1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NHẬP môn TRUYỀN THÔNG đa PHƯƠNG TIỆN đề tài học THUYẾT TRUYỀN THÔNG ĐANG được áp DỤNG tại VIỆT NAM

43 12 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Học Thuyết Truyền Thông Đang Được Áp Dụng Tại Việt Nam
Tác giả Hoàng Nguyên Hương, Trần Bửu Trung, Trịnh Huy Phúc, Võ Thị Mỹ Tiên, Nguyễn Thị Xuân Mai, Trần Đàm Thái Hà, Hồ Ngọc Vân Anh, Nguyễn Sĩ Lực, Phạm Thị Ngọc Tuyền, Trịnh Trần Tường Vi, Dương Anh Quốc
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Xuân Linh
Trường học Trường Đại Học Văn Lang
Chuyên ngành Khoa Quan Hệ Công Chúng
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 102,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

So với thuyết toàn trị Xô Viết, trong mô hình độc đoán, nhà nước không yêu cầu sựđồng tình trọn vẹn, chỉ cần không chỉ trích lãnh đạo đương nhiệm, không chống lại các dự án,chính sách đa

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN LANG KHOA QUAN HỆ CÔNG CHÚNG TRUYỀN THÔNG

NHẬP MÔN TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN

Đề Tài:

HỌC THUYẾT TRUYỀN THÔNG ĐANG ĐƯỢC ÁP DỤNG

TẠI VIỆT NAM

Nhóm thực hiện: NAMELESS

Mã học phần: 21171INMU30262 Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Xuân Linh

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 12 năm 2021

Trang 2

ĐIỂM VÀ NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

Nhận xét:

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Điểm _/10 Giảng viên: ThS Nguyễn Ký tên:………

Xuân Linh

Trang 3

BẢNG ĐÁNH GIÁ CÔNG VIỆC

Trang 4

MỤC LỤC

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Trang 6

I PHÂN TÍCH 4 HỌC THUYẾT TRUYỀN THÔNG.

A Thuyết Độc Đoán

Thuyết độc đoán đã chi phối hệ thống truyền thông (Truyền thông độc đoán) của cáctriều đại phong kiến phương Tây thế kỉ XVI, XVII như thời Vương tộc Bourbon ở Pháp,quân chủ Hapsburg (Tây Ban Nha), và đặc biệt là Nhà Tudor ở Anh Ngoài ra, Mussolini của

Ý và Đức Quốc xã của Hitler cũng sử dụng một phần hệ thống của thuyết Độc Đoán

Nội dung triết lý

Nguyên lý cơ bản của thuyết này bắt nguồn từ quan niệm rằng việc con người độc lập,không phụ thuộc nhà nước là ngu muội, sai trái Năng lực cá nhân là hữu hạn còn năng lựccủa tập thể là vô hạn Cá nhân phải dựa dẫm vào tập thể, mà hình thức tập thể cao nhất là nhànước Chính vì vậy, nhà nước quan trọng hơn mọi cá nhân và mọi cá nhân phải phụ thuộcvào nhà nước Thuyết này cũng quan niệm về khả năng tư duy, nhận thức của mỗi cá nhân có

sự cách biệt rất lớn Những cá nhân có năng lực tư duy giải quyết vấn đề, đưa ra quyết định,phân biệt đúng sai, tiếp thu tri thức thì sẽ được xếp vào vị trí cao trong hệ thống Phần lớndân chúng bị xem là thiếu khả năng nhận thức nên cần phải nhận được sự truyền đạt, tuyêntruyền từ nhà nước Hay nói cách khác, với thuyết độc đoán, tri thức và sự thật bị quy định vàràng buộc bởi nhà nước, trở thành những quy tắc chuẩn mực riêng

Các cá nhân phải phục tùng nhà nước, vì chỉ duy nhất nhà nước mới đủ năng lực vàquyền lực để đưa ra quyết định cho tập thể Từ các quan niệm trên, những người theo thuyếtĐộc đoán quan niệm mục đích của truyền thông chỉ là sự hỗ trợ, là công cụ nhằm ủng hộ,thực hiện cho nhu cầu và mục tiêu của chính phủ Bên cạnh đó, truyền thông còn là phươngpháp giáo dục dân chúng thông qua việc truyền đạt các kiến thức cơ bản, các tin tức, tư tưởngđược quy định bởi nhà nước

Những nội dung bị cấm và được phép:

Cấm chỉ trích trực tiếp các lãnh đạo chính trị đương nhiệm cũng như quyết định và chính sách của họ.

Cấm mọi hành vi, nỗ lực nhằm lật đổ chính quyền.

