MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1 1 Tập trung kinh tế và sự cần thiết phải kiểm soát tập trung kinh tế 1 1 1 Khái niệm, đặc điểm pháp lý tập trung kinh tế 1 1 2 Sự cần thiết phải kiểm soát tập trung kinh tế 3 2 Thực trạng pháp luật cạnh tranh về kiểm soát tập trung kinh tế 4 3 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế 9 KẾT LUẬN 11 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12 i MỞ ĐẦU Trong bối cảnh toàn cầu hóa, với sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số và của “thế giới phẳng” đã làm t.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
1 Tập trung kinh tế và sự cần thiết phải kiểm soát tập trung kinh tế 1
1.1 Khái niệm, đặc điểm pháp lý tập trung kinh tế 1
1.2 Sự cần thiết phải kiểm soát tập trung kinh tế 3
2 Thực trạng pháp luật cạnh tranh về kiểm soát tập trung kinh tế 4
3 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế .9
KẾT LUẬN 11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 2i
MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, với sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số và của “thế giới phẳng” đã làm thay đổi cục diện và bản chất của cạnh tranh và độc quyền1 Cấu trúc và quan hệ thị trường chỉ tồn tại hai thị trường: cạnh tranh và không cạnh tranh Do đó, tập trung kinh tế sẽ hình thành nên các tập đoàn kinh tế lớn mạnh, gây hạn chế cạnh tranh, ảnh hưởng tới đời sống của người dân cũng như toàn bộ nền kinh tế Chính vì vậy, hệ thống pháp luật cạnh tranh về kiểm soát việc tập trung kinh tế cần phải đảm bảo sự chặt chẽ và chính xác Để hiểu rõ hơn về vấn
đề này, dưới đây em xin đi sâu vào tìm hiểu đề tài: “Thực trạng pháp luật cạnh tranh Việt Nam về kiểm soát tập trung kinh tế”
NỘI DUNG
1 Tập trung kinh tế và sự cần thiết phải kiểm soát tập trung kinh tế
1.1 Khái niệm, đặc điểm pháp lý tập trung kinh tế
Pháp luật Việt Nam không đưa ra khái niệm mang tính khái quát để định nghĩa hành vi tập trung kinh tế mà chỉ liệt kê dưới các hình thức tập trung kinh tế Theo Điều 29 Luật cạnh tranh năm 2018 thì tập trung kinh
tế là hành vi của doanh nghiệp bao gồm: sáp nhập doanh nghiệp; hợp
1 Lê Thị Bích Thọ, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ, Báo cáo tổng thuật đề tài Tiếp tục hoàn thiện xây dựng khung thể chế quản lý nhà nước về thực thi Luật cạnh tranh, Bộ Công thương, Hà Nội, 2018, tr.22
1
Trang 3nhất doanh nghiệp; mua lại doanh nghiệp; liên doanh giữa các doanh nghiệp và các hình thức tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật Mặc dù chưa có định nghĩa chung nhất về tập trung kinh tế, nhưng nhìn chung, có thể rút ra một số đặc điểm của hành vi tập trung kinh tế như sau:
Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi tập trung kinh tế là các doanh
nghiệp hoạt động trên cùng một thị trường hoặc có thể hoạt động trên các thị trường khác nhau, không trùng lặp về sản phẩm hoặc dịch vụ mà họ cung cấp
Thứ hai, hành vi tập trung kinh tế được thực hiện dưới những hình
thức nhất định theo quy định của pháp luật Biện pháp thực hiện tập trung kinh tế là các chủ thể chủ động tích tụ các nguồn lực kinh tế (vốn, lao động, kỹ thuật, năng lực quản lý, tổ chức, ) mà họ đang nắm giữ riêng lẻ để liên kết với nhau, hình thành một khối thống nhất hoặc phối hợp hình thành các doanh nghiệp Đây là điểm khác biệt cơ bản của hành
