Nghiên cứu đề xuất cơ chế chính sách huy động nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật (KHKT) tham gia chuyển giao khoa học công nghệ (KHCN) trong xây dựng nông thôn mới (NTM) chính là nhằm góp phần thực hiện mục tiêu “xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ”; góp phần hoàn thành mục tiêu xây dựng nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia về NTM trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trang 1Thông tin chung
Tên Đề tài: Nghiên cứu đề xuất cơ chế chính sách huy động đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật tham gia chuyển giao khoa học công nghệ trong xây dựng nông thôn mới
Thời gian thực hiện: 2015-2016
Cơ quan chủ trì: Viện Nghiên cứu và Hỗ trợ phát triển
Chủ nhiệm đề tài: TS Hà Hữu Nga
ĐTDĐ: Email:
TÓM TẮT Nghiên cứu đề xuất cơ chế chính sách huy động nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật (KHKT) tham gia chuyển giao khoa học công nghệ (KHCN) trong xây dựng nông thôn mới (NTM) chính là nhằm góp phần thực hiện mục tiêu “xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ”; góp phần hoàn thành mục tiêu xây dựng nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia về NTM trong
ngũ cán bộ KHKT tham gia chuyển giao KHCN trong xây dựng nông thôn mới ở các địa bàn khác nhau, kể cả các địa bàn khó khăn, biên giới, hải đảo; Đề xuất được các cơ
Chương trình NTM; iv) Có cơ sở lý luận vững chắc; v) Có cơ sở thực tiễn đầy đủ, sinh động và cập nhật dựa trên các kinh nghiệm phong phú trong nước và nước ngoài; vi) Kế
Trang 2việc cung cấp các nguồn lực và nguồn nhân lực cho việc huy động đội ngũ KHKT vẫn
chính sách huy động nguồn nhân lực KHKT; giúp làm tăng thêm năng lực, hiệu quả
mà Đảng, Nhà nước và nhân dân luôn kỳ vọng ở nền KHCN và nguồn nhân lực KHKT nước nhà
1 Đặt vấn đề
Việc nghiên cứu đề xuất cơ chế chính sách huy động nguồn nhân lực khoa học
kỹ thuật (KHKT) tham gia chuyển giao khoa học công nghệ (KHCN) trong xây dựng nông thôn mới (NTM) chính là nhằm góp phần thực hiện mục tiêu “xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ”; góp phần hoàn thành mục tiêu cụ thể đến năm 2020 cả nước có 50% số xã đạt chuẩn theo
Bộ tiêu chí quốc gia về NTM Bộ tiêu chí chính là căn cứ để xây dựng nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia về NTM trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
là căn cứ để kiểm tra, đánh giá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt NTM
Trong số 19 tiêu chí xã NTM thì có một số tiêu chí liên quan trực tiếp đến lĩnh vực chuyển giao KHCN, và nếu thiếu nguồn nhân lực KHKT tham gia chuyển giao KHCN thì sẽ khó mà đạt được tiêu chí này Mới đây Bộ tiêu chí Quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020 có bổ sung một số nội dung và chỉ tiêu đòi hỏi phải có
sự tham gia tích cực của đội ngũ KHKT chuyển giao KHCN thì mới đạt được Đó là các tiêu chí sau: Tiêu chí số 8 về Thông tin và truyền thông; Tiêu chí số 10 về Thu nhập; Tiêu chí số 13 về Tổ chức sản xuất; Tiêu chí số 17 về Môi trường và An toàn thực phẩm Bên cạnh đó, đối với 9 tiêu chí huyện NTM, nếu không có chuyển giao KHCN thì cũng không thể đạt được Tiêu chí số 7 về Môi trường đối với huyện NTM Nhận thức rõ về tầm quan trọng của KHCN đối với việc phát triển NTM nên Chính phủ đã phê duyệt Chương trình Khoa học và Công nghệ phục vụ xây dựng NTM mà chính Đề tài này góp