Cấm đưa thông tin về các vấn đề của chính phủ, trừ những quyết định cuối cùng được thông qua bởi nhà nước Phạm vi vấn đề thảo luận phụ thuộc vào từng nhóm xã hội (công chúng bị xem là thiếu kiến thức sẽ không được tham gia thảo luận hoặc bị giới hạn phạm vi thảo luận, nhưng nhóm có năng lực thẩm định thì được phép thảo luận rộng hơn trên bình

Trang 7

So với thuyết toàn trị Xô Viết, trong mô hình độc đoán, nhà nước không yêu cầu sựđồng tình trọn vẹn, chỉ cần không chỉ trích lãnh đạo đương nhiệm, không chống lại các dự án,chính sách đang tiến hành, không làm ảnh hưởng đến mục tiêu của nhà nước.

Vận hành hệ thống kiểm soát

Hệ thống truyền thông Độc đoán được vận hành theo một quy tắc bất di bất dịch nhằm

hỗ trợ, xúc tiến các chính sách, dự án của chính quyền Đối với các chính quyền lỏng lẻo, nonkém trong khâu quản lý thì họ cấm truyền thông không được phép can thiệp, tìm hiểu về cácmục tiêu của chính phủ Ngược lại, đối với đa phần các chính quyền độc đoán về sau thì họxem truyền thông như một cánh tay đắc lực của nhà nước Nghĩa là, truyền thông đã trởthành công cụ, là chất tăng trưởng nhằm phục vụ cho các mục tiêu của chính phủ, được chínhphủ toàn quyền kiểm soát chặt chẽ

Để siết chặt cũng như kìm hãm sự phát triển của truyền thông, các nhà nước độc đoán

đã sử dụng nhiều phương pháp khống chế toàn quyền Tuy nhiên, do tốc độ phát triển củatruyền thông, báo chí không ngừng tăng lên một cách nhanh chóng đã khiến cho các phươngpháp này trở nên lỗi thời, không còn hiệu quả Các phương pháp kiểm soát hệ thống truyềnthông của nhà nước tiêu biểu ở thế kỉ XVI-XVII đã được thực thi tiêu biểu như:

Phương pháp 1: Hình thành hệ thống cấp phép cho cá nhân/tổ chức được quyền in

ấn/xuất bản Đổi lại các cá nhân/tổ chức phải phục vụ cho chính phủ, nhà nước đã đồng nhất lợi ích của người tham gia ngành truyển thông với lợi ích của nhà nước

Phương pháp 2: Hình thành hệ thống kiểm duyệt tác phẩm – hệ thống cấp phép cho

từng tác phẩm xuất bản, đặc biệt là các tác phẩm liên quan đến tôn giáo, chính trị

Phương pháp 3: Hình thành hệ thống khởi tố với các trường hợp vi phạm giới hạn,

điều lệ in ấn, xuất bản những thông điệp chống đối chính phủ với hai tội danh lớn nhất là mưu phản và nổi loạn.

Bên cạnh đó vẫn còn các phương pháp mới hơn, mang tính chất tiểu xảo được chínhquyền sử dụng nhằm kiểm soát truyền thông như: dùng quỹ ngân sách để mua lại hoặc trợcấp cho các báo chí tư nhân nhằm thực hiện hóa việc kiểm soát, mua chuộc, đe dọa các chủbút, tri thức chống đối lại nhà nước

Tổng Kết:

Thuyết Độc Đoán là học thuyết có mặt sớm nhất so với ba học thuyết còn lại vào thời

kì phương tiện truyền thông vẫn chỉ là bước khởi đầu, sơ khai nên tạo nhiều thuận lợi chochính quyền kiểm soát, kìm hãm Qua đó khẳng định được rằng học thuyết này đã quy định

Trang 8

mô hình truyền thông đại chúng trong một thời gian dài hơn bất kỳ học thuyết nào khác Tuynhiên bước vào thế kỉ XVI-XVII, khi mà sự phát triển của công nghệ in ấn đã kéo theo sựxuất hiện của nhiều phương tiện truyền thông mới, báo chí và truyền thông đang trên đà pháttriển nhanh chóng làm cho Thuyết Độc Đoán bộc lộ nhiều mặt hạn chế, nhiều lỗ hỏng, nhànước không thể kiểm soát được nền truyền thông đang vượt ngoài tầm kiểm soát khi đó, dẫnđến sự sụp đổ của nhà nước và xuất hiện học thuyết mới.

