Mục tiêu của nghiên cứu nhằm làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu trách nhiệm xã hội và vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng nông thôn mới; Đề xuất các cơ chế và giải pháp chính sách nâng cao trách nhiệm xã hội và vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng nông thôn mới.
Trang 1I Thông tin chung
Tên Đề tài: Nghiên cứu, đề xuất giải pháp nâng cao trách nhiệm xã hội và vai trò chủ
thể của nông dân trong xây dựng nông thôn mới
Thời gian thực hiện: 01/2013-7/2015
Cơ quan chủ trì: Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Chủ nhiệm đề tài: GS.TS Nguyễn Xuân Thắng
ĐTDĐ: Email:
1 Đặt vấn đề
Các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta từ khi Đổi mới đến nay đều thể hiện một chiến lược nhất quán đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn, coi đây là vấn đề “có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng” (Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X) Bên cạnh đó, Nghị quyết số 26-NQ/TW khoá X cũng đã vạch ra
những hạn chế, yếu kém trong thực tiễn phát triển nông nghiêp, nông thôn giai đoạn vừa qua và chỉ ra các nguyên nhân: đó là việc nhận thức về vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn bất cập so với thực tiễn; chưa hình thành một cách có hệ thống các quan điểm lý luận về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn Cũng Văn kiện này đã ghi rõ rằng “Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới (NTM) gắn
với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn
bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt”
Có thể nói rằng, quan điểm về “vai trò chủ thể” của nông dân trong toàn bộ quá trình phát triển kinh tế xã hội nông thôn, thực sự là điểm sáng có ý nghĩa quyết định trong quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng Vẫn theo tinh thần đó, văn kiện quan
trọng này của Đảng cũng yêu cầu công tác lãnh đạo và quản lý “phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực tự cường vươn lên của nông dân” và nhấn mạnh tầm quan trọng
của việc nâng cao trình độ giác ngộ và vị thế chính trị của giai cấp nông dân, tạo điều
kiện để nông dân tham gia đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn trong quá trình công nghiệp hoá đất nước
Trong bối cảnh chính sách và thực tiễn phát triển nói trên, thì vấn đề đặt ra về
mặt khoa học xã hội, là làm thế nào để tư tưởng của Đảng về “vai trò chủ thể” của giai
cấp nông dân, thực sự được quán triệt trong toàn xã hội, từ đó tạo ra sức mạnh nhận thức
Trang 2Nghiên cứu này sẽ không chỉ giúp nhận diện về thực trạng “trách nhiệm xã hội”
và vai trò của nông dân hiện nay, mà còn nêu ra các giải pháp phát huy trách nhiệm xã
hội và vai trò chủ thể của nông dân trong phát triển nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới Đây là vấn đề then chốt về phát triển và cũng là nhiệm vụ của các nghiên
cứu khoa học xã hội đương đại Như lời một nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng ta đã từng
