Câu nói của Bác chính là sự khẳng định và nhắc nhở mọi người con đất Việt, bất kể già, trẻ, gái, trai, tôn giáo, vùng miền phải luôn biết xây dựng và giữ gìn chủ quyền biển, đảo, biên gi
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TỔ GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
-TIỂU LUẬN HP1 ĐƯỜNG LỐI QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
XÂY DỰNG CÁI NHÌN KHÁCH QUAN, TỈNH TÁO VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO, BIÊN GIỚI QUỐC GIA TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Sinh viên:
Mã số sinh viên:
Lớp GDQP&AN:
Lớp:
Trang 2Hà Nội, tháng 11 năm 2021
MỤC LỤC
M ỞĐẦẦU 3
Tính tấất yếấu của đếề tài 3
NỘI DUNG 5
1 Ch ủquyếền lãnh thổ quốấc gia 5
1.1: M ột sốấ khái niệ m cơ bản 5
1.2: Nộ i dung xấy dự ng và bả o vệ chủ quyếền biể n đả o Việ t Nam 8
1.3: Nội dung xấy dựng và bảo vệ chủ quyếền lãnh thổ Quốấc gia 9
2 Th c trự ng ạvếề vi c ệxấy d ngự và b oảv chệ quyếềnủ Quốấca,gibi n ểvà h i đả o ảt cuốấiừ thếấ kỉ XX-nay 9 2.1: Chủ trương củ a Đả ng và Nhà nước vếề chủ quyếền ểbi nảđ o 10 2.2: Ch trủ ương c aủĐ ngả và Nhà n ướcvếề vấấn đếề chủ quyếềnuốấcq gia 14
3 Trách nhi mệ c aủsinh viến trong vấấn đếề chủ quyếền ếnbi gi ớiQuốấc gia, biển và hải đảo 15
KẾẾT LUẬN 17
Tài liệ u tham khảo 18
Trang 3XÂY DỰNG CÁI NHÌN KHÁCH QUAN, TỈNH TÁO VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO, BIÊN GIỚI QUỐC GIA TRONG TÌNH
HÌNH MỚI
MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền Lãnh thổ Việt Nam là một chỉnh thể thống nhất, bất khả xâm phạm, với diện tích đất liền là 331.689km², với 4.550km đường biên giới, là nơi sinh sống của trên 98 triệu dân thuộc 54 dân tộc anh em đoàn kết trong khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam Là ột công dân của Tổ quốc, ai ai trong mỗi chúng ta đều phải có trách nhiệm trong việc bảo vệ chủ quyền biên giới, biển và hải đảo, nhất là trong giai đoạn mới ngày hôm nay
Tính tất yếu của đề tài
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “ Các Vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải giữ lấy nước” Đất nước Việt Nam trải qua hàng ngàn năm lịch sử, đấu tranh và giành, giữ lấy độc lập dân tộc Câu nói của Bác chính là sự khẳng định và nhắc nhở mọi người con đất Việt, bất kể già, trẻ, gái, trai, tôn giáo, vùng miền phải luôn biết xây dựng và giữ gìn chủ quyền biển, đảo, biên giới quốc gia Việt Nam tuy nhỏ nhưng lại có tới 3260km đường bờ biển kéo dài từ Bắc chí Nam Đây là một lợi thế vô cùng có ý nghĩa với công cuộc phát triển kinh tế- xã hội của đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những tiềm năng to lớn là những thách thức rất đáng quan ngại Biển Đông là khu vực ngày càng có định vị quan trọng trong chính sách đối ngoại của các nước trên thế giới, là tâm
Trang 4điểm tranh giành quyền lực và sức ảnh hưởng, đặc biệt từ vị trí các cường quốc Hơn 20 năm trôi qua, biền Đông luôn là “ chảo lửa” trên bàn cờ chính trị thế giới
Vì vậy, ngày càng có thêm nhiều quan điểm, luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, mục đích nhằm xuyên tạc, bôi nhọ vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, cũng chính là mưu đồ dần dần “ nuốt trọn” biển Đông Song song với những điều
ấy, chúng còn ra sức lợi dụng sự phát triển của Internet và mạng xã hội, tung ra fake news, định hướng dư luận theo chiều hướng xấu, đặc biệt là những đối tượng nhạy cảm, dễ ảnh hưởng như học sinh, sinh viên, người lao động và người già Chính vì vậy, hơn khi nào hết, việc nâng cao nhận thức, quan điểm, cách hành xử khách quan, đúng đắn của giới trẻ, đặc biệt là sinh viên, về vấn đề chủ quyền biên giới quốc gia, biển và hải đảo là vô cùng cấp thiết và quan trọng
Trang 5NỘI DUNG
1 Chủ quyền lãnh thổ quốc gia
1.1: Một số khái niệm cơ bản
- Quốc gia là thực thể pháp lí bao gồm ba yếu tố: lãnh thổ, dân cư và quyền lực công cộng Quốc gia còn dùng để chỉ một nước hay đất nước, hai khái niệm đó
có thể thay thế cho nhau Chủ quyền quốc gia là đặc trưng cơ bản, quan trọng nhất của một quốc gia, theo luật pháp quốc tế hiện đại, mọi quốc gia trên thế giới đều bình đẳng
về chủ quyền
