Để đạt thành tựu phát triển kinh tế đáng kinh ngạc ngày hôm nay, người phải trải qua nhiều trình gian khổ Từ việc thay đổi phong tục tập quán từ săn bắt hái lượm sang hoạt động sản xuất nông nghiệp, từ sử dụng công cụ lao động thô sơ sang sử dụng máy móc, cơng nghệ, kĩ thuật đại, tiên tiến vượt bậc Có thành tựu q trình sản xuất, lao dộng, nghiên cứu nhiều người Cũng điều điểm then chốt để phân biệt người với loài vật Với nhu cầu người, mong muốn thoả mãn vấn đề ăn, uống, ở, mặc thứ khác sản xuất vật chất hành vi nhằm thoả mãn nhu cầu Chúng ta khơng thể sống, học tập làm việc trước hết không thoả mãn nhu cầu Trong q trình sản xuất vật chất để thoả mãn nhu cầu cá nhân, không ngừng làm biến đổi tự nhiên, biến đổi xã hội biến đổi thân chúng ta, làm cho sản xuất vật chất ngày phát triển Nhưng để có đạt thành tựu tại, áp dụng bừa bãi cách thức sản xuất điều khơng thể, cần có hệ thống sở lí luận sản xuất vật chất phương thức sản xuất có tảng để đẩy sản xuất ngày lên Chính lí đó, tiểu luận chúng em làm rõ vấn đề Lí luận chủ nghĩa vật lịch sử vai trò sản xuất vật chất phương thức sản xuất, từ đem sở lí luận liên hệ với thực tiễn đời sống ngày Tuy phận nhỏ Triết học Mác – Lênin hi vọng tiểu luận giúp ích trình tìm hiểu, ngun cứu mơn Triết học Mac - Lenin Trong q trình nghiên cứu cịn vấn đề phức tạp nên khơng tránh khỏi sai sót Mong góp ý thầy bạn để tiểu luận nhóm hồn thiện
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Tiểu luận cuối kỳ
(Môn học: Triết học Mac-Lenin)
TÊN ĐỀ TÀI :
LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ VỀ VAI TRÒ CỦA SẢN XUẤT VẬT CHẤT VÀ PHƯƠNG PHÁP
SẢN XUẤT.LIÊN HỆ THỰC TIỄN
BUỔI : Sáng thứ 6 TIẾT : 1-3 NHÓM THỰC HIỆN : 01
GVDH: Trần Ngọc Chung HỌC KỲ: II – NĂM HỌC: 2019 - 2020
TP.HỒ CHÍ MINH – tháng 7 năm 2020
Trang 2Họ tên sinh viên thực hiện đề tài:
1 Nguyễn Xuân Trường (NT) MSSV: 19145054 STT 92
SĐT 0328949363 2 Lê Bá Duy MSSV: 19145044 STT 19 3 Đặng Lê Nguyên Vũ MSSV: 19145337 STT 98 4 Nguyễn Minh Tuấn MSSV: 19145334 STT 94 5 Nguyễn Quang Sự MSSV: 19145301 STT 76 6 Võ Ngọc Tân MSSV: 19145058 STT 81 Giảng viên hướng dẫn: Trần Ngọc Chung ĐIỂM: NHẬN XÉT CỦA GV:………
………
………
………
………
GV ký tên
Trang 3Mục lục
Phần Mở đầu 4
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT CƠ BẢN: 5
1.1 Khái niệm chủ nghĩa duy vật lịch sử: 5
1.2 Đối tượng nghiên cứu:……… ……… ……….5
1.3 Nội dung cơ bản:……….……6
CHƯƠNG 2: VÀI TRÒ CỦA SẢN XUẤT VÀ PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT……….….7
2.1 Sản xuất vật chất và phương thức sản xuất:……… …… 7
2.1.1 Khái niệm cơ bản:……… 7
2.1.2 Vai trò đối với sự phát triển và tồn tại của xã hội:……….8
2.1.3 Thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam:……….…10
2.2 Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuât:…….11
2.2.1 Một số khái niệm cơ bản về quan hệ sản xuất: ……… 11
2.2.2.1 Khái niệm về phương thức sản xuất: ……… 11
2.2.2.2 Khái niệm về lực lượng sản xuât: ……… 11
2.2.2.3 Khái niệm về quan hệ sản xuât: ………13
2.2.2 Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: ……….14
CHƯƠNG 3: LIÊN HỆ THỰC TIỄN ……… ……… 16
3.1 Tầm quan trọng của chủ nghĩa Mác-lenin đối vớ nhân loại:……… 16
3.2 Ý nghĩa và tầm quan trọng của chủ nghĩa Mác-lenin đối với Việt Nam:……… 17
3.3 Sản xuất vật chất còn là cơ sở cho sự tiến bộ xã hội:……… 18
KẾT LUẬN.………… ……….19
Trang 4Phần Mở đầu
1 Đặt vấn đề:
Để đạt được những thành tựu về phát triển kinh tế đáng kinh ngạc như ngày hôm nay, con người chúng ta đã phải trải qua nhiều quá trình gian khổ Từ việc thay đổi phong tục tập quán từ săn bắt hái lượm sang hoạt động sản xuất nông nghiệp, từ sử dụng công cụ lao động thô sơ sang sử dụng máy móc, công nghệ, kĩ thuật hiện đại, tiên tiến vượt bậc Có được những thành tựu đó là cả quá trình sản xuất, lao dộng, nghiên cứu của rất nhiều người Cũng chính điều này là một trong những điểm then chốt để phân biệt con người chúng ta với các loài vật
