Tình hình nghiên cứu Vấn đề đổi mới giáo dục - đào tạo đã được đề cập, được bàn thảo nhiều lần nhưng chủ yếu dưới dạng các bài báo khoa học nên dung lượng còn rất hạn chế, mới chỉ khai t
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYÊỀN KHOA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần:
ĐỀ TÀI:
Giảng viên hướng dẫn : Ts Trần Thị Bình
Hà nội, ngày 10 tháng 7 năm 2021
Trang 2Theo quan điểm của triết học, giáo dục nói chung có một giá trị muôn thuở,
đó là coi việc đi tìm chân lý khoa học, hoàn thiện nhân cách con người, truyền bá tri thức và văn hoá khắp nhân loại là một mục tiêu của mình Còn trong khoa học chính trị và đạo đức học, giáo dục chứa đựng phương diện lợi ích xã hội Nước ta
đã thực sự mở cửa với thế giới sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tạo cơ hội phát triển cho giáo dục - đào tạo, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp bách phải cải cách giáo dục - đào tạo Việt Nam trong thời kỳ dây mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Đó là lý do tôi chọn đề tài: “Đường lối lãnh đạo của đảng trong sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo” cho tiểu luận cuối môn của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề đổi mới giáo dục - đào tạo đã được đề cập, được bàn thảo nhiều lần nhưng chủ yếu dưới dạng các bài báo khoa học nên dung lượng còn rất hạn chế, mới chỉ khai thác dưới góc độ thông tin, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tập trung, có hệ thống dưới góc độ lý luận về quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cải cách giáo dục - đào tạo trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (từ Đại hội VIII, năm 1996 đến trước Đại hội Đảng toàn quốclần thứ XIII, năm 2021)
Trang 33 Mục đích nghiên cứu
Từ việc tái hiện quá trình lãnh đạo cải cách giáo dục - đào tạo của Đảng Cộngsản Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đề tàigóp phần khẳng định đường lối, chủ trương, định hướng đúng đắn của Đảng về vấn
đề giáo dục - đào tạo, những thành tựu đã đạt được, một số hạn chế và nguyên nhân của nó Từ đó có thể đúc kết một số bài học kinh nghiệm hữu ích cho quá trình cải cách giáo dục - đào tạo trong thời gian tới
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích thực trạng giáo dục - đào tạo và yêu cầu tất yếu phải cải cách
- Làm rõ Cương lĩnh, Chiến lược, đường lối, chủ trương của Đảng về giáo dục - đào tạo
- Phục dựng có hệ thống về quá trình cải cách giáo dục - đào tạo
- Đường lối lãnh đạo của Đảng từ năm 1996 đến năm 2021 Nêu rõ thành công, hạn chế, nguyên nhân
- Đúc kết một số bài học có thể tham khảo hữu ích cho quá trình
cải cách giáo dục - đào tạo ở nước ta hiện nay
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: quan điểm, chủ trương, định hướng lãnh đạo, các chính sách củaĐảng và các kết quả đạt được từ năm 1996 đến năm 2021
- Phạm vi: đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề cải cách giáo dục - đào tạo dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đây mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước từ năm 1996 đến năm 2021
6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 4Đề tài thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về lãnh đạo cảicách giáo dục - đào tạo trong thời kỳ đấy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trên cơ sở phương pháp luận Mác xít, kết hợp các phương pháp lịch sử, lô gíc,tổng hợp, phân tích, khảo sát, thống kê, so sánh để làm rõ nội dung của luận văn.