phần thực hiện một trong các mục tiêu quan trọng của Chương trình là: “Nghiên cứu, đề xuất bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, giải pháp khoa học và công nghệ xây dựng nông thôn mới để áp dụng cho Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020”; và “Nghiên cứu, đề xuất bổ sung, hoàn thiện các cơ
chế, chính sách, giải pháp khoa học và công nghệ xây dựng nông thôn mới để áp dụng cho Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020”
Trang 32 Mục tiêu nghiên cứu
Góp phần nhỏ vào việc hoàn thiện các cơ sở lý luận và thực tiễn không chỉ cho việc thực
hiện Chương trình Khoa học và Công nghệ phục vụ xây dựng NTM mà còn cho cả Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM; Đề xuất cơ chế chính sách của Đề tài sẽ góp phần hoàn thiện thể chế huy động hiệu quả nguồn nhân lực KHKT tham gia chuyển giao KHCN, góp phần đạt được mục tiêu “xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao”
3 Kết quả nghiên cứu chính
3.1 Thực trạng nguồn nhân lực KHKT tham gia chuyển giao KHCN trong xây
dựng nông thôn mới
a) Thực trạng nguồn nhân lực KHCN ở Việt Nam và nguồn nhân lực KHKT tại 7 tỉnh khảo sát
Đề tài tìm hiểu thực trạng nguồn nhân lực KHKT hiện nay ở Việt Nam, và những đặc điểm của đội ngũ này qua phát hiện của nhóm nghiên cứu ở các địa phương đã tiến hành
khảo sát là các tỉnh Thái Bình, Sơn La, Lạng Sơn, Quảng Ngãi, Lâm Đồng và An Giang Các khía cạnh xem xét bao gồm: i) đặc điểm số lượng và quy mô của nguồn nhân lực KHKT; ii) đặc điểm chất lượng nguồn nhân lực KHKT; và iii) đặc điểm về cơ cấu của nguồn nhân lực KHKT
b) Đặc điểm số lượng và quy mô của nguồn nhân lực KHKT
Quy mô theo tuổi: Nhìn chung, đội ngũ khoa học công nghệ trong cả nước đang có xu hướng trẻ hóa về độ tuổi Ở các địa phương, số lượng các cán bộ KHKT làm việc trong các trung tâm khuyến nông của huyện, phòng nông nghiệp huyện và hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp có độ tuổi còn khá trẻ, tập trung vào khoảng 24 – 59 tuổi Mặc dù thực tế cho thấy đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ đang được trẻ hóa , nhưng độ tuổi trung bình của đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ ở nước ta còn khá cao Theo đó, đội ngũ cán bộ hầu hết là giáo sư, phó giáo sư đều gần 60 tuổi, số lượng GS/PGS dưới 50 tuổi
chỉ chiếm 12%
Quy mô theo giới tính: Xét về khía cạnh giới, mặc dù số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực khoa học công nghệ tăng qua các năm, nhưng vẫn tồn tại sự khác biệt giới trong hoạt động của đội ngũ này Thực tế, năm 2008, nữ giới chỉ giữ chức vụ quản lý
cấp phó vụ trưởng (chiếm 13,7%) và cấp thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ KH&CN (chiếm 18,8%) Trong khi đó, ở các tỉnh khảo sát của đề tài, tỉ lệ nữ giới trong các tổ
chức, đơn vị thực hiện về chuyển giao khoa học công nghệ cũng không nhiều Nhìn chung, tỉ lệ nữ giới đều không bằng số nam giới đang làm việc, thậm chí ở Trạm khuyến
Trang 4nông huyện Vĩnh Cửu (Đồng Nai) chỉ có ¼ người là nữ giới Thực tế này khiến chúng
ta cần phải có giải pháp để phát huy năng lực của phụ nữ tham gia trong hoạt động khoa
học công nghệ
Quy mô theo trình độ học vấn: Ở cấp địa phương, cụ thể là trong các trung tâm khuyến nông huyện và phòng nông nghiệp huyện, hầu hết các cán bộ đều tốt nghiệp trình độ từ trung cấp trở lên Rất nhiều cán bộ ở một số địa phương như Mộ Đức (Quảng Ngãi),