nhấn mạnh “các nhà khoa học phải nghiên cứu làm thế nào để nhân dân lao động phát huy cao nhất quyền làm chủ tập thể Đây vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng
xã hội chủ nghĩa Xã hội học phải làm tốt nhiệm vụ này, góp phần xây dựng các chính sách xã hội nhằm phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động” (Lê Duẩn, dẫn
lại Vũ Oanh, 1984)
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Đề xuất, bổ sung hoàn thiện cơ chế chính sách và các giải pháp nâng cao trách nhiệm xã hội và vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng nông thôn mới
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu trách nhiệm xã hội và vai trò chủ
thể của nông dân trong xây dựng nông thôn mới;
- Thông qua khảo sát thực trạng, đạt được sự hiểu biết toàn diện và sâu sắc về trách nhiệm xã hội và vai trò chủ thể của nông dân hiện nay;
- Đề xuất các cơ chế và giải pháp chính sách nâng cao trách nhiệm xã hội và vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng nông thôn mới
3 Các kết quả chính của nhiệm vụ đã đạt được
3.1 Vai trò chủ thể và trách nhiệm xã hội của nông dân trong xây dựng NTM 3.1.1 Xây dựng NTM
Từ mục tiêu xây dựng NTM, cho thấy: i) Xây dựng NTM là nằm trong tiến trình phát triển nông thôn mang tính toàn diện, gồm các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị và môi trường; ii) Mục tiêu phát triển là có tính chất định tính: kinh tế hiện đại, hợp
lý theo quy hoạch; xã hội ổn định, văn hóa giàu bản sắc dân tộc; dân trí được nâng cao; môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường Xây dựng NTM là một hoạt động tham dự, hoạt động tác động của nhà nước và xã hội vào quá trình phát triển nông thôn
Bên cạnh đó, ý nghĩa của chương trình xây dựng NTM còn ở chỗ khơi dậy và khai thác hiệu quả các nguồn lực của bản thân nông thôn, đồng thời tăng năng lực của nông thôn, phá vỡ bẫy nghèo và nâng cao, cải thiện các điều kiện sống, điều kiện phát triển của nông thôn Như vậy, chương trình xây dựng NTM gồm hai mục tiêu: mục tiêu phát triển thuộc quá trình lâu dài và mục tiêu thúc đẩy, hỗ trợ sự phát triển, giải quyết
Trang 3những vấn đề ngắn hạn góp phần tạo ra những cơ sở, và để nâng cấp, cải thiện những điều kiện cho sự phát triển, nhất là, cho việc cải thiện đời sống của người dân nông thôn 3.1.2 Vai trò và trách nhiệm của nông dân trong xây dựng NTM
Vai trò và trách nhiệm của chủ thể nông dân chuyển từ lĩnh vực phát triển chung sang chương trình xây dựng NTM có hàng loạt vấn đề cần đi sâu
i) Tính chất của chương trình xây dựng NTM là nhà nước với tính cách chủ thể công tác động vào quá trình phát triển, thúc đẩy và hỗ trợ nông thôn phát triển
ii) Trước hết, trong xây dựng NTM xác lập hai loại chủ thể: chủ thể công - nhà nước, chủ thể tư nhân - là các chủ thể thuộc các lĩnh vực hoạt động kinh tế, các chủ thể
cá nhân và pháp nhân tham gia vào công cuộc xây dựng NTM Về chủ thể công, khi xem xét chủ trương và việc hình thành chương trình xây dựng NTM, đã nói về vai trò, trách nhiệm của chủ thể công trong công cuộc xây dựng NTM