B Thuyết Tự Do

Thuyết Tự Do hay còn gọi là thuyết truyền thông Tự Do áp dụng ở Anh sau năm 1688

và ở Mỹ, bên cạnh đó nó còn có tầm ảnh hưởng lớn đến các khu vực khác Thuyết này đượcxuất pháp từ chủ nghĩa tự do Các nhà triết học, chính trị học ủng hộ thuyết Tự Do gồmThomas Jefferson, John Locke, John Milton…

Nội dung triết lý:

Nội dung triết lý của học thuyết này được dựa trên nền tảng triết học chủ nghĩa tự do,phát triển vào nửa cuối thế kỉ XVII-XVIII, hậu thời kì thuyết độc đoán Thuyết tự do được rađời dựa trên nền tảng là những định luật bất biến của Newton hay tư tưởng của John Locke

về quyền tự do… Đối với những người theo học thuyết này, họ quan niệm cá nhân có tầmquan trọng và năng lực vượt trên mọi tập thể Nói cách khác, cá nhân chính là nhân tố tất yếucủa xã hội, mọi cá nhân đều có tầm nhìn quan trọng nhất định Con người là sinh vật có tưduy, có khả năng ghi nhớ, giải quyết vấn đề, bàn luận và thúc đẩy sự phát triển của xã hội.Theo quan niệm của các nhà triết học theo chủ nghĩa tự do, việc hoàn thiện cá nhân, gia tănglợi ích cá nhân là mục đích và cũng là chức năng của xã hội

Trái với học thuyết độc đoán cho rằng nhà nước là biểu hiện cao nhất cho sự phát triểncủa loài người thì đến với thuyết Tự Do, họ lại cho rằng Nhà nước không thể đóng vai tròquan trọng hơn các cá nhân – người tạo dựng lên Nhà nước đó Nhà nước chỉ là một công cụhữu hiệu, thiết yếu nhằm phục vụ mục đích của các cá nhân đơn thuần

Mọi cá nhân đều có khả năng tư duy phân biệt, tư duy nhận thức, có thể tìm được sựthật và chân lí Chân lí và sự thật phải được từng người xác minh, và người kiểm chứng cầnphải tìm đủ thông tin để chứng minh chân lí đó

Những mặt nội dung bị cấm và cho phép:

Phỉ báng cá nhân, gây hiềm khích giữa các sắc tộc, tôn giáo.

Nội dung khiếm nhã, khiêu dâm.

Trang 9

Người theo thuyết tư do có quyền từ bỏ tự do để chính phủ kiểm soát truyền thông nhằm hạn chế các hoạt động truyền giáo nổi loạn, phạm pháp.

Vận hành hệ thống truyền thông báo chí tự do:

Chính phủ có nghĩa vụ ra sức tạo điều kiện để mọi tổ chức, cá nhân đủ tiềm lực kinh

tế đều được tham gia hoạt động truyền thông Triển khai tranh luận tự to để tiếp cận sự thật.Học thuyết tự do tin rằng, nếu cá nhân tiếp xúc với nhiều thông tin, cả đúng và sai thì côngchúng sẽ tự tìm ra được thông tin phù hợp với nhu cầu của bản thân và đúng với quy tắc của

xã hội Giảm thiểu tác động quyền lực của nhà nước đối với truyền thông Truyền thông cungcấp thông tin và giải trí cho công chúng, đồng thời kinh doanh và quảng cáo nhằm trở nênđộc lập với chính phủ Môi trường truyền thông được vận hành theo nguyên lý tự do, cácphương tiện truyền thông sẽ được tư hữu hóa và cạnh tranh trong thị trường tự do, nhà nướckhông được tham gia vào cuộc chơi mà phải có chức năng tạo ra sân chơi lành mạnh và duytrì cơ cấu để các cá nhân và tổ chức tự do tương tác với nhau

Tuy nhiên, tự do nào cũng đều có giới hạn, bên cạnh những mục cấm đối với truyềnthông Nhà nước vẫn sử dụng các biện pháp kiểm soát báo chí trong một chừng mực nhằmtránh các hành vi bạo loạn, xuyên tạc, kích động trong quần chúng Tiêu biểu là hệ thống điệnbáo, hệ thống tòa án, kiểm soát xuất nhập khẩu, thuế quan

Do truyền thông được vận hành theo mô hình tự do nên vẫn còn một số vấn đề tồnđọng Điển hình là xung đột giữa nhà nước và báo chí, quyền lực báo chí và quyền lực nhànước luôn ở hai đỉnh cực đối đầu nhau để giành lợi ích Điều này dễ gây ra các cuộc nộichiến, bạo động dẫn đến mất đoàn kết trong quần chúng, tạo cơ hội bùng nổ chiến tranh xâmlược Vì thế, tự do ngôn luận chỉ phù hợp trong thời bình, so với bối cảnh thời chiến XVII-XVIII cần có sự nhất quán trong tư tưởng, và điều tiết trong tự do ngôn luận Tiêu biểu làcuộc nội chiến ở Mĩ (1861-1865), và lần lượt các cuộc chiến tranh nổ ra trên khắp châu Âucũng như trên thế giới trong XIX – XX đã khiến cho học thuyết tự do gặp nhiều trở ngại, vàtụt hậu lại phía sau