Tiền Hải (Thái Bình), Chợ Mới (An Giang) đã tốt nghiệp trình độ đại học, cao đẳng, và
thạc sĩ, với các bằng kỹ sư thú y, kỹ sư nông nghiệp, lâm nghiệp, kinh tế phát triển và kinh tế nông nghiệp Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ KHKT ở cấp xã còn nhiều hạn chế Có nhiều cán bộ khuyến nông làm công việc bán chuyên trách, có trình độ học vấn sơ cấp, trung cấp rồi học thêm tại chức (Quỳnh Nhai, Sơn La) Đáng chú ý, có tình trạng nhiều cán bộ KHKT tốt nghiệp đại học, cao đẳng nhưng lại không được sắp xếp đúng vị trí công việc Ở huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, có 7/8 cộng tác viên là người DTTS và
mới chỉ tốt nghiệp lớp 9 Điều này phần nào ảnh hưởng đến khả năng tiếp nhận các tiến
bộ khoa học kỹ thuật từ phía tỉnh, huyện đưa xuống và tiếp tục chuyển giao cho người nông dân
Quy mô theo dân tộc: Đến năm 2009, đội ngũ trí thức Việt Nam có khoảng 1.477.752 người có trình độ cao đẳngm đại học và sau đại học Trong số đó chỉ có 176 trí thức người DTTS có trình độ trên đại học và hơn 13.000 người có trình độ trung học chuyên nghiệp Số này chỉ chiếm 6.16% số lượng trí thức cả nước Trong số 53 dân tộc thiểu số thì số lượng trí thức có từ 1500 – 10.000 người có ở các dân tộc Tày, Mường, Hoa, Nùng
và Thái Số lượng trí thức từ 150 – 500 người là các dân tộc Khmer, Dao, Ê Đê, Sán Dìu, Sán Chay, H’mông, và Thổ Và hơn 20 dân tộc có số lượng trí thức rất ít, chỉ vài
chục người Có tới 10 dân tộc chưa hề có người tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học
c) Đặc điểm chất lượng của nguồn nhân lực KHKT
Trình độ chuyên môn: Lĩnh vực nông nghiệp đứng thứ 11 trên tổng số 20 ngành có số lượng công bố quốc tế cao trong cả nước (403 bài, chiếm 3,7%) Nếu so với các quốc gia trong khu vực Asean, Việt Nam hiện đứng thứ 4 trong các nước có tỉ lệ công bố quốc
tế cao nhất Mặc dù có thể nhận thấy sự nỗ lực cố gắng của đội ngũ cán bộ khoa học trong việc công bố các bài báo quốc tế, tuy vậy, so với các quốc gia khác trong khu vực,
số lượng các bài báo vẫn còn khá khiêm tốn Số lượng bài báo công bố của Singapo gấp khoảng 7 lần, Malaysia gấp 5 lần, Thái Lan gấp 4 lần so với Việt Nam
Bằng sáng chế và giải pháp khoa học: Trong 5 năm (2006-2010) cả nước chỉ có 200
bằng sáng chế, giải pháp hữu ích được cấp tại Cục sở hữu trí tuệ, và chỉ có 5 bằng sáng
chế đăng ký tại Mỹ Có thể thấy số lượng đơn đăng ký sáng chế của người Việt Nam
thấp hơn nhiêu so với người nước ngoài Hơn thế nữa, chất lượng đơn đăng ký sáng chế
Trang 5của người Việt Nam chưa cao nên tỷ lệ đơn được cấp bằng tính trên tổng số đơn còn
thấp, 63/583 đơn, chiếm 10,8% so với 1.325/4.450 đơn, chiếm 30% của người nước ngoài Các số liệu này cho thấy, chất lượng của đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học ở
Việt Nam còn hạn chế, thiếu nhân lực KHCN có kỹ năng và trình độ chuyên môn cao Năng lực sử dụng ngoại ngữ, tin học: Hai ngoại ngữ được nhiều cán bộ biết tới nhiều
nhất là tiếng Anh và tiếng Pháp, tuy vậy cũng chỉ có 25% số cán bộ có thể sử dụng thành
thạo tiếng Anh Về tin học, phần lớn đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ đều có khả năng sử dụng các phần mềm cơ bản, tuy nhiên vẫn còn khoảng 24,8% cán bộ khoa học không biết sử dụng và truy cập Internet Trong khi đó, đội ngũ cán bộ KHKT ở cấp địa phương, đặc biệt là cấp xã có nhiều khó khăn hơn trong việc sử dụng ngoại ngữ và tin