7 Kết cấu tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của bài được trình bày thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về Giáo dục - Đào tạo
Chương 2: Quan điểm của Đảng về cải cách, phát triển giáo dục – đào tạo trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (từ năm 1996 đến năm 2021)
Chương 3: Kết luận
Chương 1
Trang 5NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
1.1 Nhận thức chung về giáo dục-đào tạo, cải cách giáo dục-đào tạo
Giáo dục là sự truyền thụ tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm của con người từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác
Giáo dục - đào tạo là một hệ thống rộng lớn có những quy luật vận động và phát triển tương đối độc lập, nhưng nó được chi phối, điều tiết, chế định bởi thể chếphát triển kinh tế – xã hội chung, làm nên đặc tính và bản chất của một nền giáo dục - đào tạo Giáo dục - đào tạo vừa mang những đặc điểm của dân tộc, vừa mang những nội dung giá trị chung của nhân loại làm cơ sở cho quá trình hội nhập quốc
tế và toàn cầu hoá
Cải cách giáo dục - đào tạo, đó là sửa đổi những bộ phận cũ, không còn phù hợp với tình hình mới, xu thế tiến bộ chung của xã hội trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo cho thành hợp lý và đáp ứng yêu cầu khách quan hơn Cải cách ở đây phải gồm cả đường lối, chủ trương, mục tiêu, đội ngũ nhà giáo, chương trình và sách giáo khoa cùng những cơ sở vật chất phục vụ việc học tập và nghiên cứu kèm theo văn hoá thể thao, giải trí đi kèm
Trong các yếu tố và các quá trình giáo dục - đào tạo được định chế bởi hai nhân tố chủ yếu là: tính chất xã hội, tính chất công cộng và phúc lợi xã hội hay lợi ích tư nhân của giáo dục - đào tạo; mục tiêu của chính sách đầu tư, chính sách xã hội của nhà nước trong việc phát triển, cải cách giáo dục – đào tạo Chủ trương, chính sách của Đảng về cải cách giáo dục - đào tạo trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đạt được mục tiêu phát triển giáo dục - đào tạo, chất lượng giáo dục - đào tạo đối với toàn bộ hệ thống giáo dục - đào tạo
Trang 6Xã hội mở cửa giao lưu hợp tác và phát triển là một nhu cầu tất yếu; tiếp thu
mô hình, phương thức và cả nội dung, chương trình tiến bộ, phù hợp Vì thế giáo dục - đào tạo nói chung, cải cách giáo dục - đào tạo trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước không thể là một mô hình khép kín, cần tham khảo kinh nghiệm thế giới, tiếp cận và tiếp nhận những thành công của nhân loại để giáo dục - đào tạo vừa mang những đặc điểm riêng có tính dân tộc lại vừa mang những nội dung chung, những giá trị chung mà nhân loại đã đạt được trong quá trình giao lưu, hội nhập và phát triển Đó cũng là một trong những yêu cầu chung của đổi mới, đổi mới cơ chế quản lý và chính sách xã hội đối với giáo dục - đào tạo nhằm đảm bảo cho giáo dục - đào tạo phát triển năng động, hiệu quả và chất lượng luôn là nhiệm vụ quan trọng của mỗi nước
1.2 Một số mô hình, vấn đề cải cách giáo dục - đào tạo của các nước
1.2.1 Mô hình giáo dục, cải cách giáo dục của Hoa Kỳ:
Hoa Kỳ là một nước có nền kinh tế ở mức cao nhất thế giới Kinh tế có ảnhhưởng sâu sắc đến sự phát triển của nền giáo dục thông qua việc vận hành cơ chếcạnh tranh Mặt khác nó còn thể hiện ở sự phân cấp trách nhiệm rõ ràng từ Chínhphủ liên bang đến Chính phủ địa phương, giữa nhà nước, các tổ chức kinh doanh,
xã hội và gia đình học sinh