Kết Luận:

Thuyết Tự Do là một trong những học thuyết được phổ biến và hướng đến nhiều nhấttrên các quốc gia Nó trở thành nguyên lý xây dựng hoàn mĩ nên nhiều nền truyền thông Tuynhiên, thuyết Tự Do vẫn còn mặt hạn chế, nếu ở các nước kém phát triển hay đang phát triển

sẽ rất khó khăn khi du nhập tư tưởng tự do báo chí của phương Tây

Trang 10

C Thuyết Trách nhiệm Xã Hội

Với sự xuất hiện của những biến chuyển xã hội và lịch sử ở nửa cuối thế kỷ XIX vàkhoảng đầu thế kỷ XX đã dẫn đến sự biến đổi khác dần khỏi chủ nghĩa tự do thuần túy, thếchỗ vào chính là một học thuyết được gọi là “học thuyết Trách nhiệm Xã hội” Học thuyếtnày phát triển dựa trên bốn yếu tố lớn: Cuộc cách mạng kỹ thuật và công nghiệp, Sự đe dọađối với việc quản lí nhà nước cua chính phủ, Sự ngờ vực những giả định cơ bản của Thời kỳÁnh sáng và Sự phát triển của tinh thần nghề nghiệp

Nội dung triết lý:

Thuyết Trách nhiệm Xã hội được xây dụng trên nền tảng học thuyết truyền thông Tự

do Nhưng nếu ở Thuyết tự do khẳng định quan điểm phải tách biệt truyền thông ra khỏi sựkiểm soát chặt chẽ của chính phủ thì thuyết trách nhiệm xã hội lại bổ sung rằng truyền thôngphải có trách nhiệm với xã hội Cuốn sách tiêu biểu có vai trò quan trọng đặc biệt để củng cốquan điểm này là “Tự do báo chí: Một bộ khung nguyên tắc” bởi tác giả William E Hocking

Dựa trên nền tảng của học thuyết Tự Do Thuyết Trách nhiệm xã hội cũng cho rằngcon người có đạo đức và tư duy, nhưng lại nghi ngờ khả năng động lực đi tìm sự thật của conngười Bên cạnh đó, học thuyết này cũng chấp nhận vai trò của truyền thông trong việc cungcấp các hình thức nội dung “giải trí”, với điều kiện những nội dung đó phải tốt Bởi lẽ, vì bảnchất tự nhiên mà con người có thể dễ dàng bị thao túng, trở thành nạn nhân của sự lừa dối vàcám dỗ nếu không được định hướng đúng đắn do các thế lực lớn lợi dụng thuyết Tự nhằmmục đích cá nhân cũng như kiểm soát truyền thông đại chúng vì tư lợi

Mục đích của thuyết Trách nhiệm Xã hội nhằm vạch ra một hướng đi và những suynghĩ tự do mà báo chí hướng đến Do báo chí thời kì XX vẫn có nhiều mặt trái như đã nêutrên, gây nên sự xung đột đối với sự thay đổi và phát triển của xã hội Bên cạnh đó, thuyếtTrách nhiệm Xã hội còn có chức năng lên án và công khai các hoạt động báo chí truyền thông

có vấn đề, điều tra và phúc đáp đơn kiện của công chúng, góp phần củng cố những lợi ích củatruyền thông đem lại

Những mặt bị cấm:

Can thiệp sâu sắc vào các quyền cá nhân được xã hội công nhận và các lợi ích cơ bản của xã hội.

Vận hành hệ thống kiểm soát:

Trang 11

Nhờ có sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng như đã áp dụng thuyết Trách nhiệm

Xã hội mà phạm vi đối tượng sử dụng đã được mở rộng hơn đáng kể; tức những ai có nhucầu thể hiện ý kiến, quan điểm cá nhân thì đều được sử dụng các phương tiện truyền thôngđại chúng Phạm vi người sử dụng được mở rộng đã dẫn đến sự ra đời của các quy tắc ngành– quy định nghiêm ngặt về trách nhiệm của các cá nhân thuộc nội bộ ngành: phải đảm bảovới nghề nghiệp của mình cũng như với toàn xã hội trên yêu cầu truyền thông phải nhanhchóng, trung thực, súc tích, thông minh và đem đến ý nghĩa thực sự đối với những sự việc,thông tin; phục vụ nhu cầu trao đổi, bình luận và phê phán của công chúng cũng như cungcấp một bức tranh đại diện cho những nhóm cấu thành xã hội Từ đó truyền tải tốt những mụctiêu và giá trị của xã hội