học Cán bộ KHKT ở cấp xã đôi khi không tiếp cận với các trang thiết bị hiện đại Năng lực chuyển giao KHCN: Kết quả cho thấy, điểm mạnh của đội ngũ cán bộ KHKT
tập trung vào việc cán bộ KHKT có hiểu biết tốt về kiến thức bản địa, bao gồm các đặc điểm về điều kiện canh tác, đất đai, khí hậu cho việc áp dụng các kỹ thuật mới (chiếm 77,5%), tiếp đến là hiểu biết về kỹ thuật mới (49,4%) và khả năng giúp đỡ nông hộ khi chuyển giao (chiếm 45,3%) Trong khi đó, điểm yếu của đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật tập trung vào việc thiếu các kinh nghiệm thực tế về chuyển giao (64,3%) và chưa
có hỗ trợ về thị trường tiêu thụ sản phẩm (77,1%) Với điểm yếu về hỗ trợ thị trường tiêu thụ sản phẩm, Thái Bình là địa phương có tỉ lệ lựa chọn thấp nhất (chiếm 24%), trong khi đó Lạng Sơn và Đồng Nai có tỉ lệ lựa chọn cao nhất, tương đương 98,5% và 95%
d) Cơ cấu và vai trò của nguồn nhân lực KHKT trong liên kết bốn nhà
Hệ thống Nhà nước từ trung ương đến địa phương: Nhà nước thường đóng vai trò là người hoạch định và ban hành các cơ chế, chính sách để thực hiện chuyển giao các tiến
bộ khoa học kỹ thuật Kết quả khảo sát của đề tài đã cho thấy các chỉ đạo của chính quyền địa phương gồm có: tổ chức các lớp tập huấn và đào tạo về kỹ thuật mới (80,6%),
vận động nông hộ tham gia chuyển giao (43%), phổ biến quy định của nhà nước về chuyển giao (22,2%), huy động các hội, đoàn thể cùng tham gia (21,9%), kêu gọi doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm (17,7%)
Nhà khoa học Các nhà KHCN ở các Viện nghiên cứu, trường đại học ít khi xuất hiện
để chuyển giao trực tiếp cho người nông dân Tuy nhiên vẫn có nhiều nhà khoa học được
mời tiến hành chuyển giao công nghệ Đó là trường hợp huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai đã
mời các nhà khoa học thuộc trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh xuống nghiên cứu tìm ra cách thức phù hợp nhất cho việc trồng cây bưởi ở địa phương này Ở
cấp địa phương, cán bộ KHKT trước hết và chủ yếu là đội ngũ khuyến nông huyện và
xã Họ phải đảm nhận nhiều công việc cùng một lúc nên khó dành trọn vẹn thời gian và công sức cho hoạt động tiếp nhận và chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật cho người nông dân Ngoài ra, kinh phí hạn chế cũng làm giảm khả năng của đội ngũ khuyến
Trang 6nông viên thực hiện các mô hình thực nghiệm hay tiến hành các nghiên cứu Ở một số địa phương có đồng bào dân tộc thiểu số như Lâm Đồng, Sơn La, Lạng Sơn, nhiểu cán
bộ khuyến nông và cộng tác viên khuyến nông gặp rất nhiều khó khăn khi đồng bào dân
tộc thiểu số không muốn áp dụng các kỹ thuật mới
Doanh nghiệp: Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp khoa học công nghệ ở Việt Nam
hiện nay thực hiện khá đa dạng trên nhiều lĩnh vực khác nhau Các sản phẩm của nông dân sau khi thu hoạch đều được bán cho thương lái, nhiều trường hợp đã bị ép giá bán, khiến nông dân rất lo lắng khi thực hiện áp dụng một kỹ thuật mới nào Đó là trường
hợp của Lạng Sơn, Sơn Là và Lâm Đồng, Quảng Ngãi Đáng chú ý là có 27% số người được hỏi cho rằng doanh nghiệp chưa có hỗ trợ gì khi nông hộ thực hiện áp dụng các
tiến bộ khoa học kỹ thuật Đồng Nai là tỉnh mà các doanh nghiệp nông sản ở đó có mức
độ hỗ trợ ít hơn so với các địa phương khác Cân nhắc đầu tiên của doanh nghiệp là yếu
tố lợi nhuận Khi cao su có giá cao trên thị trường, doanh nghiệp sẽ đầu tư phát triển cây cao su, nhưng khi cao su mất giá, doanh nghiệp cũng bỏ chạy Trong khi đó, các doanh nghiệp ở An Giang và Lâm Đồng có những biểu hiện hỗ trợ khá đồng đều trong các lĩnh