iii) Các chủ thể ngoài nhà nước thực hiện chương trình là có các tổ chức xã hội, các pháp nhân dưới các hình thức khác nhau Tùy tính chất của các cá nhân, pháp nhân trong hệ thống sản xuất, kinh doanh, trong hệ thống các tổ chức chính trị xã hội mà các chủ thể ngoài nhà nước có vai trò và trách nhiệm thích ứng
iv) Chương trình xây dựng NTM, là chương trình cho vùng nông thôn cả nước, nhưng phạm vi xem xét và thi triển việc xây dựng lại được xây dựng là “các địa phương”,
“các địa bàn”, “các cộng đồng” Địa phương trong hệ thống hành chính, là kể từ tỉnh trở xuống, trên tỉnh là TW Địa phương trong chương trình xây dựng NTM là chỉ “đơn vị xã”, hay “địa bàn xã”
v) Từ việc xác định phạm vi chương trình xây dựng NTM là “địa bàn xã, thôn, hoặc cộng đồng”, những mục tiêu cụ thể của chương trình có thể chuyển thành các dự
án phát triển và các dự án xây dựng một cách cụ thể Điều này có ý nghĩa lớn đối với việc tránh cho chương trình xây dựng nông thôn hòa lẫn vào tiến trình phát triển và dừng
ở những nội dung mang tính chất chung chung, phong trào, do đó tăng tính thiết thực của chương trình xây dựng NTM
Những quy định về cơ chế, về chức trách của những chủ thể tham gia xây dựng NTM cho ta thấy: a) Xây dựng NTM ở địa bàn xã có tác động đến mọi người dân ở trong xã, không kể là nghề nghiệp gì, nông dân hay người làm thuê ở các lĩnh vực nông nghiệp v.v b) Các chủ thể tham gia vào hoạt động xây dựng NTM có hai mức độ, một
là, việc tham gia của các chủ thể có quy định chức trách và là những đại diện của dân,
Trang 4viii) Có một số nội dung và tiêu chí xây dựng NTM đòi hỏi ý thức trách nhiệm, hay trách nhiệm đạo đức của người dân Đây là những nội dung hay tiêu chí văn hóa Chẳng hạn như ý thức bảo vệ môi trường, ý thức bảo vệ các di sản văn hóa, ý thức tương thân tương ái trong cộng đồng khi trong cộng đồng xảy ra những biến cố, rủi ro, hoặc những người nghèo gặp lúc cơ nhỡ
ix) Xem xét vai trò, trách nhiệm của người dân nông thôn, hay các chủ thể của nông thôn, không chỉ giới hạn trong nền kinh tế nông hộ Nông thôn trong quá trình thị trường hóa, công nghiệp hóa và đô thị hóa thúc đẩy các chủ thể của phương thức sản xuất thị trường - công nghiệp, các doanh nghiệp, và tầng lớp trung lưu, giàu có Đây là những chủ thể đang định hình cho NTM và họ cũng chính là lực lượng quyết định đến
sự phát triển của nông thôn trong quá trình thị trường hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa Thực tế này đã được quán triệt trong tư duy lý luận của Đảng thể hiện
ở việc đặt vấn đề vai trò chủ thể của nông dân trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa
Trên cơ sở xem xét trách nhiệm xã hội và vai trò chủ thể của nông dân nhìn từ quá trình CNH, HĐH, ở phần tiếp theo đây, đề tài sẽ tập trung đi sâu nghiên cứu vai trò
chủ thể và trách nhiệm xã hội của nông dân trong xây dựng NTM nhìn từ góc độ kinh
tế và xã hội Ở góc độ kinh tế, đề tài xem xét khả năng phân giải nền sản xuất tiểu nông, xây dựng các hoạt động kinh tế dựa trên các nguyên tắc của cơ chế thị trường trong nông thôn hiện nay Cụ thể hơn, đề tài nghiên cứu thực tiễn chuyển dịch cơ cấu nghề nghiệp
từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp trong nông thôn hiện nay; cũng như nghiên cứu các hoạt động kinh tế của nông dân trong nội tại ngành nông nghiệp Ở chiều cạnh xã
hội, đề tài xác định việc tìm kiếm một trách nhiệm xã hội của người nông dân trước hết
phải thông qua việc phân giải di sản tâm lý cộng đồng Từ đó, đề tài xem xét xem xét không gian xã hội của người dân nông thôn, nhằm đánh giá phạm vi mà trách nhiệm xã
hội có thể được thực thi trong bối cảnh xây dựng NTM hiện nay Trên nền không gian
xã hội đó, trách nhiệm xã hội và vai trò chủ thể của cư dân nông thôn sẽ tiếp tục được xem xét dưới góc độ tham gia xã hội của cư dân nông thôn vào các tổ chức xã hội và vào các hoạt động tại địa phương.trong vai trò chủ thể và trách nhiệm xã hội của nông dân
3.2 Trách nhiệm xã hội và vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng NTM từ góc
độ kinh tế
3.2.1 Nông dân trong chuyển dịch từ nghề nông nghiệp sang phi nông nghiệp
HGĐ nông thôn tăng lên từ 13,76 triệu hộ năm 2006 lên 15,34 triệu hộ năm 2011
Hộ gia đình làm NLTS tức các hộ nông dân, vẫn chiếm đa số trong các hộ gia đình nông thôn Kết quả khảo sát của đề tài cũng cho thấy các hộ gia đình nông dân ở các địa phương khảo sát vẫn sống dựa chủ yếu vào nghề nông/lâm/ngư nghiệp Sự hiện hữu của các nghề phi nông nghiệp còn hạn chế Nhìn chung xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành
Trang 5nghề của các hộ nông thôn trên cả nước trong thời gian qua là giảm dần nghề nông nghiệp, và tăng các nghề CN và XD và nghề DV, tuy xu hướng chuyển dịch này còn
chậm Kết quả được thể hiện ở biểu đồ 1
Biểu đồ 1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong giai đoạn 1986-2013 (%)
Nguồn: Niên giám thống kê 2005, 2013, Nguyễn Văn Bích 2007, tr 303-5 Nguồn thu nhập chính của các hộ gia đình được khảo sát trong mẫu chúng tôi cho thấy nguồn thu từ tiền công, tiền lương và các hoạt động thủ công nghiệp v.v chiếm
tỷ lệ cao Như vậy, nông nghiệp chỉ là nghề nghiệp đảm bảo sự sinh tồn cho hộ gia đình,
chứ không phải là nguồn chính giúp hộ gia đình phát triển kinh tế và đời sống gia đình
Kết quả khảo sát tại các tỉnh Nam Định, Tuyên Quang, Quảng Nam, Đồng Nai
và An Giang cho thấy nghề nông/lâm/ngư nghiệp vẫn là nghề chính Thực trạng này thể
hiện rõ nét ở hai tỉnh Tuyên Quang và Quảng Nam, với hơn 87% NTL ở hai tỉnh này cho biết nghề nông là nghề chính của hộ gia đình họ Với tỷ trọng này, số người lựa
chọn nghề thương mại/dịch vụ và các nghề khác như nghề làm thuê có tỷ trọng rất thấp Bên cạnh đó là thực trạng làm các nghề làm thuê, làm công ăn lương diễn ra ở tỉnh Đồng Nai, một tỉnh của vùng Đông Nam Bộ Ở đây có hơn 61% số NTL cho biết nghề CN&XD là nghề chính của họ, chỉ khoảng gần 20% số hộ cho biết họ vẫn sống chủ yếu
bằng nghề nông, và con số này xấp xỉ tỷ lệ hộ có sinh kế chính là thương mại/dịch vụ
Thực trạng thứ ba mang tính cân bằng hơn diễn ra ở các tỉnh Nam Định và An Giang