- Lãnh thổ quốc gia là phạm vi không gian được giới hạn bởi biên giới quốc gia, thuộc chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ của một quốc gia Lãnh thổ quốc gia bao gồm: vùng đất, vùng trời, vùng biển và vùng lãnh thổ quốc gia đặc biệt
- Vùng đất quốc gia (kể cả đảo và quần đảo) bao gồm toàn bộ phần mặt đất và lòng đất của đất liền, các đảo, quần đảo thuộc chủ quyền một
quốc gia Tổng diện tích 331212 km2 Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, ven biển Thái Bình Dương, vùng đất của Việt Nam vừa là đất liền, vừa là đảo, vừa là quần đảo Bao gồm từ đỉnh Lũng Cú (Hà Giang) đến mũi Cà Mau, các đảo như Phú Quốc, Cái Lân,
…, và quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa
- Vùng trời quốc gia là khoảng không gian phía trên lãnh thổ quốc gia Là
bộ phận cấu thành lãnh thổ quốc gia và thuộc chủ quyền hoàn toàn của quốc gia đó Việc làm chủ vùng trời quốc gia trên lãnh thổ quốc gia đặc biệt được thực hiện theo quy định chung của công ước quốc tế
Trang 6- Vùng biển quốc gia bao gồm nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam có 3 mặt trông ra biển là Đông, Nam
và Tây Nam, đường bờ biển dài 3260km từ
Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên( Kiên Giang) Phần biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam, mở rộng ra 2 phía Đông và Đông Nam, có thềm lục địa, các đảo và quần đảo lớn nhỏ bao bọc
( Nguồn: Google Image)
Vùng nội thuỷ: Là vùng nước tiếp giáp với đất liền, ở phía trong đường cơ sở (đường nối các đảo ngoài cùng và các mũi đất ven
bờ gọi là đường cơ sở)
Trang 7Lãnh hải: Là vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia trên biển, cách đường cơ sở là 12 hải lí (1 hải lí = 1852m) Ranh giới ngoài của lãnh hải được coi như biên giới quốc gia trên biển
Vùng tiếp giáp lãnh hải: Rộng 12 hải lí tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải Là vùng biển được quy định nhằm đảm bảo cho việc thực hiện chủ quyền các nước ven biển (bảo vệ an ninh, quốc phòng, kiểm soát thuế quan, các quy định về y tế, môi trường, nhập cư
Vùng đặc quyền kinh tế: rộng 200 hải lí tính từ đường cơ sở Là vùng nhà nước ta có chủ quyền hoàn toàn về mặt kinh tế nhưng vẫn để các nước khác đặt ống dẫn dầu, dây cáp ngầm và tàu thuyền, máy bay của nước ngoài vẫn đi lại theo Công ước quốc tế
về đi lại
Thềm lục địa: độ sâu 200m hoặc hơn nữa Là phần ngầm dưới đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển thuộc phần lục địa kéo dài mở rộng ra ngoài lãnh hải cho đến bờ ngoài của lục địa Nhà nước ta có toàn quyền thăm dò, khai thác, bảo vệ, quản lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam
- Vùng lãnh thổ quốc gia đặc biệt là loại lãnh thổ đặc thù của một quốc gia tồn tại hợp pháp trong lãnh thổ một quốc gia khác hoặc trên vùng biển, vùng trời quốc tế Ví dụ: Trụ sở làm việc và nơi ở của các cơ quan đại diện ngoại giao
- Chủ quyền quốc gia là quyền làm chủ một cách độc lập, toàn vẹn và đầy đủ trên mọi mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp của 1 quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó Quốc gia thể hiện chủ quyền của mình trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao
Trang 8- Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là một bộ phận của chủ quyền quốc gia, khẳng định quyền làm chủ của quốc gia đó trên lãnh thổ của mình Chủ quyền quốc gia
là tuyệt đối, bất khả xâm phạm Tôn trọng chủ quyền lãnh thổ quốc gia là nguyên tắc cơ bản trong quan hệ và luật pháp quốc tế Mỗi quốc gia đều có quyền định đoạt công việc nội bộ trong lãnh thổ của mình, tuyệt đối không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác
Trang 91.2: Nội dung xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam
Công tác xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển đảo quốc gia là một bộ phận của công tác xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, nó là một yêu cầu tất yếu, một nhiệm vụ quan trọng góp phần bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam có một diện tích lớn, bờ biển kéo dài với nguồn tài nguyên phong phú, đặc biệt còn nằm gần với những tuyến đường hàng hải quốc tế quan trọng Thuận lợi cho việc phát triển giao thông đường biển, giao lưu kinh tế, văn hóa trong khu vực cũng như trên thế giới Chính