Hệ thống giáo dục của Hoa Kỳ được phân thành bốn cấp theo cấu trúc: 6+3+3+4: cấp sơ học gồm mầm non và tiểu học (từ mẫu giáo đến lớp 6); cấp trung học cơ sở (lớp 7 đến lớp 9); trung học cao (lớp 10 đến lớp 12) và giáo dục đại học (đại học 2 năm hoặc 4 năm, thạc sỹ và tiến sỹ)
Giáo dục ở Hoa Kỳ được xem là hàng hoá dịch vụ công phục vụ lợi ích xãhội, do vậy Chính phủ có trách nhiệm lớn trong việc hoạch định chính sách, chiếnlược và đầu tư cho giáo dục Tuy nhiên vai trò quản lý và sự can thiệp của Chính
Trang 7phủ đối với giáo dục ở mức độ thấp, chủ yếu là cấp kinh phí và bảo đảm chính sách cho người học Các yếu tố của thị trường được vận dụng ở mức cao để phát triển giáo dục, tạo nên những điểm nổi bật của hệ thống giáo dục ở Hoa Kỳ: chất lượng giáo dục đại học cao, cạnh tranh cao, tự do học thuật cao, đa dạng các loại hình trường lớp, tự chủ lớn và trách nhiệm lớn, phân cấp trách nhiệm rõ ràng giữa các Chính phủ và các lực lượng tham gia giáo dục Các tổ chức kinh tế tham gia phát triển giáo dục Hệ thống trường tư phát triển mạnh ở tất cả các cấp học, đặc biệt là giáo dục đại học Dù ở trường công hay tư đều phục vụ mục đích công của giáo dục,
kể cả các trường vì lợi nhuận Thị trường giáo dục phát triển mạnh cả ở trong nước
và vươn ra thế giới Tuy nhiên hệ thống giáo dục của Hoa Kỳ cũng đang bị cạnh tranh gay gắt, chất lượng giáo dục phổ thông không cao, kém khả năng cạnh tranh
và có sự trì trệ trong quản lý ở các khu vực trường công Hoa Kỳ đang thúc đẩy cải cách giáo dục, hiện đại hoá giáo dục, đẩy mạnh hợp tác công - tư và xuất khẩu giáo dục, duy trì vị thế hàng đầu về chất lượng giáo dục đại học
1.2.2 Mô hình giáo dục của Singapore:
Singapore là một quốc gia nhỏ nhất ở Đông Nam Á Nền kinh tế chủ yếu dựa vào buôn bán và dịch vụ, có sự can thiệp của Nhà nước Giáo dục của
Singapore chịu tác động của các quy luật thị trường, trường học có nhiều quyền tự chủ, bố mẹ được quyền chọn trường cho con cái và giữa các trường có sự cạnh tranh tương đối lớn
Nhà nước xác định mục tiêu, chiến lược và quản lý chặt chẽ chất lượng giáo dục Hệ thống giáo dục gồm cả hai loại trường công và trường tự Bộ Giáo dục quản
lý các trường công, tư vấn và giám sát các trường tư Singapore mở rộng quyền tự chủ cho tất cả các trường học trong vấn đề chương trình, kinh phí và quản lý nhân
sự Singapore chú trọng đặc biệt về vấn đề phổ cập giáo dục trung học phổ thông cho toàn dân Đối với giáo dục đại học, Singapore đã thực thi tập đoàn hoá
Trang 8các trường đại học công vào năm 2006 với đặc điểm cơ bản là: đa dạng nguồn tài chính, trong đó phát triển mạnh quỹ hiến tặng; không còn xem thầy giáo là công chức; trả lương cạnh tranh theo mức độ hoàn thiện của công việc; và tăng quyền tự chủ cho các bộ phận trong trường Nhà nước áp dụng nhiều chính sách nhằm
khuyến khích các công ty tự tổ chức các khoá đào tạo và dạy nghề cho nhân viên vàcông nhân trong quá trình làm việc
Để nâng cao chất lượng giáo dục, Singapore tăng cường quốc tế hoá giáo dục, giáo dục học sinh tài năng và thực hiện nền giáo dục dựa trên năng lực, chuẩn
bị công dân cho nền tri thức và thông tin trong thế kỷ XXI; chú trọng tạo vị thế của mình trên trường quốc tế thông qua việc tuyển chọn học sinh tài năng của các nước đến học tại các trường nổi tiếng của Singapore và có chế độ cho phép các sinh viên này ở lại làm việc 3 – 5 năm sau khi tốt nghiệp Chính phủ cho phép các trường nước ngoài danh tiếng đầu tư 100% vốn để mở trường và khuyến khích các trường đẩy mạnh hợp tác quốc tế Singapore có một hệ thống giáo dục - đào tạo chất lượng cao, có uy tín và đang vươn lên trở thành trung tâm giáo dục của khu vực
