1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Đổi mới và hoàn thiện thể chế phát triển nông nghiệp việt nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế

16 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 712,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu trình bày đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp đổi mới và hoàn thiện thể chế phát triển nông nghiệp ở Việt Nam (chủ yếu về “Các hình thức tổ chức sản xuất (các chủ thể) và các hình thức liên kết sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp và những cơ chế, chính sách, giải pháp liên quan”) trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.

Trang 1

Thông tin chung

Tên Đề tài/Dự án: Đổi mới và hoàn thiện thể chế phát triển nông nghiệp việt nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế

Cơ quan chủ trì: Viện Chính sách và Chiến lược phát triển NN, NT

ĐTDĐ: Email:

1 Đặt vấn đề

Nghiên cứu hoàn thiện và phát triển thể chế nông nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế là việc làm cần thiết của bất kỳ quốc gia nào, không phân biệt thể chế chính trị Ở nước ta, khi nền kinh tế chuyển sang “Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN”, thì đối với nền nông nghiệp cũng từng bước hình thành thể chế theo hướng “kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước”

Chặng đường gần 30 năm Đổi mới, tính từ năm 1986, nông nghiệp tiếp tục thu được nhiều thành tự đáng khích lệ Ngành nông nghiệp (Nông, lâm và ngư nghiệp) đã đạt được tốc độ tăng trưởng hàng năm tương đối cao, bình quân toàn ngành là 5,4% về giá trị sản xuất và 3,7% về giá trị gia tăng (GDP) Sản lượng lúa tăng từ 19,0 triệu tấn năm

nông sản như lúa gạo, cà phê, tiêu, hạt điều và thuỷ sản với giá trị xuất khẩu đạt mức cao nhất 27,5 tỷ USD vào năm 2012 Sản xuất ngày càng đa dạng cả về cơ cấu sản phẩm

và loại hình tổ chức Tuy sản xuất nông hộ nhỏ vẫn chiếm tỷ trọng lớn, nhưng hệ thống sản xuất quy mô vừa và lớn đang bước đầu hình thành, đặc biệt trong chăn nuôi, trồng lúa, nuôi trồng thủy sản và trồng cây lâu năm Tổng số trang trại đăng ký năm 2010 đã tăng 2,5 lần so với năm 2000 Xu hướng đa dạng hóa tổ chức sản xuất cũng có bước phát triển cùng với sự phát triển các hình thức như hợp tác xã, tổ hợp tác, các nhóm kinh

tế phi chính thức, dựa trên nguyên tắc liên kết kinh tế tự nguyện giữa các nông hộ Những năm gần đây hình thức hợp đồng tiêu thụ nông sản đang phát triển, gắn kết nông dân sản xuất nguyên liệu với nhà máy chế biến và thương mại

Tuy vậy, những đánh giá mới nhất gần đây cho thấy nền nông nghiệp Việt Nam cũng đang gặp rất nhiều khó khăn Tốc độ tăng trưởng có xu hướng chậm lại Chất lượng nông sản thấp ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các sản phẩm trên thị trường quốc

tế Sản xuất manh mún, năng suất thấp, công nghiệp chế biến chậm phát triển nên tình trạng xuất khẩu nông sản thô, giá trị gia tăng thấp vẫn là chủ yếu Có một nghịch lí là trong lúc ngành nông nghiệp rất cần vốn để đầu tư cho sản xuất thì tình hình đầu tư vào

Trang 2

2% so với con số 7% đến 10% cách đây mươi năm Nguyên nhân khiến việc thu hút đầu

tư vào nông nghiệp gặp nhiều khó khăn là do sản xuất nông nghiệp rủi ro cao (bao gồm rủi ro về thiên tai, rủi ro thị về trường và những cả rủi ro về chính sách), hạ tầng cơ sở sản xuất yếu kém, xuống cấp, giá lao động tăng cao, chất lượng lao động trong khu vực nông nghiệp thấp và đặc biệt chi phí giao dịch lớn do thiếu các thể chế, tổ chức đại diện cho người nông dân

Các công trình nghiên cứu đã công bố hầu hết tập trung đi sâu vào một vài nội dung của thể chế phát triển nông nghiệp, chưa có công trình nào đưa ra được bức tranh tổng quát

cả về lý luận và thực tiễn đối với thể chế phát triển nông nghiệp Chính vì vậy, việc nghiên cứu chuyên đề: “Đổi mới và hoàn thiện Thể chế phát triển nông nghiệp Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế” là hết sức cần thiết