Ở hai tỉnh này, tỷ lệ hộ gia đình cho biết nghề nông là nghề chính chỉ khoảng 50-60% Các hộ sống với sinh kế chính là nghề khác cũng chiếm tới gần 30% ở các tỉnh này, trong khi đó tỷ lệ hộ cho biết thương mại/dịch vụ là nghề chính cũng chiếm tỷ lệ không
nhỏ Kết quả được thể hiện ở biểu đồ 2
,000
20,000
40,000
60,000
Nông, lâm nghiệp, thủy sản Công nghiệp và xây dựng Dịch vụ
Trang 6Biểu 2 Nguồn thu nhập chính phân theo địa phương (%)
Kết quả phân tích tương quan giữa tình trạng phân bố quan hệ họ hàng và khoảng thu nhập bình quân đầu người trong năm 2013 của hộ gia đình cho thấy, có sự khác biệt
giữa ba nhóm gia đình nông dân có tình trạng phân bố họ hàng khác nhau Ở mức thu
nhập bằng hoặc trên 2 triệu đồng/người/năm có tới 38,5% hộ gia đình có ít hơn một nửa
số họ hàng sống cùng xã, trong khi đó chỉ có 26,7% số hộ có nhiều hơn một nửa số họ hàng sống cùng xã và 20,8% số hộ gia đình có tất cả/hầu như tất cả họ hàng có mức thu
nhập này Phân bố của các hộ gia đình có nhiều họ hàng cùng xã tập trung nhiều hơn vào các khoảng thu nhập thấp hơn Chẳng hạn như ở từ 521,000 đồng đến 1 triệu đồng,
có tới 28,8% hộ gia đình có hầu hết các họ hàng cùng xã, và có tới 23,3% hộ gia đình
có trên một nửa số họ hàng cùng xã, trong khi số liệu này thấp hơn ở nhóm hộ có dưới
một nửa số hộ gia đình sống cùng xã (22,3%)
3.2.2 Nông dân trong nội tại ngành nông nghiệp
Để phát triển kinh tế nông nghiệp, người nông dân phải trở thành một chủ thể tích cực trong chuỗi giá trị của mặt hàng nông nghiệp họ đang sản xuất Điều đó có nghĩa là họ cần phải chủ động xây dựng mối quan hệ với các chủ thể khác nhau trong
việc cung cấp các yếu tố đầu vào (như phân bón, thuốc trừ sâu, hạt giống, cây giống, con giống v.v.) và các đơn vị thu mua và phân phối đầu ra Việc bán các mặt hàng nông
sản cho ai sau khi thu hoạch thể hiện việc tiếp cận đầu ra trong chuỗi giá trị mà hộ gia đình nông dân đang tham gia
Kết quả khảo sát cho thấy, các hộ gia đình nông dân chủ yếu sử dụng sản phẩm nông sản cho hộ mình sử dụng, chiếm 56,8% Tức là việc phát triển nông nghiệp vẫn
phần lớn nhằm phục vụ nhu cầu tự thân về lương thực, thực phẩm của hộ gia đình Các
hộ gia đình nông dân lựa chọn thương lái tại ngay xã của mình chiếm 54,2%, trong khi bán cho thương lái ở ngoài xã chỉ có 24,6% Khác biệt này nói lên rằng các hộ nông dân
vẫn chủ yếu tập trung, co cụm vào các quan hệ quen biết, chứ chưa vượt ra ngoài khu
vực xa lạ với các quan hệ yếu để phát triển thị trường đầu ra cho hộ Việc bán các mặt hàng nông sản tới tận tay người tiêu dùng, cho công ty NN và công ty tư nhân chỉ chiếm
tỷ lệ thấp
Nam Định
Đồng Nai
An Giang
Tuyên Quang
Quảng Nam
Nông/lâm/ngư nghiệp Thương mại/dịch vụ Nghề khác
Trang 7Việc không bán nông sản thể hiện tính chất tự cung tự cấp hay tính chất “nông nghiệp sinh tồn” của hoạt động nông nghiệp Ở tiêu chí này, có sự khác biệt rất lớn giữa các tỉnh khảo sát Người nông dân ở An Giang thể hiện sự năng động của họ trong việc chuyển hoạt động nông nghiệp thành sản xuất hàng hóa Có tới 98,7% nông hộ ở đây