Với nhu cầu của một con người, chúng ta mong muốn thoả mãn những vấn đề như ăn, uống,
ở, mặc và những thứ khác vì vậy sản xuất vật chất là một trong những hành vi nhằm thoả mãn các nhu cầu đó Chúng ta không thể sống, học tập và làm việc nếu trước hết không thoả mãn các nhu cầu cơ bản đó Trong quá trình sản xuất vật chất để thoả mãn chính nhu cầu cá nhân, chúng ta đã không ngừng làm biến đổi tự nhiên, biến đổi xã hội và biến đổi các chính bản thân chúng ta, làm cho sản xuất vật chất ngày càng phát triển
Nhưng để có đạt được những thành tựu như hiện tại, chỉ áp dụng bừa bãi những cách thức sản xuất thì đó là điều không thể, chúng ta cần có hệ thống cơ sở lí luận về sản xuất vật chất cũng như là phương thức sản xuất thì mới có nền tảng để đẩy nền sản xuất càng ngày càng
đi lên Chính vì lí do đó, tiểu luận của chúng em sẽ làm rõ về vấn đề Lí luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử về vai trò của sản xuất vật chất và phương thức sản xuất, từ đó đem những
cơ sở lí luận này liên hệ với thực tiễn đời sống của chúng ta ngày nay Tuy đây chỉ là một
bộ phận nhỏ của Triết học Mác – Lênin nhưng hi vọng bài tiểu luận sẽ giúp ích trong quá trình tìm hiểu, nguyên cứu bộ môn Triết học Mac - Lenin
Trong quá trình nghiên cứu vẫn còn những vấn đề phức tạp nên không tránh khỏi sai sót Mong sự góp ý của thầy cô và các bạn để bài tiểu luận của nhóm hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!
2 Mục tiêu:
Trang 5+ Đưa ra được những thông tin sơ lược về Lí luận chủ nghĩa duy vật lịch sử
+ Chỉ ra được đối tượng nghiên cứu cũng như những nội dung chính cần được làm rõ trong bài tiểu luận
+ Nêu ra vai trò của sản xuất vật chất
+ Chỉ rõ quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
+ Áp dụng kiến thức của Lí luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử về vai trò của sản xuất vật chất và phương thức sản xuất từ đó vận dụng vào thực tiễn đời sống
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT CƠ BẢN 1.1 Khái niệm chủ nghĩa duy vật lịch sử:
Chủ nghĩa duy vật lịch sử là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về xã hội của triết học
Mác-Lênin, là kết quả của sự vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật vào việc nghiên cứu đời sống xã hội và lịch sử nhân loại Chủ nghĩa duy vật lịch sử lý giải sự tiến hóa của xã hội loài người bằng sự phát triển của trình độ sản xuất Trình độ sản xuất thay đổi khiến quan hệ sản xuất cũng thay đổi dẫn đến những mối quan hệ xã hội thích ứng với những quan hệ sản xuất đó cùng với những tư tưởng nảy sinh ra từ những quan hệ xã hội đó cũng thay đổi kéo theo sự thay đổi hệ thống pháp lý và chính trị
1.2 Đối tượng nghiên cứu:
Chủ nghĩa duy vật lịch sử không nghiên cứu những mặt riêng biệt của sinh hoạt xã hội, mà nghiên cứu toàn bộ xã hội như một thể thống nhất với tất cả các mặt, các quan hệ xã hội, các quá trình có liên hệ nội tại và tác động lẫn nhau của xã hội; nghiên cứu những quy luật chung nhất phổ biến nhất của sự phát triển xã hội
Chủ nghĩa duy vật lịch sử nghiên cứu xã hội với tư cách là một chỉnh thể thống nhất để vạch ra những nét chung của sự phát triển xã hội, những động lực, những nguyên nhân cơ bản của sự chuyển biến từ một hình thái kinh tế – xã hội này sang một hình thái kinh tế –
Trang 6xã hội khác, mối liên hệ qua lại và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những hiện tượng khác nhau của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, tư tưởng v.v…
Chủ nghĩa duy vật lịch sử vạch ra những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển
xã hội, chỉ ra vị trí và vai trò của mỗi mặt của đời sống xã hội, trong hệ thống xã hội nói chung, vạch ra những nét cơ bản của các giai đoạn phát triển của xã hội loài người
1.3 Nội dung cơ bản:
Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội
Cốt lõi của chủ nghĩa duy vật lịch sử là học thuyết hình thái kinh tế – xã hội, theo đó, trong các quan hệ xã hội, các quan hệ sản xuất là cơ sở hiện thực của mỗi xã hội nhất định, cấu trúc hạ tầng, trên đó xây dựng lên kiến trúc thượng tầng: chính trị, pháp luật và các hình thái ý thức xã hội khác, với những thiết chế của chúng Mỗi hệ thống quan hệ sản xuất của một xã hội nhất định, phụ thuộc vào tính chất và trình độ phát triển của các lực lượng sản xuất
Các lực lượng sản xuất luôn luôn phát triển không ngừng, đến một giai đoạn nhất định sẽ mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất cũ đã lỗi thời và đòi hỏi phải thay đổi các quan hệ sản xuất ấy bằng những quan hệ sản xuất mới, tiến bộ hơn Trong xã hội có giai cấp, sự thay đổi ấy được thực hiện bằng cách mạng xã hội
Một khi cơ sở hạ tầng đã thay đổi, thì toàn bộ cấu trúc thượng tầng sớm muộn cũng thay đổi theo Hình thái kinh tế – xã hội cũ được thay thế bằng một hình thái kinh tế – xã hội mới tiến bộ hơn Như vậy, lịch sử loài người là lịch sử thay thế của những hình thái kinh tế – xã hội khác nhau
Chủ nghĩa duy vật lịch sử nhằm phát hiện ra những quy luật chung nhất của sự vận động phát triển của lịch sử, là nguyên nhân dẫn đến sự thay thế các hình thái kinh tế – xã hội thấp đến trình độ cao hơn, vận động theo hình xoáy ốc và đỉnh cao của nó là xã hội cộng sản chủ nghĩa, một xã hội công bằng, tiến bộ, văn minh
Trang 7CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA SẢN XUẤT VÀ PHƯƠNG
THỨC SẢN XUẤT
2.1.1 Khái niệm cơ bản:
Sản xuất là một loại hình hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người, bao gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con nguời Ba quá trình đó gắn
bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội Theo Ph.Ăngghen, "Điểm khác biệt căn bản giữa xã hội loài người với xã hội loài vật là ở chỗ: loài vật may lắm chỉ hái lượm trong khi con người lại sản xuất" Như vậy, sản xuất vật chất là một trong những loại hoạt động đặc trưng của con người – đó cũng chính là một loại hình hoạt động thực tiễn với mục đích cải biến các đối tượng của giới tự nhiên theo nhu cầu tồn tại, phát triển của con người và xã hội Với nghĩa như vậy, sản xuất vật chất là một loại hoạt động có tính khách quan, tính xã hội, tính lịch
sử và tính sáng tạo
Bất cứ một quá trình sản xuất vật chất nào cũng được tiến hành với mục đích nhất định và được tiến hành theo những cách thức xác định Cách thức tiến hành đó chính là phương thức sản xuất Vậy, khái niệm phương thức sản xuất dùng để chỉ những cách thức mà con người sử dụng để tiến hành quá trình sản xuất của xã hội ở những giai đoạn lịch sử nhất định
Mỗi xã hội ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định đều có phương thức sản xuất của nó với những đặc điểm riêng Phương thức sản xuất của xã hội nguyên thủy có đặc trưng là cách thức kỷ thuật đánh bắt tự nhiên ở trình độ hết sức thô sơ, còn phương thức sản xuất trong xã hội hiện đại lại có đặc trưng ở trình độ kỹ xảo công nghiệp và công nghệ cao
Mỗi phương thức sản xuất đều có hai phương diện cơ bản là kỹ thuật và kinh tế Hai phương diện đó gắn bó chặt chẽ với nhau Phương diện kỹ thuật của phương thức sản xuất chỉ ra quá trình sản xuất được tiến hành bằng cách thức kỹ thuật, công nghệ nảo để làm biến đổi các đối tượng của quá trình sản xuất Phương diện kinh tế của phương thức sản xuất chỉ ra quá trình sản xuất được tiến hành với những cách thức tổ chức kinh tế cao Trong các xã