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp đổi mới và hoàn thiện thể chế phát triển nông nghiệp ở Việt Nam (chủ yếu về “Các hình thức tổ chức sản xuất (các chủ thể) và các hình thức liên kết sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp và những cơ chế, chính sách, giải pháp liên quan”) trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc

tế

1) Làm rõ và khái quát một số vấn đề cơ sở lý luận về thể chế phát triển nông nghiệp (chủ yếu về các nội dung nghiên cứu được giao);

2) Đánh giá thực trạng thể chế phát triển nông nghiệp hiện nay ở nươc ta (chủ yếu về các hình thức tổ chức sản xuất và các hình thức liên kết sản xuất kinh doanh), nêu ra các vấn đề bất cập;

3) Đưa ra quan điểm đổi mới thể chế phát triển nông nghiệp phù hợp với điều kiện hội nhập kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế;

4) Đề xuất định hướng và giải pháp đổi mới và hoàn thiện thể chế phát triển nông nghiệp

ở nước ta (chủ yếu liên quan đến các hình thức tổ chức sản xuất và kiên kết sản xuất kinh doanh) trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế

3 Một số kết quả nghiên cứu chính

3.1 Thực trạng phát triển của các hình tổ chức sản xuất, liên kết sản xuất kinh doanh

a) Kinh tế hộ nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp hàng hoá

Trang 3

Loại 1: Hộ nông dân sản xuất tự cung tự cấp là chủ yếu Các hộ này có đưa nông sản ra

để bán – đó thường là phần sản phẩm dư thừa so với nhu cầu tiêu dùng của gia đình Loại 3: Hộ sản xuất hàng hóa (hiện đang phát triển chủ yếu trong các lĩnh vực sản xuất

đô thị hoá

động của kinh tế hộ nông dân và quan hệ ruộng đất ở nông thôn

c) Kinh tế hộ nông dân và các hình thức vận động của thị trường ruộng đất

Khi tham gia phát triển nông nghiệp hàng hóa, ruộng đất cũng từng bước tham gia vào

cơ chế thị trường với tình đặc thù và trình độ khác nhau ở mỗi vùng, phụ thuộc vào trình

độ phát triển của kinh tế hộ nông dân và trình độ nền nông nghiệp hàng hóa Trong mỗi quan hệ trên, tính chất hàng hoá của ruộng đất có sự khác nhau, giá cả khác nhau Hiện nay, có thể nhìn nhận một cách khái quát như sau: Thị trường đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, mặt nước nuôi trồng thủy sản có sự khác biệt theo vùng Thị trường đất nông nghiệp ở các tỉnh phía Nam (nhất là Nam Bộ và đồng bằng Sông Cửu Long) phát triển hơn

d) Sự phát triển của kinh tế “Trang trại, gia trại”

quân năm từ 40 triệu đồng trở lên đối với trang trại phía Bắc và 50 triệu đồng trở lên đối

nhau, tùy theo điều kiện đất đai và trình độ phát triển nông nghiệp hàng hóa ở các vùng

và các lĩnh vực

e) Hiện tượng nông dân “bỏ ruộng”

Trang 4

Tình trạng nông dân bỏ ruộng đã xuất hiện từ khoảng 2005, nhưng nay đã trở thành một hiện tượng lan rộng ở nhiều tỉnh, nhất là ở các tỉnh khu vực Đồng bằng Sông Hồng và các tỉnh Miền Trung Hiện nay dư luận xã hội rất quan tâm đến vấn đề này, nhưng hiện đang có những ý kiến khác nhau về mặt tích cực và tiêu cực của hiện tượng này Vấn đề đặt ra là cần xem xét, nhận thức đúng bản chất của hiện tượng này, để trên cơ sở đó có những giải pháp phù hợp, hiệu quả

f) Chiến lược “An ninh lương thực” của nước ta còn những mặt bất cập, hiệu quả chưa cao cả về mặt kinh tế, xã hội và quuy hoạch sử dụng tài nguyên đất, làm cho kinh tế hộ nông dân bị hạn chế trong định hướng phát triển phát triển