Bên cạnh đó, bản thân chính phủ - nhà nước cũng phải can thiệp vào thị trường truyềnthông, biết chọn lọc và loại bỏ những nội dung phản cảm, thiếu đúng đắn, điều tiết các hành

vi của các công ty ngoài nhà nước để tránh thị phần bị thâu tóm bởi các công ty đó, điều mànếu xảy ra sẽ dẫn đến hiện tượng độc quyền Tuy nhiên, nhà nước cũng cần phải lưu ý đểtránh không xâm hại đến các quyền tự do ngôn luận, bởi quyền tự do ngôn luận và tự do báochí là những quyền lợi đúng đắn mà nhà nước không thể xâm phạm

Dẫu vậy, tuy tự do thể hiện quan điểm cá nhân là một quyền được công nhận trên toànthế giới, thì công dân vẫn không thể dựa vào đó để tiếp cận với bất kỳ đối tượng nào củatruyền thông đại chúng Nghĩa là, công dân không thể cứ yêu cầu như thể đó là một đặcquyền có sẵn của bản thân, rằng các phương tiện truyền thông phải truyền tải những gì màcông dân nói

Hơn thế nữa, quyền tự do ngôn luận cũng đi đôi với quyền được sai cũng như phải biếtchịu trách nhiệm trước lỗi sai Tồn tại ít nhất hai lý do chính đáng để chấp nhận được nhữngsai sót này: (1) Học thuyết Trách nhiệm Xã hội, giống như học thuyết Tự do thì việc tìm kiếmrồi lan tỏa sự thật cần có nền tảng là một sự tự do lớn; (2) Mỗi cá nhân có quyền đảm bảorằng người đó đã tìm ra sự thật thông qua sự khám phá của riêng mình chứ không dựa vào sựsắp xếp, áp đặt của bất kỳ một thế lực nào khác Tuy nhiên, quyền lợi đúng đắn chỉ dành chonhững sai sót tủng thực Cả những cá nhân đã sai phải có ý thức tìm ra sự thật Chính vì vậy,một người không có quyền có chủ ý hoặc vô trách nhiệm với lỗi sai của mình, bởi như vậy làđồng nghĩa với việc vô trách nhiệm đối với xã hội Giống như Hiệu ứng cánh bướm, dù chỉmột cái đập cánh của con bướm bé nhỏ cũng có thể gây ra sự thay đổi (kể cả khi rất nhỏ)trong điều kiện gốc, dẫn đến kết quả là những sự thay đổi lớn hơn một sai phạm

Trang 12

kể cả khi là không ai trông thấy, cũng có khả năng gây nên những ảnh hưởng bị kéo theo khólường.

Kết luận:

Dòng chảy phát triển của học thuyết truyền thông luôn song hành cùng học thuyết kinh

tế Thuyết truyền thông tự do tương ứng với thuyết nền kinh tế tự do – tối thiểu hóa can thiê ˆp của chính phủ vào thị trường Kế thừa và phát triển là thuyết truyền thông trách nhiê ˆm xã hội tương ứng với nền kinh tế hỗn hợp cho phép chính phủ can thiê ˆp vào thị trường và xã hội, góp phần nắm quyền kiểm soát và điều hướng đại chúng bằng công cụ truyền thông tốt hơn

quyền kiểm soát và điều hướng đại chúng bằng công cụ truyền thông tốt hơn

D Thuyết Toàn trị Soviet

Được hình thành trong thời kì của Marx, Lenin, Stalin và Đảng Cộng sản Liên Xô,phát sinh từ cơ sở học thuyết của nhà triết học Karl Marx; từ nguồn gốc này, hoàn toàn là dễhiểu khi học thuyết Toàn trị Soviet được áp dụng triệt để trong nhà nước Liên bang Sovietdưới thời của Lenin và người kế thừa là Stalin cũng như phần nào được sử dụng trong chínhquyền phát xít Đức của Adolf Hitler bởi hai chế độ này đều theo một cách nào đấy, hướngvào xã hội nhằm tạo ra một thể thống nhất đồng lòng: với Adolf Hitler thì đó là một đế chếquân phiệt, còn về phía Karl Marx là một xã hội chủ nghĩa nơi mà ai cũng có nghĩa vụ và củacải ngang bằng nhau