Trang 8hội nông nghiệp truyền thống, phương thức kỹ thuật chủ yếu của quá trình sản xuất là các công cụ kỹ thuật thủ công với quy mô nhỏ và khép kín về phương diện kinh tế Ngược lại, trong các xã hội hiện đại, quá trình sản xuất lại được tiến hành với phương thức kỹ thuật công nghiệp và tổ chức kinh tế thị trường với những quy mô ngày càng mở rộng và không ngừng phát triển theo hướng phân tách và phụ thuộc vào nhau giữa các khâu kỹ thuật và tổ chức kinh tế của quá trình sản xuất xã hội
2.1.2.Vai trò đối với sự phát triển và tồn tại của xã hội:
Theo quan điểm duy vật lịch sử, sản xuất vật chất giữ vai trò là nhân tố quyết định sự sinh tồn, phát triển của con người và xã hội: là hoạt động nền tảng làm phát sinh, phát triển những mối quan hệ xã hội của con người; nó chính là cơ sở của sự hình thành, biến đổi và phát triển của xã hội loài người
Khác với các quan điểm duy tâm về lịch sử, C.Mác đã xuất phát từ "con người hiện thực"
và đi đến kết luận rằng: "… tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người, và do đó là tiền đề của mọi lịch sử, đó là: người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể "làm ra lịch sử" Nhưng muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo
và một vài thứ khác nữa Như vậy, hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu
để thỏa mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất" Cũng vì vậy,
có thể khẳng định: con người với tư cách "người", được bắt đầu bằng tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình
Để tiến hành quá trình sản xuất vật chất – tức quá trình cải biến giới tự nhiên, con người tất yếu phải thiết lập nên những mối quan hệ nhất định với nhau, đó chính là những quan hệ sản xuất và trên cơ sở những quan hệ sản xuất này mà làm phát sinh những mối quan hệ xã hội khác: chính trị, đạo đức, pháp luật,… Theo C.Mác, "việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt vật chất trực tiếp và chính, mỗi một giai đoạn phát triền kinh tế nhất định của một dân tộc hay một thời đại tạo ra một cơ sở Từ đó mà người ta phát triển các thể chế nhà nước, các quan điểm pháp quyền, nghệ thuật và thậm chí cả những quan niệm tôn giáo của con người ta"
Trong quá trình sản xuất vật chất, con người không ngừng làm biến đổi tự nhiên, biến đổi
xã hội, đồng thời làm biến đổi bản thân mình Sản xuất vật chất không ngừng phát triển Sự
Trang 9phát triển của sản xuất vật chất quyết định sự biến đổi, phát triển các mặt của đời sống xã hội, quyết định phát triển xã hội từ thấp đến cao Như vậy, sự vận động, phát triển của toàn
bộ đời sống xã hội,suy đến cùng có nguyên nhân từ tình trạng phát triển của nên sản xuất của xã hội Do đó, để giải thích và giải quyết đủng đắn các vấn đề của đời sống xã hội thì cần phải tìm nguyên nhân cuối cùng của nó từ tình trạng phát triển của nền sản xuất vật chất của xã hội đó, mà căn bản là từ trình độ phát triển phương thức sản xuất của nó Nền sản xuất tư bản chủ nghĩa ở trình độ cao hơn nền sản xuất phong kiến chính là vì nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là nền sản suất dựa vào trình độ phát triển của phương thức sản xuất, công nghiệp và hình thức tổ chức kinh tế thị trường ngày càng hiện đại, cũng nhớ đó
mà nó có thế tạo ra năng suất lao động cao hơn rất nhiều phương thức sản xuất phong kiến với trình độ lao động căn bản là thủ công, với hình thức tổ chức kinh tế tự cấp tự túc, khép kín Chính vì vậy, có thể nói: các thời đại kinh tế khác nhau căn bản không phải ở chỗ nó sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ nó được tiến hành bằng cách nào, với công cụ gì