trả lời họ bán các mặt hàng nông sản sau khi thu hoạch Trong khi con số này ở Đồng Nai cũng tương đối cao, 84,4% Ngược lại, Tuyên Quang và Nam Định biểu hiện mức
độ phát triển nông nghiệp thương phẩm kém khi có tới lần lượt 90,5% và 82,4% hộ cho
biết họ không bán mặt hàng sau thu hoạch, tức giữ cho gia đình sử dụng Con số này
xấp xỉ một nửa ở Quảng Nam (46%) Như vậy, có sự khác biệt giữa nông nghiệp miền
Bắc và nông nghiệp miền Nam Kết quả này tương tự với kết quả điều tra nông dân năm
2009, theo đó, gần một nửa số nông hộ ở ĐBSH giữ lại lúa thu hoạch để ăn, gần 28,2%
số hộ giữ lại thóc chủ yếu để ăn, khi cần mới bán, trong khi đó ở ĐBSCL có 23,6% hộ bán hoàn toàn, gần 70% hộ bán phần lớn, chỉ giữ lại một phần để ăn (Bùi Quang Dũng
2011, tr 19-34) Cuộc điều tra nông dân ĐBSCL năm 2012 của Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ cũng cho thấy tỷ lệ nông sản bán ra chiếm 93% sản lượng lúa, 98% sản lượng hoa màu, 98% trái cây, 99,7% cá tôm và 84% heo (Trần Hữu Quang 2015) 3.3 Trách nhiệm xã hội và vai trò chủ thể của cư dân nông thôn
3.3.1 Tham gia các hội/nhóm/tổ chức xã hội tại địa phương
Tham gia vào các hội/ nhóm/ tổ chức xã hội là một thang đo thể hiện mức độ chủ động của người nông dân trong quá trình xã hội Kết quả điều tra của chúng tôi cho thấy, trong 18 tổ chức/nhóm được khảo sát đều có sự tham gia của NTL Hội Nông dân vẫn
là tổ chức mà người nông dân tham gia đông đảo nhất với 42,1% NTL Hội Phụ nữ và Nhóm tôn giáo/ tín ngưỡng là hai hội/nhóm mà người nông dân trong mẫu khảo sát tham gia cao thứ hai (36,5%) và thứ ba (29,1%) Có trên 10% đến dưới 20% số NTL tham gia
là Hụi/ họ/ phường tiền/ vàng, Hội khuyến học và Hội người cao tuổi và các nhóm tổ
chức khác Ở mức dưới 10% có tới 12 tổ/ hội/ nhóm xã hội
Biểu 3 Tỷ lệ NTL tham gia các hội/ nhóm/ tổ chức xã hội (%)
Trang 8Nhìn từ góc độ địa vực, phân tích tương quan giữa việc tham gia các tổ chức/ đoàn thể/ phường hội với các tỉnh, khảo sát cho thấy tỉ lệ NTL tham gia vào các hoạt động hội nhóm này ở các tỉnh phía Bắc có chiều hướng cao hơn so với các tỉnh phía Nam, kể cả các tổ chức chính thức (những tổ chức có pháp nhân, thường hoạt động theo ngành dọc như các Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao
tuổi, v.v.) và tổ chức phi chính thức (không có pháp nhân, hoạt động trong phạm vi cộng đồng, như Hội đồng niên, Hội đồng ngũ, Phường tiền, v.v.) Trong năm tỉnh được khảo sát, Nam Định là tỉnh có tỷ lệ NTL tham gia vào nhiều tổ chức hội, đoàn thể nhất Số người là thành viên của 4-5 hội/ nhóm/ tổ chức xã hội khác nhau lên tới gần 50% Trong khi đó, ở bốn tỉnh còn lại, số lượng các hội mà NTL tham gia phổ biến ở mức 1-2 tổ
chức Còn mỗi NTL ở Tuyên Quang tham gia khoảng 2,1 tổ chức Trong khi con số này
ở An Giang là 1,6 tổ chức, ở Quảng Nam là 1,3 tổ chức, còn ở Đồng Nai, trung bình
mỗi NTL tham gia vào 1 tổ chức/ hội/ nhóm
Có thể thấy rằng việc tham gia các hoạt động hội nhóm được các nhóm cư dân gán cho những ý nghĩa rất khác nhau Cư dân phía Bắc gắn việc tham gia các hoạt động