Bởi đóng vai trò như một cố vấn toàn diện cho các tầng lớp nhân dân, dẫn dắt họ vượtqua thời kì phong kiến đổ nát, loại bỏ tàn dư của chế độ Tư bản cũng như đi qua thời kì quá

độ, nền tảng của học thuyết này mang một sự tin cậy lớn Từ đó, dễ dàng nhận được sự tựnguyện định hướng cũng như chấp nhận bị kiểm soát từ nhân dân

Nội dung triết lý:

Có thể nói, thuyết truyền thông Toàn trị Soviet là công cụ của nhà nước và Đảng Cộngsản có mối quan hệ chặt chẽ với các công cụ khác Điều này khác biệt với thuyết Độc đoánkhi ở thuyết Độc đoán, quyền lực tập trung hoàn toàn vào tay nhà nước, chính phủ, dẫn đếnviệc độc quyền – độc tài Ngoài ra, thuyết còn mang tính chất nhất quán và nội bộ, tức làthống nhất về nội dung và các nội dung từ ngoài nước không thể thâm nhập vào Từ đó, hỗtrợ giác ngộ nhân dân, tăng sự hiệu quả trong việc tuyên truyền và vận động Và cũng vì tínhchất của thể chế chính trị, mà thuyết Truyền Toàn trị Soviet đòi hỏi sự đồng tình trọn

Trang 13

vẹn và hoàn toàn, thống nhất tư tưởng và chấp nhận tư tưởng đó, tuyệt đối không được phảnđối, kể cả hình thức phản đối ngầm trong tâm tưởng.

Tuy nhiên, trách nhiệm to lớn nhất vẫn là làm sao để đảm bảo quyền tự do cho ngườidân Để giải thích cho điều này, có thể hiểu rằng hình thức tự do kiểu Liên Xô khác với hìnhthức tự do của các nước tư bản mà ta vẫn thường quen thuộc: Tự do báo chí và truyền thông

ở Liên Xô nghĩa là không chấp chứa tư bản, tư tưởng danh vọng hay chủ nghĩa cá nhân tiểu

tư sản vô chính phủ Nghĩa là các tổ chức truyền thông và các nội dung truyền thông đều làcủa đại chúng, thuộc về đại chúng chứ không nằm trong tay của những cá nhân có ưu điểm vềkinh tế Hình thức tự do này không mâu thuẫn với sự can thiệp của chính phủ bởi lẽ, tự dothuộc khuôn khổ nhà nước này luôn làm những điều tốt đẹp cho nhân dân và vì nhân dân

Những mặt bị cấm:

Phê phán bộ máy chính trị và công chức đương nhiệm

Phê phán đường lối của Đảng.

Tuy nhiên, một vấn đề mà hệ thống truyền thông Toàn trị Soviet gặp phải đó là làmsao để đảm bảo cân bằng giữa các nguyên tắc lý thuyết và thực tiễn hoạt động Xét về lýthuyết và nguyên tắc, sự đúng đắn của mô hình nhà nước Liên Xô là hoàn toàn tuyệt đối –theo như Marx và các vị lãnh tụ khác Nhưng khi đi vào hoạt động thực tiễn, truyền thôngphải biết thay đổi quan điểm liên tục theo chỉ thị cấp trên nhằm đảm bảo tốt các mục tiêu củaĐảng Bởi mục tiêu của Đảng Soviet luôn là mệnh lệnh tối cao nhất nên sự nhất quán trongthông điệp truyền thông có thể bị thay đổi liên tục sao cho phù hợp với chỉ thị của Đảng, dẫnđến sự nhất quán không thể đảm bảo Giới truyền thông Soviet luôn phải có khả năng thayđổi quan điểm liên tục, tức là họ có thể dễ dàng kết tội cho một người trước đó bị thần tượnghóa hoặc ủng hộ một chính sách mà bấy lâu nay họ luôn phản đối lại nếu như cái lãnh tụ tốicao đã đưa xuống chỉ thị là “hướng đi” đã bị thay đổi Hệ thống tham gia vào các

Trang 14

công tác truyền thông này là phụ thuộc vào “ý chí của lãnh đạo” và giá trị của những ý chí đóchứ không phải là của cá nhân họ.

Trang 15

PHẦN II: PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM TUYẾN TÍNH THỜI GIAN ĐI CÙNG ĐẶC TRƯNG, NHU CẦU PHÁT TRIỂN CỦA MÔ HÌNH QUẢN LÝ XÃ HỘI TỪ ĐÓ SẢN SINH RA CÁC HỌC THUYẾT TRUYỀN THÔNG TƯƠNG ỨNG.