h) Tâm lý của người nông dân với ruộng đất: Trên thực tế, trong lịch sử lâu dài từ trước đền nay, ở những vùng đất chật người đông, ruộng đất ít, sản xuất nông nghiệp chưa ở trình độ sản xuất hàng hóa cao (như ở Đồng bằng Sông Hồng và các tỉnh Miền

hương hỏa, cha truyền con nối”, cực chẳng đã mới phải bán đi (điều này khác với nông dân ở Đồng bằng Sông Cửu Long, nơi sản xuất hàng hóa nông sản đã ở trình độ cao hơn, khi thấy làm ruộng không có lãi là có thể bán ruộng đi và chuyển sang làm nghề khác)

g) Những hạn chế chủ yếu trong phát triển đơn vị kinh tế hộ nông dân

quân trên một hộ nhìn chung còn nhỏ bé và tốc độ tăng lên rất chậm, tính tự cung tự cấp – sản xuất nhỏ manh mún của kinh tế hộ nông dân ở nhiều vùng này còn cao, do đó việc

đi vào sản xuất hàng của đại đa số hộ bị nhiều hạn chế Ngay số lượng và quy mô canh tác của các trang trại cũng còn nhỏ

ở trạng thái sản xuất hàng hóa nhỏ (trừ một số vùng như đồng bằng Sông Cửu long…), hơn nữa kỹ thuật và kinh nghiệp canh tác còn mang nặng tính truyền thống, sản xuất hàng hóa chất lượng thấp, gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với thị trường, nhất là sản xuất hàng hóa lớn chất lượng cao, đòi hỏi tri thức về KH-CN tiên tiến

Thể chế HTX trong nông nghiệp ở nước ta đã trải qua những bước thăng trầm trong suốt hơn nửa thế kỷ qua với những quan niệm, cơ sở pháp lý, mô hình và thực tiễn phát triển khác nhau: Giai đoạn thể chế HTX - Tập thể hóa kéo dài tới đầu những năm 1980, rồi

đi đến dần tan rã và tới cuối năm 1988 khi xác định trở lại “hộ nông dân là đơn vị kinh

tế tự chủ” Từ đó đến nay Nhà nước đã một số lần ban hành (và sửa đổi) Luật HTX theo quan điểm mới (mới nhất là Luật HTX 2013), cùng các cơ chế chính sách ưu đãi như: (Chính sách hỗ trợ, ưu đãi đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; Xúc tiến thương mại; Ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới; Tiếp cận vốn và quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã; Ưu đãi thuế; Giao đất, cho thuê đất để phục vụ hoạt động của hợp tác xã,

Trang 5

liên hiệp hợp tác xã; Ưu đãi về tín dụng; Hỗ trợ vốn, giống khi gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh; Chế biến sản phẩm…) để các HTX được chuyển đổi sang mô hình và cơ chế mới, thành lập các HTX mới trên cơ sở tôn trọng và phát triển kinh tế hộ nông dân (ở đây xin không nêu chi tiết vì đã có nhiều tổng kết về vấn đề này) Tuy nhiên, thực tế cho thấy quá trình đổi mới và phát triển HTX đang có nhiều khó khăn và trở ngại Theo

lý luận cũng như thực tiễn phát triển nền nông nghiệp ở các nước trên thế giới, khi đi vào sản xuất hàng hóa thì các hình thức HTX (liên kết ngang - dọc) là phổ biến nhất, quan trọng nhất, phù hợp nhất và hiệu quả nhất đối với các Hộ nông dân Tuy nhiên thực trạng các HTX nông nghiệp ở nước ta cho thấy : bên cạnh những kết quả tích cực và những nhân tố mới, đang bộc lộ những bất cập về nhận thức, cơ chế chính sách phát triển và phương thức hoạt động của các hình thức HTX

Trong phát triển nền nông nghiệp hàng hóa, nhất là hàng hóa chất lượng cao, thì sự ra đời các doanh nghiệp nông nghiệp (theo nghĩa rộng) về các lĩnh vực chế biến, bảo quản, cung cấp các dịch vụ về khoa học – công nghệ, giống cây con, phòng chống dịch bệnh, tiêu thụ sản phẩm, thương mại… là một đòi hỏi khách quan và đóng vai trò then chốt