hội nhóm với việc đáp ứng những nhu cầu tinh thần nội tại của nhóm nhỏ (thăm hỏi, chia sẻ tình cảm, v.v.) và nhu cầu cá nhân (được va chạm xã hội, có danh tiếng, được vị
nể, v.v.) Trong khi đó, nhóm các cư dân phía Nam có lại có xu hướng thiết lập các hình
thức trao đổi hợp tác trong sản xuất phù hợp với các nguyên tắc thị trường, hướng tới
những mục tiêu làm giàu cho hội viên của mình
Như vậy, để tăng cường trách nhiệm xã hội ở cư dân nông thôn, cần có cơ chế khuyến khích các hình thức mở rộng hoạt động xã hội và các sinh hoạt đoàn thể trong
cư dân nông thôn, khuyến khích nông dân xây dựng và đóng vai trò chủ thể trong các
0,4 0,8 2,1 2,9 4,7 5,8 6 6,7 7,7 8,5 9,2 9,5 10,9 12,4 14,7 19,5
29,1
36,5 42,1
CLB thơ Hội/CLB Sinh vật cảnhĐoàn thanh niên Nhóm/CLB dân sốHội đồng hương Hội lính/đồng ngũHội đồng niên Công đoàn Hội Cựu chiến binh Thể thao, sức khỏe, dưỡng sinhHội đồng học
CLB cùng nghềHội NCT Hội Khuyến học Hụi/họ/phường tiền/vàngTổ chức khác
Nhóm tôn giáo/tín ngưỡngHội Phụ nữ
Hội Nông dân
Trang 9quan hệ xã hội của họ Tuy nhiên, nhìn từ góc độ chính sách hiện nay, về cơ bản, Nhà nước coi các tổ chức xã hội như là cơ quan tuyên truyền chủ trương, chính sách, là cầu
nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Các tổ chức này hoạt động với mục tiêu đoàn kết
và huy động sự tham gia của nhân dân, tổ chức tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận
thức của nhân dân Bên cạnh vai trò tuyên truyền, vận động nhân dân, các tổ chức này cũng được Nhà nước khuyến khích thành lập nhằm mục đích giúp đỡ lẫn nhau và huy động mọi nguồn tài chính từ các tầng lớp nhân dân
3.3.2 Tham gia các hoạt động xã hội
Nhìn chung, những người có trình độ học vấn cao thì có xu hướng tham gia các
hoạt động vì cộng đồng, trong khi những người có trình độ học vấn thấp thì nghiêng về các hoạt động phục vụ nhu cầu cá nhân Bên cạnh đó, vượt ra khỏi không gian địa lí, kết
quả khảo sát cũng cho thấy tỷ lệ tham gia các hoạt động cộng đồng phụ thuộc vào điều
kiện kinh tế của hộ, những hộ gia đình có điều kiện kinh tế hơn thì tỷ lệ tham gia các
hoạt động cộng đồng cao hơn
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của chính quyền và các tổ chức, đoàn thể tại địa phương trong việc khởi xướng, tổ chức các hoạt động quyên góp, ủng hộ từ thiện trong nhân dân Có tới 82,8% NTL cho biết họ đóng góp cho các
hoạt động từ thiện là do được chính quyền và các đoàn thể huy động Tỷ lệ NTL đóng góp định kì, thường xuyên cho các hoạt động từ thiện hầu như không đáng kể, chỉ chiếm chưa đầy 3% Sự kiện này, một mặt thể hiện sự hợp tác của người dân trong các hoạt động của địa phương; mặt khác cũng cho thấy người dân nông thôn đang thể hiện trách nhiệm xã hội một cách có điều kiện Trách nhiệm xã hội sẽ chỉ được thực hành khi có người dẫn dắt và mang tính vụ việc, chưa trở thành một nhu cầu tự thân và hoạt động thường xuyên của cư dân nông thôn
Dù có những khác biệt trong tham gia vào các hoạt động vì mục đích cộng đồng hay vì nhu cầu cá nhân, hầu hết NTL đều cho biết những hoạt động xã hội mà họ tham gia đem lại những lợi ích nhất định đối với họ Chỉ có 2,5% NTL cho biết việc tham gia các hoạt động này không mang lại lợi ích gì cho họ Khoảng một nửa số NTL cho rằng