Trải qua hàng triệu năm tồn tại, loài người – khởi nguồn từ loài vượn cổ đã thích nghi

và tiến hóa thành sinh vật bậc cao nhất, đứng trên đỉnh tháp sinh vật học Con người chính làsản phẩm, sinh vật cao nhất mà tự nhiên từng sản sinh, con người vận động, phát triển thôngqua quá trình lao động, và trong suốt hàng triệu năm thực hiện quá trình lao động ấy, conngười đã tạo ra cả lịch sử, và đặc biệt là xã hội Theo triết học gia C Mác đã từng khẳng địnhrằng: “Xã hội không phải gồm các cá nhân, mà xã hội biểu hiện tổng số những mối liên hệ vànhững quan hệ của các cá nhân đối với nhau” Xã hội chính là hình thức tổ chức vật chất caonhất trong đời sống vật chất của loài người Con người luôn vận động và không ngừng tiếnhóa hình thành nên những hình thái xã hội hoàn thiện, phát triển hơn so với các hình thái xãhội tiền nhiệm Theo quan niệm duy vật biện chứng về xã hội (chủ nghĩa duy vật lịch sử), ởmỗi giai đoạn khác nhau của lịch sử thì sẽ có từng cơ cấu xã hội khác nhau với tên gọi là hìnhthái kinh tế - xã hội, mỗi hình thái kinh tế - xã hội được ra đời sẽ phù hợp với mỗi cột mốclịch sử Tính từ sự xuất hiện của người tinh khôn (Homo sapiens), xã hội đầu tiên đã được rađời, và từ đó loài người đã phát triển, hình thành, trải qua tất cả 5 hình thái kinh tế - xã hộikhác nhau từ thấp đến cao như: Hình thái kinh tế - xã hội nguyên thủy (Công xã nguyênthủy), hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ, hình thái kinh tế - xã hội phong kiến, hìnhthái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, và hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa Dưới

sự phát triển vượt bậc của loài người, trong suốt quá trình hàng triệu năm lao động khôngngừng nghỉ của lực lượng sản xuất, đến khi công cụ lao động bằng kim loại được ra đời, đờisống vật chất của loài người được cải thiện, tạo ra sự dư thừa sản phẩm và dẫn đến quá trìnhhình thành nên giai cấp Cán cân cân bằng của công xã nguyên thủy đã bị phá bỏ, xã hội xuấthiện nên các giai cấp khác nhau và sản sinh ra nhiều hệ lụy về sau này Sự cân bằng của xãhội nguyên thủy đã chấm dứt bởi giai cấp đã được ra đời, đặt hồi kết cho giai đoạn nguyênthủy, đưa lịch sử loài người bước sang một giai đoạn mới với sự xuất hiện của một mô hình

xã hội mới – Nhà nước Nhà nước chỉ được ra đời khi xã hội trở nên giai cấp hóa, có tất cả 4

mô hình nhà nước được sản sinh theo 4 giai đoạn lịch sử khác nhau, khởi đầu chính là môhình nhà nước chiếm hữu nô lệ (nhà nước chủ nô), nối tiếp là nhà nước phong kiến, nhà nước

tư bản, và cuối cùng là nhà nước chủ nghĩa – mô

Trang 16

hình nhà nước cao nhất từng tồn tại 4 kiểu mô hình nhà nước quản lý xã hội này trải dài từthời cổ đại, trung đại và đến cả hiện đại ngày nay, với mỗi mô hình nhà nước khác nhau sẽ cónhững đặc trưng, bản chất riêng biệt, từ đó xã hội cũng dần biến đổi theo cho phù hợp với môhình nhà nước tương ứng Các cá nhân phải thích nghi với nhu cầu của xã hội, dẫn đến nềntruyền thông cũng phải chịu những chế tài, quy tắc xử sự chung của luật pháp do nhà nước(hoặc người đứng đầu) ban hành Chẳng hạn như ở mô hình nhà nước phong kiến độc đoán,nền truyền thông phải hứng chịu những giới luật hà khắc, thậm chí là có phần cực đoan, vô

lý, truyền thông khi đó bị gói gọn trong quyền lực nhà nước, chẳng thể phát triển và phổ biếnrộng rãi đến đời sống xã hội của loài người Truyền thông nói chung và báo chí nói riêng chỉnhư những công cụ hỗ trợ, xúc tiến quá trình tuyên truyền những chính sách, dự án mangđậm tính vị kỉ của nhà nước độc đoán Truyền thông là công cụ thuộc nhà nước, do nhà nước

và vì lợi ích của nhà nước Nhưng quá trình vận động của con người là liên tục, không ngừngnghỉ nên xã hội cũng từng bước chuyển mình sang thể thức mới, xuất hiện nên nhiều thờikhắc chuyển giao lịch sử, và kết quả dẫn đến mô hình nhà nước mới được ra đời