vi tập trung kinh tế vì nó dẫn đến sự thay đổi cơ cấu sở hữu cũng như tổ chức quản lí doanh nghiệp
Thứ ba, kết quả của hoạt động tập trung kinh tế là một doanh
nghiệp sẽ dành được quyền kiểm soát, chi phối doanh nghiệp khác, từ đó làm thay đổi cấu trúc thị trường và tương quan cạnh tranh hiện có trên thị trường
2
Trang 41.2 Sự cần thiết phải kiểm soát tập trung kinh tế
Hành vi tập trung kinh tế được coi là một trong các hành vi làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường Hệ quả của hành vi này
có thể dẫn tới việc giảm số lượng doanh nghiệp tham gia trên thị trường liên quan và do vậy có khả năng gia tăng các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hoặc lạm dụng vị trí độc quyền gây thiệt hại đến lợi ích của xã hội nói chung cũng như lợi ích của các doanh nghiệp khác và của người tiêu dùng nói riêng Do vậy nhà nước cần phải kiểm soát hành
vi tập trung kinh tế
Tại mỗi quốc gia, chính sách kiểm soát tập trung kinh tế là một bộ phận trong tổng thể các chính sách của Chính phủ, bao gồm chính sách công, chính sách kinh tế và chính sách cạnh tranh Là một bộ phận của chính sách cạnh tranh nói chung, chính sách tập trung kinh tế được cụ thể hóa là một trong ba lĩnh vực điều chỉnh của Luật cạnh tranh, bao gồm: thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh và kiểm soát tập trung kinh tế Các quy định về kiểm soát tập trung kinh tế có tác động tiền kiểm, nhằm ngăn chặn các vụ việc tập trung kinh tế có khả năng gây phương hại đến cạnh tranh Với tính chất là một sinh hoạt kinh tế, tự do cạnh tranh tự nó có thể dẫn tới nguy cơ cản trở hoặc tiêu hủy cạnh tranh1
1 Thực trạng Pháp luật cạnh tranh Việt Nam về kiểm soát việc tập trung kinh tế, xem tại:
https://wikiluat.com/2021/12/10/thuc - trang - phap - luat - canh - tranh - viet - nam - ve - kiem - soat - viec - tap - trung - kinh - te/ , truy cập ngày 01/04/2022
3
Trang 5Nhà nước có thể lựa chọn nhiều phương cách để ứng xử với hiện tượng này:
(1) Tin vào sự điều chỉnh của thị trường, yin vào sự hợp lý của quá trình tập trung kinh tế hướng tới độc quyền mà chủ trương không can dự (2) Can thiệp để tạo điều kiện cho cạnh tranh diễn ra bằng cách ngăn chặn độc quyền, chia nhỏ doanh nghiệp độc quyền, cấm thỏa thuận để tạo vị thế thống lĩnh thị trường
(3) Chấp nhận vị thế thống lĩnh thị trường hoặc độc quyền của một số doanh nghiệp song giám sát, ngăn ngừa sự lạm dụng vị trí đó
(4) Công hữu hóa doanh nghiệp có vị trí độc quyền, đặt chúng dưới sự quản lý của các cơ quan công quản và định hướng hoạt động của chúng
vì lợi ích chung Trên thực tế, các quốc gia đều tìm cách phối hợp các phương án trên Trong đó, giải pháp chính vẫn là phối hợp giữu biện pháp can thiệp để duy trì cạnh tranh và khi độc quyền đã diễn ra, tìm cách giám sát để điều tiết, hạn chế việc lạm dụng vị thế độc quyền
2 Thực trạng pháp luật cạnh tranh về kiểm soát tập trung kinh
tế
Các hoạt động tập trung kinh tế diễn ra trong thực tế đời sống kinh
tế xã hội rất đa dạng Để kiểm soát được nó nhằm ngăn chặn những tác động gây hạn chế cạnh tranh đáng kể thì đòi hỏi phải nhận diện được nó Pháp luật cạnh tranh Việt Nam nhận diện tập trung kinh tế dựa trên các
4
Trang 6căn cứ chủ yếu là chủ thể, phạm vi không gian, hình thức thực hiện và ngưỡng tập trung kinh tế
Thứ nhất, về chủ thể thực hiện tập trung kinh tế Chủ thể của hoạt