Với việc phát hiện ra vai trò quyết định của phương thức sản xuất đối với trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội và do đó, với trình độ phát triển của đời sống xã hội nói chung, chủ nghĩa Mác — Lênin đã phân tích sự phát triển của lịch sử nhân loại theo lịch sử thay thế và phái triển của các phương thức sản xuất Sự thay thế và phát triển của các phương thức sản xuảt phản ánh xu hướng tất yếu khách quan của quá trình phát triển xã hội loài người từ trình độ thấp đến trình độ ngày càng cao hơn: phương thức sản xuất Châu Á, cổ đại, phong kiến và tư sản hiện đại V.V Tính chất tuần tự trong quá trình thay thế và phát triển của các phương thức sản xuất cũng chính là quy luật chung trong tiến trình phát triển của lịch
sử nhân loại nhưng với mỗi cộng đồng xã hội nhất định, tùy theo điều kiện khách quan và chủ quan mà có thể có những biểu hiện đa dạng về con đường phát triển của nó: có tính chất đan xen giữa các phương thức sản xuất trong một thời kỳ phát triển hoặc có những bước nhỏ qua một hay một vài phương thức sản xuất nào đó (với tư cách là phương thức sản xuất có tính chất phổ biến, giữ vai trò chủ đạo) và tiến thẳng lên phương thức sản xuất cao hơn Đó chính là sự hiểu hiện của tính thống nhất trong tính đa dạng về con đường phát triển của mỗi cộng đồng người nhất định, tạo nên tính chất phong phú của lịch sử nhân loại Tuy nhiên, dù lịch sử của mỗi cộng đồng người có phát triển phong phú, đa dạng như thế
Trang 10nào, thậm chí có những giai đoạn phát triển phải trải qua những con đường vòng nhưng rốt cuộc lịch sử vẫn tuân theo xu hướng chung là phát triển theo chiều hướng đi lên từ phương thức sản xuất ở trình độ thấp lên trình độ cao hơn
2.1.3 Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam:
Từ Hội nghị Trung ương 1 Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 10-1930) đến Hội nghị Trung ương 9 khóa VI Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 8-1990), TKQĐ luôn được xác định là: “do được các nước XHCN giúp đỡ, nên bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN”, tức là nửa trực tiếp Đại hội II Đảng Lao động Việt Nam (tháng 02-1951) nêu rõ: TKQĐ ở Việt Nam có điểm xuất phát thấp hơn, cho nên lâu dài, khó khăn hơn Đại hội VI của Đảng (năm 1986) mở ra thời kỳ đổi mới, bắt đầu thực hiện đa dạng hóa sở hữu - một trong những nội dung quan trọng nhất của NEP, nhưng vẫn nêu TKQĐ ở nước ta là “bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”
Từ Đại hội VII của Đảng (năm 1991) đến nay, đường lối thực hiện TKQĐ được xác định
là “bỏ qua chế độ TBCN”, tức là TKQĐ gián tiếp, và được xây dựng, phát triển ngày càng hoàn thiện Hội nghị Trung ương 8 khóa VII (tháng 1-1995) khẳng định: trong điều kiện không còn sự giúp đỡ của các nước XHCN, nhưng có thể tranh thủ được nguồn lực từ hợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế; bỏ qua chế độ TBCN, nhưng kế thừa mọi thành tựu và kinh nghiệm của nhân loại, kể cả của CNTB Đại hội IX của Đảng nêu rõ, bỏ qua sự thống trị của QHSX TBCN, nhưng tiếp thu thành tựu khoa học và công nghệ trong CNTB
Hiện nay, để tiếp tục giữ vững, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn với CNXH, Việt Nam cần đẩy mạnh vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng, đường lối của V I Lênin về TKQĐ gián tiếp với một số điểm chú ý sau:
Thực tế thành công lẫn thất bại của CNXH hiện thực trên thế giới một thế kỷ qua đều chứng minh lý luận của V I Lênin về TKQĐ gián tiếp là đúng đắn Để phát triển, tiến bộ nhanh, mạnh, bền vững, mà không lặp lại những hạn chế của CNTB, các nước đang phát triển vẫn
có thể và cần phải thực hiện TKQĐ này Điều đổi mới nhận thức về TKQĐ đó là bỏ qua chính trị TBCN, mà vẫn sử dụng, khai thác kinh tế CNTB để phục vụ cho CNXH, đặc biệt
là phát triển LLSX, kinh nghiệm quản lý, trình độ khoa học - công nghệ đồng thời với vai trò của nhà nước pháp quyền XHCN sẽ điều tiết sự phát triển nhân văn hơn