vực
Nông dân: Người nông dân và cư dân nông thôn đóng vai trò chính trong hoạt động chuyển giao KHKT ở khu vực nông thôn hiện nay Ba yếu tố được nông hộ đánh giá là quan trọng nhất để thúc đẩy họ tham gia tiếp nhận chuyển giao, theo thứ tự gồm:
vốn/kinh phí đầu tư mua công nghệ mới (44,3%), nâng cao kỹ thuật sản xuất phù hợp (33,9%), thị trường tiêu thụ sản phẩm (23,4%), tiếp theo mới đến các yếu tố như sự hỗ
trợ của cán bộ KHKT, chính quyền, các quy định của nhà nước và thủ tục chuyển giao Các phát minh và sáng kiến của chính người nông dân cũng cần được quan tâm nghiên
cứu Kết quả đã cho thấy có 259 người, chiếm 33,9% đã từng nghe đến các sáng kiến
của người nông dân tại xã của họ, trong đó có mức độ hài lòng của nông dân khi áp dụng các sáng kiến này ở mức khá cao 45,3%, trong khi đó chỉ có 6,6% số người đã áp dụng không thấy hài lòng với các sáng kiến Như vậy, bản thân người nông dân trong trường
hợp này chính là một nhóm tiềm năng trong hoạt động chuyển giao KHCN
3.2 Thực trạng cơ chế chính sách huy động nguồn nhân lực KHKT tham gia chuyển giao KHCN trong xây dựng nông thôn mới
3.2.1 Thực trạng cơ chế chính sách huy động nguồn nhân lực KHKT tại 7 tỉnh
Các chính sách cấp tỉnh bao gồm các nghị quyết, quyết định, các chương trình, nhiệm
vụ, đề án, dự án, kế hoạch nhằm đạt được mục tiêu đề ra Tại các tỉnh Thái Bình, Sơn
La, Lạng Sơn, Quảng Ngãi, Lâm Đồng, Đồng Nai, và An Giang, Đề tài đã thu thập được
một hệ thống dữ liệu, số liệu và các văn bản pháp quy liên quan đến các nguồn lực và
cơ chế chính sách được sử dụng để huy động đội ngũ cán bộ KHKT tham gia chuyển
Trang 7giao KHCN tại các địa phương Các hệ thống dữ liệu, số liệu, các văn bản được Đề tài xem xét, xử lý, phân tích, đánh giá và các kết quả cuối cùng sẽ được trình bày dưới đây: a) Nhóm cơ chế chính sách chung
Ở cấp tỉnh, nhóm cơ chế chính sách chung liên quan đến lĩnh vực chuyển giao KHCN xây dựng NTM, các tỉnh đều ban hành đầy đủ, chẳng hạn: i) Đề xuất dự án thuộc Chương trình Nông thôn – Miền núi của Thái Bình; ii) Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh ủy
về thông qua đề án xây dựng nông thôn mới tỉnh Sơn La đến năm 2020; iii) Kế hoạch
thực hiện chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011-2020; iv) Phê duyệt Chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 –
2020 tỉnh Lâm Đồng; vi) Quyết định về việc Ban hành Bộ tiêu chí nông thôn mới của
An Giang, …v.v Đây có lẽ là nhóm có số lượng văn bản lớn nhất và đầy đủ nhất của
tất cả các tỉnh Nó thể hiện tinh thần tuân thủ trong việc triển khai hệ thống chính sách liên quan của Trung ương, nhưng thường được thực hiện bằng quy trình từ trên xuống (top-down) và ít tinh thần sáng tạo và cập nhật dựa trên các điều kiện cụ thể của địa phương Một tín hiệu đáng mừng từ kết quả của nhóm cơ chế chính sách này là đã thu hút được đầu tư khuyến nông từ khu vực tư nhân (Quảng Ngãi, An Giang)
b) Nhóm cơ chế chính sách tạo nguồn lực cho KHCN