đóng vai trò hỗ trợ “đầu vào, đầu ra” đối với các hộ nông dân, mà còn đóng vai trò trọng yếu trong việc kết nối các chuỗi sản xuất, chuỗi giá trị và nâng cao chất lượng, hiệu quả

chất lượng cao Trong những năm qua, Nhà nước cũng đã ban hành nhiều cơ chế chính sách về vốn, tín dụng, thuế, đất đai, tiếp cận thị trường, ứng dụng KHCN… để khuyến

Sự phát triển các doanh nghiệp trong nông nghiệp trong những năm qua có những kết quả đáng ghi nhận, song cũng đang bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập

3.1.4 Thực trạng phát triển Nông Lâm trường quốc doanh

a) Về các Nông trường

(CTNN) Hiện có 145 CTNN (không tính các công ty thuộc Bộ Quốc phòng), trong đó có: 105 CTNN hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; 37 công ty cổ phần; 02 công ty TNHH 2 thành viên trở lên: 1 công ty liên doanh

nghiệp, 83.008 ha đất lâm nghiệp, bình quân 3.778 ha/Cty không tính các công ty thuộc

Bộ quốc phòng)

chức sản xuất (chiếm 67,14% diện tích); khoán (chiếm 23,60% diện tích), và liên doanh liên kết (chiếm 3,35% diện tích) - Tổng giá trị tài sản của các CTNN là 26.698.948,78

Trang 6

triệu đồng, bình quân tài sản mỗi CTNN là 141.044,62 triệu đồng Tổng các khoản vay của các CTNN là 5.490,49 tỷ đồng

b) Về các Lâm trường

giống cây trồng) và 87 Ban quản lý rừng phòng hộ

quản lý là 1.904.700 ha, trong đó đất có rừng là 1.757.396 ha, diện tích đất chưa có rừng

là 147.304 ha (chiếm 7,7% tổng diện tích quản lý) Các ban quản lý rừng đang quản lý 1.521.522 ha đất rừng (bao gồm rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất)

mô hình sau: i) CTLN thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh rừng trồng, hay hoạt động khép kín từ trồng rừng, bảo vệ rừng, khai thác, chế biến, tiêu thụ sản phẩm… (có

60 CTLN); ii) Các CTLN thực hiện nhiệm vụ quản lý rừng tự nhiên là chủ yếu (có 67 CTLN); iii) Các CTLN thực hiện kết hợp các nhiệm vụ sản xuất cây trồng, vườn ươm với rừng trồng và rừng tự nhiên, do các diện tích rừng này nhỏ (có 21 CTLN)

là 667.500 ha (chiếm 32,3% diện tích quản lý), với nhiều hình thức khoán khác nhau, như: khoán theo chu kỳ kinh doanh tới sản phẩm cuối cùng, khoán theo năm, khoán theo công đoạn hay theo việc…

17,7 tỷ đồng, doanh thu bình quân là 12,7 tỷ đồng, lợi nhuận bình quân là 1,09 tỷ đồng Vốn sản xuất của một CTLN kinh doanh rừng trồng chỉ là 8,5 tỷ đồng, doanh thu bình

CTLN làm ăn có hiệu quả và phát triển, còn phần nhiều là khó khăn, thua lỗ

3.1.5 Doanh nghiệp FDI trong nông nghiệp

USD; trong đó có 473 dự án FDI với tổng vốn đăng ký là 2,688 tỷ USD và tổng vốn

Trang 7

giảm còn 5,2% và đến 2008 giảm mạnh còn 3,3%, sau đó tiếp tục đà suy giảm còn 1% vào năm 2009 và năm 2010

Bình quân mỗi năm ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn thu hút gần 37 dự án đầu tư nước ngoài (trong đó dự án FDI là 31 dự án) tương đương với khoảng 196 triệu USD (FDI là 179 triệu USD) Nhìn chung, các dự án FDI trong nông nghiệp có quy mô vừa và nhỏ (bình quân một dự án FDI nông nghiệp chưa tới 6,6 triệu USD), chủ yếu các

dự án FDI gắn liền với nguồn nguyên liệu của địa phương có nhiều thuận lợi về môi trường, đất đai, giao thông Tỉ lệ vốn FDI đưa vào thực hiện thực hiện rất cao đạt 99%

so với tổng số vốn đăng ký

nghiệp

dân là đơn vị kinh tế tự chủ”, thì Luật đất đai 1993 đã trao quyền làm chủ ruộng đất ổn định, lâu dài cho các hộ nông dân (khi đó là 5 quyền và cho đến nay đã nâng lên thành