động tập trung kinh tế chỉ có thể là doanh nghiệp mà không phải là hộ kinh doanh Luật cạnh
tranh 2004 trước đây chỉ kiểm soát đối với các doanh nghiệp thực hiện tập trung kinh tế khi các doanh nghiệp này hoạt động trên cùng thị trường liên quan Quy định đó vô hình đang bỏ qua các hình thức tập trung kinh tế theo chiều dọc và hỗn hợp mà chỉ kiểm soát các hình thức tập trung kinh tế theo chiều ngang Nhận thức được nhiều sai lầm trong quá trình thực thi pháp luật, Luật cạnh tranh 2018 đã mở rộng các hình thức kiểm soát để đảm bảo kiểm soát toàn diện, cụ thể là kiểm soát các doanh nghiệp có mối quan hệ trong chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định hoặc ngành nghề kinh doanh của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế là đầu vào của nhau hoặc bổ trợ cho nhau Lúc này, hình thức tập trung kinh tế chịu sự kiểm soát đã được mở rộng sang cả chiều ngang và hỗn hợp thay vì chỉ
chiều dọc như trước kia
Bên cạnh đó, hoạt động tập trung kinh tế chỉ xảy ra khi có ít nhất hai doanh nghiệp cùng tham gia thực hiện, tức là các doanh nghiệp này
đã tồn tại trước đó Như vậy, hành vi tập trung kinh tế không phải là
5
Trang 7hành vi đơn phương của một doanh nghiệp Một doanh nghiệp tự bỏ vốn
ra thành lập một doanh nghiệp mới tham gia cạnh tranh trên cùng thị trường không bị coi là hành vi tập trung kinh tế và do đó không bị xem xét
Thứ hai, về phạm vi không gian thực hiện hoạt động tập trung kinh tế Pháp luật cạnh tranh Việt Nam trước đây chỉ ràng buộc các hành
vi tập trung kinh tế được thực hiện bên trong lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên trên thực tế có rất nhiều vụ việc cạnh tranh được thực hiện bên ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có ảnh hưởng nhất định đến thị trường Việt Nam Nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực, phạm vi điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh hiện hành được mở rộng sang cả các hành vi tập trung kinh tế thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam, tạo ra hành lang pháp lý
để có thể điều tra và xử lý toàn diện mọi hành vi tập trung kinh tế nếu có tác động hay có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh đến thị trường
Việt Nam
Ngoài ra, việc mở rộng phạm vi điều chỉnh cũng giúp tạo ra cơ sở pháp lý để cơ quan cạnh tranh Việt Nam có thể hợp tác với các cơ uan cạnh tranh của các quốc gia khác trong quá trình điều tra, xử lý các vụ việc, tạo điều kiện thực thi các cam kết về cạnh tranh mà Việt Nam đã đưa ra trong các hiệp định thương mại
Thứ ba, về hình thức thực hiện tập trung kinh tế Tập trung kinh
tế được quy định trong Điều 29 Luật Cạnh tranh 2018 gồm những hình
6
Trang 8thức sau: sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp, liên doanh giữa các doanh nghiệp và các hình thức tập trung kinh
tế khác theo quy định của pháp luật
Khi tập trung kinh tế gây ra hệ quả hạn chế cạnh tranh hoặc lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường Cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm tỷ lệ khó xác định % trên thị trường liên quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 24 của Luật 2018 (các trường hợp miễn trừ) hoặc trường hợp doanh nghiệp sau khi tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp vừa và nhỏ theo qui định của pháp luật Như vậy điều kiện chủ yếu để cấm tập trung kinh tế
