pháp quyền và
văn hóa thượng tôn pháp luật Phép trị quốc đề cao nhân trị, đức trị, lễ trị hơn