9 quyền) Quyền làm chủ về ruộng đất cùng với quyền làm chủ về tư liệu sản xuất đã trở thành cơ sở kinh tế mang tính pháp lý để hộ nông dân thực sự là đơn vị kinh tế tự chủ, gắn liền với quyền tự chủ về sản xuất kinh doanh Mặc dù còn những bất cập trong thực hiện, song quyền làm chủ về ruộng đất cùng với quyền làm chủ về tư liệu sản xuất gắn liền với quyền tự chủ về sản xuất kinh doanh đã trở thành động lực quan trọng nhất đưa nền nông nghiêp nước ta vượt qua khủng hoảng và phát triển đầy ấn tượng, tạo nên những thành tựu to lớn trong những thập kỷ qua

nghiệp hóa và đô thị hóa, ruộng đất đang vận động theo xu hướng tích tụ, tập trung và

sử dụng có hiệu quả hơn trong sản xuất nông nghiệp hàng hóa gắn với quá trình vận động, phân hóa, phát triển của kinh tế hộ nông dân và các chủ thể sản xuất kinh doanh khác (tuy có khác nhau giữa các vùng và các chủ thể)

4.1 Bối cảnh chung phát triển nông nghiệp trong giai đoạn mới

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tề ngày càng sâu rộng, với tính đặc thù của lĩnh vực nông nghiệp, trên thế giới và khu vực đang diễn ra hai quá trình song hành: Một là, các nước có lợi thế đều nỗ lực nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền nông nghiệp nước mình và phấn đấu giành thị phần ngày càng cao hơn trên thị trường quốc tế; Hai là, các nước đều nỗ lực cao vươn lên (ở mức có thể) tự đảm bảo “An ninh lương thực” và các nông sản thiết yếu; thực hiện các giải pháp tăng cường bảo hộ mậu dịch, tăng hàng rào kỹ thuật đối với nhập khẩu nông sản để bảo vệ quyền

Trang 8

lợi nông dân nước mình, trước sự cạnh tranh của các nước khác; ngày càng gia tăng các quy định về giám sát chất lượng sản phẩm, tiêu chuẩn và quy trình sản xuất Điều này đòi hỏi mỗi nước phải lựa chọn chiến lược phát triển nông nghiệp phù hợp và hiệu quả

Sau gần 30 năm Đổi mới, Đại hội XI của Đảng đánh giá đất nước ta “đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”, đã thoát ra khỏi nhóm nước nghèo – kém phát triển nhất, bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình (thấp) Đó là một tiền đề quan trọng để đất nước phát triển trong giai đoạn mới Nhưng đồng thời, Đại hội cũng đánh giá: “Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng Kinh

tế phát triển chưa bền vững Chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp, Tăng trưởng kinh tế vẫn dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu… Thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển”

Từ thực trạng của nền nông nghiệp nước ta, cũng như trước yêu cầu của giai đoạn mới, xét về phương diện Thể chế phát triển nông nghiệp (trước hết về các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh và liên kết sản xuất kinh doanh) đang nổi lên những vấn đề chủ yếu sau đây:

1) Trình độ và năng lực của kinh tế hộ nông dân đi vào sản xuất hàng hóa nhìn chung còn rất thấp Với gần 11 triệu hộ làm nông nghiệp, trong đó một tỷ lệ không nhỏ sản xuất còn mang nặng tính tự nhiên, tự cung tự cấp; một tỷ lệ lớn nhất số lượng nông hộ

ở trình độ tự cung tự cấp – sản xuất hàng hóa nhỏ, manh mún, quy mô sản xuất rất nhỏ;

số lượng hộ nông dân ở trình độ sản xuất hàng hóa (là chủ yếu hay chuyên sản xuất hàng hóa) còn đang chiếm một tỷ lệ nhỏ; tư duy kinh tế và phương pháp canh tác của tuyệt đại đa số hộ nông dân còn đang ở trình độ kinh nghiệm truyền thống, chưa tiếp cận được nhiều với phương thức canh tác tiên tiến