là khi thị phần tổng cộng của các hai bên tham gia chiếm trên 50% thị trường liên quan Điều kiện này về cơ bản là phù hợp với các trường hợp tập trung kinh tế dưới dạng sáp nhập, hợp nhất hoặc mua lại (vì hệ quả của các hình thức này thường là sự cộng gộp thị phần của mỗi bên tham gia tập trung kinh tế) Tuy nhiên, điều kiện "cộng gộp thị phần của các bên liên quan" này có lẽ là không phù hợp với trường hợp liên doanh với
lý do: sau khi thành lập liên doanh, về mặt nguyên tắc, thị phần của các bên tham gia liên doanh đều giảm Kết quả của việc liên doanh là sự hình thành một doanh nghiệp mới, về nguyên tắc tổ chức doanh nghiệp này hoạt động độc lập với các bên đã tham gia hình thành lên liên doanh Điều kiện đơn thuần về thị phần tổng cộng của các bên tham gia liên doanh không phản ánh được nguy cơ tác động tiêu cực đến cạnh tranh
7
Trang 9sau khi có liên doanh (của cả các bên tham gia liên doanh lẫn doanh nghiệp mới hình thành) Do đó, điều kiện để cấm liên doanh trong Luật Cạnh tranh cần được xem xét lại Điều kiện để cấm hành vi liên doanh, thay vì tập trung vào thị phần cộng gộp của các bên liên doanh, cần chú ý đến các vấn đề sau: Tác động tiêu cực của việc liên doanh đến cạnh tranh bình thường trên thị trường liên quan; và vị thế (thị phần) của các bên trên thị trường sau khi liên doanh
Thứ tư, về tiêu chí xác định hoạt động tập trung kinh tế thuộc diện bị kiểm soát Tại Việt Nam việc kiểm soát tập trung kinh tế được
thực hiện theo hình thức tiềm kiểm, trong trường hợp các doanh nghiệp thuộc ngưỡng thông báo tập trung kinh tế quy định tại Điều 13 Nghị định 35/2020/NĐ-CP thì phải thông báo với cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi thực hiện hành vi tập trung kinh tế Có thể thấy, mức thị phần kết hợp trên thị trường liên quan phải thông báo theo quy định hiện hành “từ 20% trở lên” là thấp hơn so với mức “30-50%” trước đây Điều này cho thấy các nhà làm luật muốn kiểm soát chặt chẽ hơn và sớm hơn các hoạt động
tập trung kinh tế
Bên cạnh đó, để kiểm soát, ngăn cản việc hình thành một doanh
nghiệp có vị trí thống lĩnh, gây ảnh hưởng lớn đối với nền kinh tế thì pháp luật cạnh tranh của Việt Nam kiểm soát và cấm tập trung kinh tế theo hướng hạn chế những tác động tiêu cực của tập trung kinh tế đến thị trường
8
Trang 10Hoạt động tập trung kinh tế có điều kiện: đây là một quy định mới
so với Luật cạnh tranh 2004, thể hiện sự tôn trọng quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp Thay vì cấm, lúc này pháp luật cạnh tranh đã cho phép tập trung kinh tế với điều kiện phải thực hiện một số biện pháp nhằm ngăn ngừa khả năng gây tác động đến cạnh tranh trên thị trường Điều kiện này được quy định cụ thể tại Điều 42 Luật cạnh tranh
3 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát tập
trung kinh tế
Luật cạnh tranh 2018 đã khắc phục, bổ sung hoàn thiện một cách tương đối đầy đủ và toàn diện các vấn đề trong pháp luật cạnh tranh trước đây Tuy nhiên, vẫn tồn tại những điểm hạn chế cần phải tiếp tục hoàn thiện theo hướng sau:
Thứ nhất, cần bổ sung quy định về khái niệm tập trung kinh tế Ở
cả Luật cạnh tranh 2004 và Luật cạnh tranh 2018 đều không có định nghĩa cụ thể về hành vi “tập trung kinh tế” mà được thực hiện bằng các cách liệt kê hình thức được coi là tập trung kinh tế, mặc dù các nhà làm luật đã quy định một điều khoản “quét”1 nhằm dự liệu khả năng quy định