việc tham gia hoạt động xã hội như thế mang lại lợi ích cho địa phương/xã hội Thông qua các hoạt động này họ có thể đóng góp cho cộng đồng mà họ đang sinh sống hoặc cho đời sống xã hội nói chung Nhờ tham gia các hoạt động này họ cảm thấy gắn bó hơn với cộng đồng địa phương Nam Định và Quảng Nam là những địa phương có tỷ lệ ghi nhận tích cực về lợi ích của việc tham gia các hoạt động xã hội hơn cả
Trang 10công khai và xin ý kiến đóng góp của nhân dân, bao gồm: i) xây dựng cơ sở hạ tầng cơ
bản; ii) kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của xã năm 2014; iii) xây dựng và thực hiện hương ước/ quy ước thôn/ ấp; iv) Bảo vệ an ninh trật tự; và v) Chương trình vay vốn xóa đói giảm nghèo
Bảng 1 Tỷ lệ NTL tham gia, đóng góp ý kiến vào các hoạt động tại địa phương (%) Tham gia các hoạt động của địa phương Tỷ lệ
tham gia (%)
Đóng góp ý kiến (%)
Không đóng góp ý kiến (%)
2 Xây dựng và thực hiện hương ước/qui ước thôn/ấp 71,0 44,2 17,5
5 Kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của xã 39,7 62,4 35,1 Khoảng hơn 2/3 số NTL cho biết họ đã từng tham gia họp trao đổi về xây dựng
hạ tầng cơ bản (89,3%), xây dựng và thực hiện hương ước/ quy ước thôn/ ấp (71,0%)
và họp bàn về bảo vệ an ninh trật tự (65,3%) Dù phần lớn NTL cho biết có tham gia
họp bàn về những hoạt động của địa phương như trên, chỉ có chưa đầy một nửa số người tham gia các cuộc họp bàn này có ý kiến đóng góp cho các hoạt động cụ thể trên địa bàn
xã Đối với những hoạt động liên quan đến việc tổ chức thực hiện hoặc đóng góp, đa số NTL cho biết họ đều tham gia thực hiện và/hoặc đóng góp cho các hoạt động này Đánh giá về vai trò của mình trong các hoạt động tại địa phương, hơn một nửa NTL khẳng định rằng so với năm năm trước, hiện nay người dân được bàn bạc và hỏi ý
kiến nhiều hơn đối với các hoạt động liên quan đến đời sống của họ Cũng có tới gần
một nửa số NTL cho rằng phần lớn các quyết định quan trọng của Đảng ủy, Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân xã về đời sống của người dân hiện nay chủ yếu phản ánh ý
kiến của đa số nhân dân (hơn 1/5 NTL cho rằng nó phản ánh ý kiến của lãnh đạo xã và
một số đại diện của dân) Tỷ lệ gần như tuyệt đối NTL có đánh giá tích cực đối với các
cuộc họp ở thôn/ ấp Thông qua các cuộc họp như thế, họ nắm được thông tin đời sống
của thôn, xã (92,5%); họ biết được các trách nhiệm của hộ gia đình với cộng đồng (41,6%); họ nắm được các đường lối, chính sách của nhà nước (36,4%); và thậm chí họ
có thể biết được hoạt động của bộ máy chính quyền (17,8%) Người dân tại các tỉnh
khảo sát cũng thể hiện sự hợp tác trong các hoạt động của địa phương Chẳng hạn, đại
đa số NTL đóng góp cho các hoạt động từ thiện khi được chính quyền, tổ chức và đoàn
thể huy động đóng góp
Đối chiếu với các tiêu chí xác định vai trò chủ thể của người nông dân trong xây
dựng NTM giai đoạn hiện nay, có thể thấy rằng người dân nông thôn hiện nay đã có ý