2) Trên bình diện cả nước, tương quan đất đai canh tác với dân số và lao động nông nghiệp vẫn đang ở mức rất thấp, quy mô canh tác hộ nông dân rất nhỏ ( 69% số hộ sử dụng đất sản xuất nông nghiệp có quy mô dưới 0,5 ha; 34,7% số hộ có quy mô dưới 0,2 ha; 85% hộ sử dụng đất trồng lúa có diện tích dưới 0,5 ha, 50% hộ sử dụng đất trồng lúa

có diện tích dưới 0,2 ha; ngoại trừ vùng đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ bình quân cao hơn) Với quy mô canh tác nhỏ như vậy Kinh tế hộ nông dân luôn bị “níu giữ” lại ở trạng thái sản xuất nhỏ tự cung tự cấp Để đảo ngược quá trình này đòi hỏi một chiến lược phát triển công nghiệp hóa, dịch vụ hóa, phi nông nghiệp hóa, đô thị hóa mạnh mẽ và rộng khắp nằm rút bớt lao động ra khỏi nông nghiệp, tạo quy mô canh tác nông nghiệp hàng hóa có hiệu quả cho các hộ nông dân Nhưng đây cũng là một quá trình lâu dài và phức tạp về nhiều phương diện cần có bước đi hiện thực và hiệu quả

Trang 9

4.2 Quan điểm đổi mới và hoàn thiện thể chế phát triển nông nghiệp

1 Đổi mới và hoàn thiện thể chế phát triển nông nghiệp phải gắn với đổi mới thể chế phát triển nông thôn, đặt trong tổng thể thể chế Kinh tế thị trường định hướng XHCN, tương quan hữu cơ với quá trình CNH, HĐH, phi nông nghiệp hóa, đô thị hóa trong cả nước cũng như điều kiện cụ thể của mỗi vùng

2 Đổi mới và hoàn thiện thể chế phát triển nông nghiệp theo hướng chuyển mạnh nông nghiệp sang phát triển theo chiều sâu kết hợp hợp lý với phát triển theo chiều rộng; phù hợp với tính đặc thù của nông nghiệp nhiệt đới của nước ta và điều kiện – trình độ cụ thể của từng vùng, từng lĩnh vực; gắn kết hữu cơ giữa các yếu tố kinh tế với các yếu tố

xã hội và môi trường sinh thái; đảm bảo sự gắn kết chặt chẽ về lợi ích, trách nhiệm và chia sẻ rủi ro giữa cá chủ thể, trong đó lợi ích của Hộ nông dân được coi trọng và làm

cơ sở, đảm bảo sự phát triển bền vững

3 Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, đổi mới và hoàn thiện thể chế phát triển nông nghiệp phải lấy đơn vị kinh tế hộ nông dân làm đơn vị cơ sở; đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ nông dân gắn liền với phát triền đa dạng đồng bộ các chủ thể liên quan khác (các đơn vị chế biến, đơn vị kinh doanh, đơn vị cung cấp dịch vụ…), các doanh nghiệp phải đóng vai trò trung tâm tạo thành các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất kinh doanh đa dạng đa tầng (liên kết ngang – liên kết dọc) gắn kết các chủ thể trong các chuỗi sản xuất, chuỗi giá trị, hiệu quả, ổn định, bền vững, trong đó các doanh nghiệp đóng vai trò là hạt nhân liên kết

4.3 Những định hướng chủ yếu đổi mới và hoàn thiện thể chế phát triển nông nghiệp

và các giải pháp thực hiện

1 Định hướng chung: Chuyển mạnh thể chể phát triển nông nghiệp từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang thể chế phát triển nền nông nghiệp hàng hóa theo chiều sâu phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, từng sản phẩm; phát triển và nâng cao trình độ - năng lực sản xuất hàng hóa của các hộ nông dân, các HTX, các loại hình doanh nghiệp, đơn vị cung ứng dịch vụ…gắn với việc hình thành các liên kết sản xuất kinh doanh có hiệu quả và bền vững giữa các chủ thể theo hướng có sự liên kết về trách nhiệm, lợi ích và chia sẻ rủi ro; phát triển và hoàn thiện đồng bộ các thể chế liên quan như đất đai, thị trường, tài chính, KH-CN, hội nhập quốc tề… nhằm tạo cơ sở và động lực cho sự phát triển nền nông nghiệp hiệu quả, chất lượng và bền vững trong giai đoạn mới