và bổ sung các dạng hành vi mới trong luật, tuy nhiên việc này có khả năng tạo ra sự tùy tiện và thiếu đồng bộ giữa các quy định của pháp luật
Do đó, cần thiết phải bổ sung khái niệm cụ thể về tập trung kinh tế
1 Điểm đ Khoản 1 Điều 29 Luật Cạnh tranh năm 2018 “Các hình thức tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật” được coi là các điều khoản “quét”
9
Trang 11Thứ hai, quy định cụ thể các tiêu chí đánh giá đối với giao dịch tập trung kinh tế theo chiều dọc và hỗn hợp Luật cạnh tranh 2018 dã
mở rộng các hình thức tập trung kinh tế bị kiểm soát sang cả hình thức tập trung kinh tế theo chiều dọc và hỗn hợp Đây là điểm tiến bộ đáng ghi nhận nhưng các tiêu chí được quy định tại Điều 13 Nghị định 35/2020/NĐ-CP dùng để thẩm định chính thức giao dịch tập trung kinh
tế bị kiểm soát vẫn chủ yếu dựa trên thị trường liên quan, tức là chỉ được
áp dụng đối với tập trung kinh tế theo chiều ngang Bởi vậy cần kịp thời
bổ sung hoàn thiện để việc áp dụng quy định thực sự phát huy hiệu quả trên thực tế cũng như giúp cho các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong
hoạch định tập trung kinh tế theo dạng này Thứ ba, sửa đổi quy định về
cách xác định thị phần Mặc dù cách xác định thị phần của Luật cạnh
tranh 2018 đã khắc phục được phần nào bất cập của pháp luật cạnh tranh trước đây bằng việc bổ sung tiêu chí số đơn vị sản phẩm mua vào/bán ra trên thị trường liên quan nhưng vẫn chưa đặt ra vấn đề xác định thị phần khi trên thị trường liên quan có sự xuất hiện của các doanh nghiệp kinh doanh đa ngành, đa nghề và các doanh nghiệp này tung ra các sản phẩm hòa trộn các dịch vụ, sản phẩm với nhau Khi đó cần bổ sung quy định hướng dẫn cụ thể cách xác định thị phần trong những trường hợp này
10
Trang 12Thứ tư, nâng cao năng lực của cơ quan quản lý cạnh tranh
trong kiểm soát tập trung kinh tế Cần tăng cường khả năng kiểm soát
của Cục quản lý cạnh tranh -
Cơ quan có chức năng kiểm soát tập trung kinh tế theo hướng cơ quan quản lý cạnh tranh cần được trao quyền chủ động khi thực thi dựa trên những nguyên tắc được pháp luật ghi nhận, bao gồm quyền tự chủ trong việc lựa chọn và sử dụng các phương tiện, công cụ kỹ thuật cho từng vụ việc; chủ động xây dựng quy trình cho việc kiểm soát tập trung kinh tế
Để việc kiểm soát tập trung kinh tế được chủ động và hiệu quả, cơ quan quản lý cạnh tranh nên có những nghiên cứu và dự đoán trước những thị trường, những lĩnh vực kinh tế có nguy cơ xảy ra hiện tượng tập trung kinh tế, thậm chí những doanh nghiệp có khả năng thực hiện hành vi thâu tóm thị trường bằng hình thức tập trung kinh tế
KẾT LUẬN
Tập trung kinh tế và kiểm soát tập trung kinh tế là một vấn đề phức tạp, có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến nền kinh tế Luật cạnh tranh được ban hành đã có thể nói là tương đối toàn diện, tuy nhiên ở góc độ chi tiết thì mới chỉ nêu ra được các quan điểm chung nhất về các hành vi cạnh tranh bị cấm và kiểm soát, đặc biệt về vấn đề lạm dụng vị trí thống lĩnh,
vị trí độc quyền Cần phải phổ biến kiến thức về pháp luật cạnh tranh, pháp luật kiểm soát lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền một cách tích cực và có phương pháp để nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp,
11