1.2.3 Kết luận
Nhìn chung, giáo dục - đào tạo ở các nước có nền kinh tế thị thường tự do có chất lượng cao, đặc biệt là những nước tạo được sự cạnh tranh mạnh trong hệ thống giáo dục - đào tạo, trao nhiều quyền tự do, tự chủ cho các trường học Chất lượng giáo dục và công bằng giáo dục sẽ đảm bảo hơn nếu nhà nước đầu tư tốt cho giáo dục, nhà nước quản lý, coi trọng đảm bảo chất lượng giáo dục và các trường huy động được đa dạng các nguồn tài chính, đáp ứng các nhu cầu khác nhau của xã hội Nghiên cứu các mô hình giáo dục - đào tạo trong các nền kinh tế trên cho thấy những nét chung và những nét đặc thù ở mỗi nước; giáo dục - đào tạo của các nước vừa chịu sự quản lý và điều tiết của nhà nước vừa chịu sự tác động các quy luật và các tính chất của thị trường Sự phối hợp này đã tạo nên sự đa dạng và tính phức
Trang 9tạp của các nền giáo dục - đào tạo và của các hệ thống giáo dục - đào tạo Các cuộc chạy đua để giành địa vị các trường đại học đẳng cấp quốc tế, sự kinh doanh và lưu thông chất xám, ứng dụng công nghệ thông tin, kinh doanh dạy học qua mạng, tư nhân hóa, toàn cầu hóa và quốc tế hóa giáo dục - đào tạo đang là những xu thế nổibật Chất lượng và công bằng giáo dục là những mối quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia và các chính sách, giải pháp giáo dục - đào tạo đều tập trung để nâng cao chất lượng cà công bằng giáo dục.
Mặt khác, các quan niệm về giáo dục - đào tạo, các chính sách giáo dục - đào tạo khác nhau của các nước đã tạo nên những nền giáo dục với các chất lượng và sựphát triển khác nhau Vì sự vận dụng các yếu tố của thị trường vào giáo dục - đào tạo theo những cách khác nhau của các nước là khác nhau và vì mỗi yếu tố của thị trường có các ưu điểm và các nhược điểm của nó; do vậy, không có mô hình giáo dục - đào tạo nào là tối ưu để một nước khác có thể bắt chước hoàn toàn Nhiều nước có chất lượng giáo dục cao, giáo dục phát triển mạnh, nhưng nhiều nước hệ thống giáo dục công phát triển một cách trì trệ so với hệ thống trường tư Sự thành công của một nước trong việc xây dựng được một nền giáo dục - đào tạo có chất lượng cao và công bằng phụ thuộc vào việc vận dụng các quy luật của thị trường, xác định hợp lý và rõ ràng vai trò của thị trường và của nhà nước trong việc tạo lập môi trường vật chất và pháp lý để phát triển giáo dục - đào tạo Phân định hợp lý và
rõ ràng vai trò của nhà nước và thị trường là rất quan trọng vì nếu giáo dục - đào tạocủa một đất nước mà chỉ do các quy luật của thị trường chi phối thì sẽ không thực hiện được các chức năng công và đảm bảo lợi ích cho xã hội Nhưng nếu nhà nước can thiệp quá sâu sẽ hạn chế sự năng động, sáng tạo và không tạo lập được động lựcmạnh để thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo Với sự phát triển mạnh
mẽ của khoa học công nghệ, các nước chuyển sang xã hội thông tin và kinh tế tri thức Với sự trợ giúp của công nghệ thông tin truyền thông,
Trang 10các yếu tố của thị trường được vận dụng và phát huy hiệu quả hơn Tuy nhiên cả thị trường, nhà nước và công nghệ đều có những mặt mạnh và yếu; việc tìm ra các
mô hình, phối kết hợp các ưu điểm để hạn chế các nhược điểm trong cải cách phát triển giáo dục - đào tạo luôn là nhiệm vụ của mỗi nước
Chương 2 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ CẢI CÁCH, PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC (Từ năm