Nhóm cơ chế chính sách này bao gồm các chính sách cụ thể như sau: i) Cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư vào một số lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Thái Bình, giai đoạn đến năm 2020; ii) Quyết định của HĐND tỉnh về việc ban hành chính sách đặc thù khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Sơn La giai đoạn 2015-2020; iii) Quyết định số 02/2017/QĐ-UBND về chính sách đặc thù khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, giai đoạn 2017 -2020; iv) Nghị quyết của HĐND tỉnh về chính sách đặc thù khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2016-2020; vi) Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh An Giang Có lẽ về phương diện này, thành công
lớn nhất là trường hợp Tập đoàn Lộc Trời đầu tư vào các lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nguồn nhân lực KHCN nông nghiệp tại An Giang, Lâm Đồng và Thái Bình c) Nhóm cơ chế chính sách hỗ trợ
Nhóm cơ chế chính sách hỗ trợ bao gồm một số chính sách cụ thể như: i) Cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng nông thôn mới tỉnh Thái Bình, giai đoạn 2011 – 2015; ii) Quyết định của HĐND tỉnh về việc ban hành chính sách hỗ trợ phát triển cà phê bền
vững trên địa bàn tỉnh Sơn La giai đoạn 2015-2020; iii) Quyết định của UBND tỉnh
Lạng Sơn, ban hành chính sách hỗ trợ phát triển đàn trâu, bò và cải tạo đàn bò tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2010 – 2015; iv); Quyết định của UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc phê duyệt Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi tỉnh Quảng ngãi, giai đoạn
Trang 82016-2020; v) Phê duyệt chương trình hỗ trợ về KHCN cho doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2016-2020; vi) Ban hành chương trình khoa học và công nghệ hỗ
trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, bảo hộ sở hữu trí tuệ trong quá trình hội nhập giai đoạn 2016-2020 của Đồng Nai; vii) Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn 2016-2020 Nhóm chính sách này có tác dụng thiết thực đối với việc huy động nguồn nhân lực KHKT tham giao chuyển giao KHCN trong xây
dựng NTM
d) Nhóm cơ chế chính sách huy động nguồn nhân lực Nhóm cơ chế chính sách huy động nguồn nhân lực có các chính sách cụ thể, chẳng hạn như:
i) Quyết định Phê duyệt Đề án “Hoàn thiện cơ chế chính sách khuyến dạy, khuyến học, khuyến tài; chính sách thu hút đội ngũ trí thức, cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân lành nghề gắn với quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực đến năm 2015” của Sơn La;
ii) Quyết định về xây dựng chính sách đào tạo, bồi dưỡng và chế độ hỗ trợ, khuyến khích đối với cán bộ, công chức, viên chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng, thu hút người có trình độ chuyên môn cao về công tác tại tỉnh Lạng Sơn;
iii) Quy định chính sách thu hút cán bộ công chức, viên chức và những người có trình
độ cao đến công tác tại tỉnh Quảng Ngãi;
iv) Quy chế xét tặng Giải thưởng khoa học và công nghệ tỉnh Lâm Đồng; +
v) Chính sách thu hút cán bộ, công chức có trình độ cao đẳng trở lên về công tác tại xã phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; vi) Quy định chế độ trợ cấp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và chính sách thu hút, khuyến khích người có trình
độ cao trên địa bàn tỉnh An Giang .v.v Chính sách thu hút nguồn nhân lực KHKT có trình độ cao về công tác tại địa phương gần như lan rộng thành một phong trào trong cả nước, và có nguồn gốc từ chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm “Hoàn chỉnh và xây
dựng mới hệ thống chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, phát huy sự đóng góp của trí thức kiều bào vào công cuộc phát triển đất nước”