vì có tầm quan trọng chiến lược như vậy nên khu vực biển Đông luôn là điểm nóng tranh giành quyền lực và sức ảnh hưởng Việc xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển đảo của chúng ta là vô cùng quan trong, nội dung ấy bao gồm:
- Quản lý chặt chẽ, bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia, dân tộc trên biển Cần có một cơ sở pháp lý chặt chẽ, vững chắc để bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam, dựa trên các Công ước Luật biển quốc tế
- Bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội và văn hóa trên biển đảo Xây dựng đời sống nhân dân trên các đảo và quần đảo ngày càng đầy đủ, ấm no “Trong ấm, ngoài êm” là điều mà nhân dân ta đã đúc kết qua hàng ngàn năm phát triển, nhân dân đoàn kết thì biên giới hải đảo mới vững chắc Nâng cao cảnh giác toàn dân trước tình hình biến đổi khôn lường của thế giới, kiên quyết đấu tranh không để mất dù một sải biển hay một tấc đảo
- Bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ Xã hội chủ nghĩa, bảo vệ
sự nghiệp đổi mới trên hướng biển Các lực lượng hoạt động trên biển,
Trang 10nòng cốt là Hải quân thường xuyên chăm lo xây dựng các tổ chức Đảng, tổ chức chỉ huy, lấy nhân tố con người là quyết định, vũ khí trang
bị là quan trọng; đồng thời duy trì sẵn sàng chiến đấu, nắm chắc tình hình trên các vùng biển, nhất là vùng biển trọng điểm, nhạy cảm, không
để bị động, bất ngờ
1.3: Nội dung xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Quốc gia
Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia là một trong những nhiệm
vụ tất yếu, quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Chúng ta thực hiện tổng thể các biện pháp, giải pháp trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, đối ngoại,…nhằm đảm bảo an ninh và giữ vững chủ quyền làm chủ độc lâp, trọn vẹn về đầy đủ mọi mặt trong lãnh thổ quốc gia Nội dung của việc xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ bao gồm:
- Xây dựng, phát triển mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, đối ngoại và quốc phòng, an ninh của đất nước
- Xác lập và bảo vệ quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp của Việt Nam trên mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong phạm vi lãnh thổ của mình
- Bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bao gồm vùng đất, vùng trời, nội thuỷ, lãnh hải và lãnh thổ đặc biệt của Việt Nam; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu
và hành động phá hoại, vi phạm chủ quyền, xâm, phạm lãnh thổ của Việt Nam
- Bảo vệ sự thống nhất lãnh thổ của đất nước, thống nhất về quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam Đấu tranh làm thất bại mọi hành động chia cắt lãnh thổ Việt Nam; mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch cả bên trong lẫn bên ngoài hòng phá hoại quyền lực tối cao của Việt Nam
Trang 112 Thực trạng về việc xây dựng và bảo vệ chủ quyền Quốc gia, biển và hải đảo từ cuối thế kỉ XX- nay
Thực trạng về xây dựng và bảo vệ chủ quyền quốc gia, biển và hải đảo của nước ta được thể hiện qua các hành động thống nhất, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Đó là các Nghị quyết, Nghị định, các văn bản Luật và các phát ngôn, chỉ đạo từ các cấp Trung ương đến Địa phương Tất cả đều cho thấy quyết tâm bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ, biển đảo của Quốc gia, dân tộc; ý chí giữ gìn trọn vẹn non sông gấm vóc, rừng vàng biển bạc tự ngàn đời cha ông ta dày công xây dựng, vun đắp mà nên
2.1: Chủ trương của Đảng và Nhà nước về chủ quyền biển đảo
Mở đầu bằng việc ngày 23-6-1994, tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khóa IX) đã thông qua Nghị quyết về việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, trong đó có những điểm chính:
- Bằng việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm
1982, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển
- Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và chủ trương giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các bất đồng khác liên quan đến biển Đông thông qua thương lượng hòa bình trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, tôn trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế về thềm lục địa; trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để
Trang 12tìm giải pháp cơ bản và lâu dài, các bên liên quan cần duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên trạng không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực Quốc hội nhấn mạnh cần phân biệt vấn đề giải quyết tranh chấp về quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa với vấn đề bảo vệ các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam căn cứ vào những nguyên tắc và những tiêu chuẩn của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982
Trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực hiện nay, việc quán triệt và tổ chức thực hiện tốt chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về giữ gìn hòa bình để phát triển kinh tế, đưa đất nước ra khỏi trình trạng kém phát triển, cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030, đồng thời bảo đảm an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Theo tinh thần chỉ đạo nói trên, liên tục trong nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã cố gắng, triển khai một khối lượng lớn công việc nhằm tạo dựng và duy trì môi trường hòa bình, ổn định, phát triển kinh tế đất nước, bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển Đối với các vùng biển thực sự có chồng lấn giữa nước ta và các nước, các bên liên quan có thể bàn bạc, trao đổi để hợp tác cùng phát triển
Cùng với việc giải quyết một cách căn bản các tranh chấp về biên giới lãnh thổ trên bộ, tiến tới xây dựng đường biên giới trên bộ hòa bình, hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng Trung Quốc, Lào, Camphuchia, Việt Nam đã đàm phán
đi đến ký Hiệp định về Vùng nước lịch sử với Camphuchia (1982); thỏa thuận khai thác chung với Malayxia (1992); Hiệp định phân ranh giới biển với Thái Lan
Trang 13Nam đang đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc bộ với Trung Quốc; phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với Malayxia; phân định vùng đặc quyền kinh tế với Indonexia; phân định vùng biển với Campuchia; phân định vùng chồng lấn thềm lục địa ba nước Việt Nam, Thái Lan, Malayxia; phân định vùng chồng lấn thềm lục địa với Brunây Việt Nam cũng đang kiên trì đàm phán để bảo vệ Vùng thông báo bay (FIR - vùng trời); xác định vùng trách nhiệm tiếp nhận thông tin cứu nạn hàng hải (VNMCC); vùng tìm kiếm cứu nạn (theo quy định của Công ước SAR 79 - vùng biển); xác định ranh giới thềm lục địa vượt quá 200 hải lý theo yêu cầu của Liên hợp quốc Năm 2005, cơ quan dầu khí quốc gia ba nước Việt Nam, Trung Quốc, Philippin đã ký kết và triển khai thỏa thuận thăm dò địa chấn biển chung tại khu vực thỏa thuận trên Biển Đông; năm 2010, chúng ta hoàn thành công tác phân giới, cắm mốc trên đất liền giữa Việt Nam -Trung Quốc Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, hai nước đã xác định đường biên giới rõ ràng trên đất liền với hệ thống cột mốc hiện đại, mở ra một trang mới trong lịch sử quan hệ giữa Việt Nam - Trung Quốc Ngoài ra, chúng ta thực hiện các cơ chế đối thoại và hợp tác về chính trị - an ninh khu vực, nhất là Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) tiếp tục hoạt động mạnh mẽ và được bổ sung với việc lập một số
cơ chế mới như Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng với các đối tác quan trọng (ADMM +), Hội nghị những người đứng đầu các cơ quan an ninh ASEAN (MACOSA) và Diễn đàn Biển ASEAN (AMF)…
Tuy nhiên, từ đầu năm 2007 đến nay, tình hình Biển Đông diễn biến theo chiều hướng phức tạp, Trung Quốc liên tiếp có các hoạt động vi phạm chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông Trung Quốc đã phản đối, tìm cách ngăn cản các công
ty dầu khí nước ngoài đang hợp tác thăm dò, khai thác dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam với nhiều phương thức khác nhau, vừa lôi kéo vừa gia tăng sức ép, phản đối ngoại giao, buộc các nước, các đối tác phải dừng, phải hủy bỏ các hợp đồng nghiên cứu, khai thác dầu khí với Việt Nam, kể cả việc sử dụng tàu và máy