1996 đến năm 2021)
Trang 112.1 Thách thức và cơ hội đối với cải cách, phát triển giáo dục - đào tạo
ở Việt Nam trước năm 1996
Quá trình phát triển giáo dục - đào tạo ở bất cứ quốc gia nào cũng đều chịu ảnh hưởng của trình độ phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó Nghiên cứu thực tiễn phát triển giáo dục – đào tạo ở Việt Nam trong các điều kiện kinh tế - xã hội giúp cho việc phân tích và đánh giá về mức độ cũng như các xu hướng của điều kiệnkinh tế - xã hội tác động đến quá trình phát triển giáo dục - đào tạo, từ đó chỉ ra những mặt mạnh - yếu, những cơ hội và thách thức góp phần vào hoạch định các chủ trương, chính sách cho phát triển giáo dục – đào tạo Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo Trong phần này xin được nêu thực tiễn phát triển giáo dục Việt Nam qua các giai đoạn sau:
Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1996 Điều kiện kinh tế - xã hội
Đại hội VI của Đảng (năm 1986) quyết định chủ trương đổi mới toàn diện đất nước, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Các điều kiện kinh tế - xã hội này đã ảnh hưởng đến sự phát triển giáo dục - đào tạo:
- Những nguồn lực của đất nước, của nền kinh tế bắt đầu được giải phóng, được tăng lên tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội;
- Cơ chế, chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần đã tạo ra sự khuyếnkhích ở cả trong nước và nước ngoài đầu tư phát triển các lĩnh vực kinh tế, xã hội củađất nước;
- Do chưa có kinh nghiệm về quản lý kinh tế trong cơ chế thị trường nên bên cạnh những thuận lợi cũng có nhiều khó khăn này sinh, ảnh hưởng đến sự phát triển các mặt kinh tế - xã hội của đất nước; nhu cầu về học tập, đào tạo nâng cao kiến thức nghề nghiệp ngày càng trở lên bức thiết
Trang 12- Đời sống của người dân bắt đầu được cải thiện và từng bước được nâng lên góp phần củng cố và nâng cao niềm tin của người dân vào công cuộc đổi mới và sự quản lý của nhà nước;
- Sự tăng nhanh về dân số, dân số trẻ là một ưu thế về nguồn nhân lực, song cũng đặt ra thách thức về giáo dục - đào tạo, về công ăn, việc làm, về các vấn đề xã hội;
- Hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng tạo nhiều cơ hội thuận lợi lớn lao, đồng thời cũng có nhiều thách thức không nhỏ đối với sự phát triển mọi mặt của đất nước
Cơ chế, chính sách và thực tiễn giáo dục - đào tạo
Giáo dục - đào tạo bắt đầu chịu sự chi phối của cơ chế thị trường một cách
rõ rệt hơn Sự phát triển mọi mặt của đất nước, của toàn xã hội cũng như của mỗi gia đình ngày càng làm tăng nhu cầu học tập; Sự ảnh hưởng trở lại của giáo dục - đào tạo với đời sống kinh tế - xã hội ngày một sâu sắc và rộng khắp hơn, vai trò của giáo dục - đào tạo đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đang dần được đề cao;
Giáo dục hướng ra toàn cầu một cách mạnh mẽ do những đòi hỏi hội nhậpquốc tế ngày càng sâu rộng, do những chính sách mở cửa của Nhà nước, cùng với
sự nâng cao mức sống của người dân;
Sự đa dạng hoá trong khu vực đào tạo, giáo dục trung học chuyên nghiệp,dạy nghề, cao đẳng và đại học được thực hiện do nhu cầu phát triển kinh tế - xãhội;
Tốc độ phát triển quy mô giáo dục tăng cao ở tất cả các cấp, ngành học, đặc biệt là đối với khu vực giáo dục cao đẳng, đại học;
Sự tăng lên nhanh chóng về số lượng sẽ dẫn đến sự sa sút về mặt chất lượng nếu như không có một cơ chế và trình độ quản lý phù hợp