e) Nhóm cơ chế chính sách hợp tác quốc tế về KHCN
Nhóm cơ chế chính sách này bao gồm các chính sách cụ thể của các tỉnh, chẳng hạn như: i) Quyết định số 840/QĐ-UBND Phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án
“Đào tạo trình độ thạc sỹ, tiến sỹ ở nước ngoài giai đoạn 2009 - 2016 của tỉnh Sơn La” năm 2009; ii) Quy định về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức ở nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng Về chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức ở nước ngoài, tỉnh Lâm Đồng có các cơ chế sau: i) Cơ chế trợ cấp đào tạo toàn phần ở nước ngoài; ii) Cơ chế thưởng, phạt, xử lý vi phạm An Giang còn có chính sách bồi dưỡng sau đại học ở nước ngoài và cùng đề xuất cơ chế thưởng phạt Nhóm
Trang 9chính sách này đều được triển khai tại tất cả các tỉnh, tuy nhiên, thực tế cho thấy, các cơ
chế chính sách trên phần nhiều còn thụ động, nặng về hành chính, và mang tính hình
thức trong hợp tác quốc tế về phát triển nguồn nhân lực Các cơ chế chính sách đó gần như không có các tác động trực tiếp đến việc tìm kiếm các nguồn lực cũng như huy động nguồn nhân lực KHKT tham gia chuyển giao KHCN trong xây dựng NTM của các địa phương trên
3.3 Đánh giá chung về nguồn lực và hệ thống cơ chế chính sách huy động nguồn nhân lực KHKT tham gia chuyển giao KHCN trong xây dựng nông thôn mới a) Đánh giá quy trình đề xuất chính sách
Thực trạng quy trình chính sách của các địa phương là quy trình từ trên xuống (top-down) Có thể minh chứng rất rõ quy trình này trong việc đối sánh hệ thống văn bản các chính sách chủ yếu từ trung ương xuống các bộ ngành, rồi xuống đến cấp đề xuất chính
sách địa phương là cấp tỉnh Chẳng hạn, khi các thể chế ở trung ương đề ra chủ trương thu hút đãi ngộ người có trình độ cao, nhân tài, khởi đầu bằng Quyết định số110/ 2004/ QĐ-TTg., đối với người Việt Nam ở nước ngoài, thì sau đó tất cả các tỉnh đều ban hành chính sách ưu đãi thu hút, đãi ngộ và trọng dụng người có tài năng Và đáng lưu ý là tất
cả các tỉnh đều đồng nhất người tài năng với người có học hàm giáo sư, phó giáo sư, học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ, thạc sĩ để thu hút họ, bất kể các tỉnh đó có đủ các cơ sở đại học, viện nghiên cứu để sắp xếp vị trí công việc cho họ hay không Trong khi đó, lẽ
ra, nguồn nhân lực mà hầu hết các tỉnh cần lại là đội ngũ cán bộ quản lý, doanh nhân giỏi trong kinh doanh nông nghiệp, đội ngũ kỹ sư thực hành, nhân viên kỹ thuật, cán bộ khuyến nông có kinh nghiệm trong việc xây dựng các mô hình ứng dụng và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho các HTX nông nghiệp và cho các nông hộ
b) Tính hiệu lực của hệ thống cơ chế chính sách huy động nguồn nhân lực KHKT tham gia chuyển giao KHCN trong xây dựng nông thôn mới
Có thể nói rằng ở cấp độ đề xuất chính sách, toàn bộ 7 tỉnh đều nỗ lực tìm kiếm và cung cấp tương đối đầy đủ nguồn lực kể cả nhân lực, vật lực, tri thức công nghệ và tài lực (tài chính) cho các cơ chế chính sách đã được đề ra Trong phạm vi cho phép, Đề tài chủ yếu tập trung vào việc xem xét nguồn lực chủ yếu nhất, đó là nguồn kinh phí (tài lực) cung cấp cho hệ thống nhiệm vụ KHCN cấp tỉnh và cấp cơ sở của mỗi tỉnh Nhìn chung
ở cấp đề xuất chính sách, tỷ lệ huy động nguồn nhân lực có trình độ cao cho các nhiệm
vụ KHCN trong xây dựng nông thôn mới là rất lớn Tỷ lệ trung bình đối với các chủ nhiệm đề tài, dự án có trình độ cao (từ thạc sỹ đến giáo sư) của ba tỉnh Thái Bình, Sơn