2 Đẩy mạnh phát triển Kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng sản phẩm

Nhóm thứ nhất, là hàng triệu hộ đang còn ở trình độ sản xuất tự nhiên, tự cung tự cấp là chủ yếu (ở những vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số) sản xuất lương thực để đảm bảo độ “an toàn” cho kinh tế hộ vẫn còn là mục tiêu hàng đầu nhưng cũng rất khó khăn

Trang 10

Nhóm thứ hai là các hộ đang ở trình độ sản xuất tự cung tự cấp gắn với sản xuất hàng hóa nhỏ; nhóm này chiếm tỷ trọng lớn nhất (chủ yếu ở những vùng trung du, đồng bằng Bắc Bộ, Trung bộ…) Đối với nhóm hộ này, định hướng phát triển là nâng cao trình độ

và trạng thái kinh tế hộ, tạo điều kiện để hộ nông dân vượt qua ngưỡng tái sản xuất giản đơn, sản xuất nhỏ để đi vào sản xuất hàng hóa ở trình độ cao hơn thông qua quá trình chuyển một số hộ (lao động) sang phát triển ngành nghề phi nông nghiệp, rút bớt số hộ làm nông nghiệp, tăng quy mô canh tác của hộ

Nhóm thứ ba là các hộ nông dân đã đi vào sản xuất hàng hóa ở những quy mô khác nhau , định hướng đặt ra là tiếp tục nâng cao quy mô, hiệu quả và chất lượng sản xuất kinh doanh nông sản hàng hóa, hình thành các vùng chuyên sản xuất nông sản hàng hóa lớn, chất lượng cao, tham gia vào các chuỗi sản xuất trong nước và chuỗi gia trị toàn cầu Đối với những hộ này cần có các chính sách và các chương trình đào tạo để trang bị kiến thức, kỹ năng và quy trình sản xuất kinh doanh tiên tiến, khả năng ứng dụng vào sản xuất các giống cây con mới, chất lượng cao, nâng cao năg lực tiếp cận thị trường

ngang và chiều dọc”, có thể theo khu vực, có thể theo ngành hàng, có thể theo chuỗi sản xuất kinh doanh

Do đặc thù của sản xuất nông nghiệp có độ rủi ro cao, lợi nhuận thường là thấp, diễn ra trong một không gian rộng lớn với rất nhiều hộ nông dân tự chủ thực hiện cùng các chủ thể khác…Vì vậy cả về lý luận và thực tiễn của thế giới đã cho thấy rằng các hình thức

tổ chức HTX là phù hợp và có hiệu quả nhất đối với quá trình xã hội hóa nền nông nghiệp, đối với nhu cầu liên kết của các hộ nông dân trong quá trình đi vào sản xuất

hợp tác – liên kết với nhau

Đối với nước ta, đang trong bước chuyển từ nền nông nghiệp còn mang nặng đặc trưng của của xuất hàng hóa nhỏ sang sản xuất hàng hóa lớn, thì việc phát triển các doanh nghiệp hộ gia đình (DNHGĐ) với các quy mô khách nhau (cả chính thức – tức được cấp giấy phép, và phi chính thức – tức chưa được cấp giấy phép), sử dụng lao động của gia đình là chính (hoặc có thể thuê thêm một số ít lao động), có thể là kinh doanh tổng hợp (cả nông nghiêp, công nghiệp, dịch vụ) hoặc chuyên ngành phi nông nghiệp có một ý nghĩa rất quan trọng, nhất là đối với những vùng đất chật người đông, dư thừa nhiều lao động nông nghiệp

4.6 Đổi mới và phát triển mạnh hệ thống doanh nghiệp trong nông nghiệp, nhất là doanh nghiệp chế biến và dịch vụ trong nông nghiệp – nông thôn

Các doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm kết nối trong phát triển nông nghiệp hàng hóa Trong thời gian tới cần phát triển đồng bộ các loại hình doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh theo chuỗi của từng loại sản phẩm, nhất là khi đi vào sản xuất

Ngày đăng: 24/05/2022, 09:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w