La và Lâm Đồng lên đến 43.45% Như vậy là về cơ bản, ở cấp độ đề xuất chính sách, nguồn nhân lực cung cấp cho các nhiệm vụ KHCN xây dựng nông thôn mới là đầy đủ, đặc biệt là nguồn nhân lực có trình độ cao
c) Tính khả thi của hệ thống cơ chế chính sách huy động nguồn nhân lực KHKT tham gia chuyển giao KHCN trong xây dựng nông thôn mới
Trang 10Thông qua việc xem xét thực trạng nguồn lực dành cho việc huy động nguồn nhân lực KHKT ở cấp cơ sở, đặc biệt là cho đội ngũ cán bộ khuyến nông cấp xã thôn thuộc 7 tỉnh
khảo sát thì chúng ta thấy có rất nhiều vấn đề nảy sinh Tại các xã khảo sát của 7 tỉnh,
hầu như tất cả các cán bộ khuyến nông huyện, cán bộ xã và khuyến nông viên cơ sở xã thôn đều khẳng định giống nhau là mức trả thù lao cho cán bộ KHKT, đặc biệt là đội ngũ cán bộ khuyến nông viên cấp cơ sở là quá thấp, trong khi số lượng cán bộ khuyến nông ít, địa bàn rộng mà mỗi người phụ trách thường rộng, khối lượng công việc của họ thì nhiều Thực tế trên cho thấy tính khả thi thấp của chính sách phụ cấp dành cho việc huy động nguồn nhân lực KHKT cơ sở tham gia chuyển giao KHCN trong xây dựng NTM
d) Tính hiệu quả của hệ thống cơ chế chính sách huy động nguồn nhân lực KHKT tham gia chuyển giao KHCN trong xây dựng nông thôn mới
Trước hết, hiệu quả của cơ chế chính sách huy động nguồn nhân lực KHKT tham gia chuyển giao KHCN trong xây dựng nông thôn mới được thể ở kết quả đạt được các mục tiêu của cơ chế chính sách đó Đối với cấp cơ sở huyện xã, các kết quả đó được thể hiện
rõ ràng nhất qua công tác khuyến nông Kết quả từ điều tra định lượng của Đề tài cho thấy, trong số 765 người được hỏi trên địa bàn 07 tỉnh, có 51,4% số người đã từng tham gia vào các lớp đào tạo, tập huấn về kỹ thuật sản xuất mới tại địa phương Tỷ lệ hộ đã tham gia tập huấn theo thứ tự từ cao đến thấp là Đồng Nai (78.8%), Thái Bình (69.00%), Lâm Đồng (64.00%), Sơn La (56.00%), Lạng Sơn (37.2%), An Giang (33.6%), và thấp nhất là Quảng Ngãi (32.00%) Trong số 7 tỉnh chỉ có 4 tỉnh là Đồng Nai, Lâm Đồng, Thái Bình và Sơn La có tỷ lệ hộ tham gia đạt trên 50% Ba tỉnh còn lại là Lạng Sơn, An Giang và Quảng Ngãi có tỷ lệ hộ tham gia tập huấn dưới mức 40% Các con số trên giúp hình dung kết quả hoạt động khuyến nông của đội ngũ khuyến nông cơ sở Điều đó một phần có thể phụ thuộc vào người dân, nhưng về phía người chuyển giao KHCN thì rõ ràng là hiệu quả hoạt động của đội ngũ khuyến nông ở nhiều địa phương còn thấp Điều
đó cũng đồng nghĩa với một nguyên nhân sâu xa là hiệu quả của cơ chế chính sách huy động nguồn nhân lực khuyến nông ở cơ sở là chưa cao
4 Quan điểm, mục tiêu và đề xuất các cơ chế chính sách huy động nguồn nhân lực KHKT tham gia chuyển giao KHCN trong xây dựng nông thôn mới
4.1 Hệ quan điểm đề xuất cơ chế chính sách
Nguyên tắc: Đề tài cho rằng, việc phát triển các quan điểm đề xuất cơ chế chính sách huy động nguồn nhân lực KHKT tham gia chuyển giao KHCN trong xây dựng NTM
cần phải dựa trên một số xuất phát điểm mang tính nguyên tắc sau: i) Quán triệt các chủ trương đường lối, chính sách có liên quan của Đảng và Nhà nước; ii) Định hướng thực
hiện thành công các mục tiêu của Chương trình NTM; iii) Tuân thủ quy trình và đảm
bảo cơ sở khoa học vững chắc cho việc đề xuất các cơ chế chính sách; iv) Quán triệt nguyên tắc quyền lợi gắn liền với nghĩa vụ của các bên liên; v) Quán triệt nguyên tắc