Do lịch sử mang tính tuyến tính thời gian nên các quá trình hình thành nên mô hìnhquản lý xã hội (nhà nước) luôn nối tiếp nhau, từ đó các học thuyết truyền thông cũng nối tiếpnhau về mặt thời gian và kế thừa những thành tựu của nhau, phát triển từ những học thuyếttiền nhiệm trước đó Tuyến tính thời gian là một phương trình thời gian kéo dài liên tục, nốitiếp nhau theo trình tự từ quá khứ trải dài đến hiện tại và vô tận theo tương lai Nền truyềnthông luôn chịu ảnh hưởng của một học thuyết truyền thông nhất định theo mỗi kiểu mô hìnhnhà nước tương ứng và khi nhà nước cũ sụp đổ sẽ kéo theo sự khủng hoảng của học thuyếttruyền thông đó, và một khi nhà nước mới ra đời, nền truyền thông lại tiếp tục chuyển sangmột học thuyết mới Theo như các nghiên cứu phân tích của Fred S Siebert, TheodorePeterson, Wilbur Schramm, có tất cả 4 học thuyết truyền thông tương ứng với 4 cột mốctuyến tính thời gian thuộc 4 mô hình quản lý xã hội khác nhau, gồm Thuyết độc đoán, thuyết

Tự do, thuyết Trách nhiệm xã hội, thuyết Toàn trị Soviet Trong đó thuyết Toàn trị Soviet kếthừa từ thuyết độc đoán và thuyết Trách nhiệm xã hội kế thừa từ thuyết Tự do, đây chính làbiểu hiện cho tính kế thừa của tuyến tính thời gian, tuy nhiên đây không phải sự kế thừa toànphần mà chỉ là sự kế thừa dựa trên nguyên tắc phát triển từ những thành tựu của học thuyếttiền nhiệm, từ đó cải biến cho phù hợp với những quy tắc, định chế của mô hình quản lý xãhội tương ứng Qua đó ta thấy được truyền thông và mô hình quản lý xã hội (nhà nước) có

Trang 17

hội sẽ tạo nên một nền truyền thông mới phù hợp với đặc trưng của xã hội và bản chất của nhà nước

Học thuyết truyền thông độc đoán:

Vốn được xem là học thuyết xuất hiện sớm nhất và phổ biến nhất trên bình diện về cảlịch sử và địa lý Học thuyết này được hình thành từ thời chế độ độc tài và chính trị cầmquyền, trải dài từ thời Plato – triết học cổ đại đến thời Niccolò Machiavelli – triết học phụchưng, được xây dựng dựa trên mô hình xã hội độc tài trong các tác phẩm của các triết học gianhư Hegel, Plato, Machiavelli, Hobbes Thuyết độc đoán đã chi phối hệ thống truyền thôngcủa các triều đại phong kiến phương Tây thế kỉ XVI, XVII, biến nền truyền thông khi đóthành truyền thông độc đoán Đặc biệt là vào thời kì nhà Tudor ở Anh, vương tộc Bourbon ởPháp, quân chủ Hapsburg ở Tây Ban Nha đã sử dụng triệt để học thuyết này như nền móngcho các hệ thống kiểm soát báo chí Sức ảnh hưởng của thuyết Độc đoán là điều không thểphủ nhận, vài thế kỉ sau đó, phần lớn các nước vẫn sử dụng học thuyết này như một thuyết cơbản, nó đã được du nhập vào các quốc gia châu Á, Nam Mĩ,… Có thể nói học thuyết Độcđoán là tiền đề quyết định mô hình truyền thông đại chúng trong một thời gian dài hơn bất kỳhọc thuyết truyền thông nào khác

Cùng với sự tồn tại của học thuyết truyền thông Độc đoán là mô hình quản lý xã hộitheo nhà nước phong kiến với người đứng đầu nhà nước là hoàng tộc Xã hội lúc bấy giờphân chia giai cấp rõ rệt, dẫn đến sự đối lập về quyền lợi cá nhân Cụ thể, truyền thông khi đóthuộc về nhà nước, chỉ có hoàng gia và quý tộc phong kiến với địa vị, chức sắc cao mới đượcphép sử dụng và có nhiều điều kiện để tiếp xúc với truyền thông khi đó Vào thời kỳ thuyếtĐộc đoán bao trùm cả nhà nước phong kiến phương Tây, tri thức được xem như một thứ xa

xỉ thuộc về chính quyền, sự thật và công lý do nhà nước định ra và chỉ có nhà nước mới cóquyền phổ cập tri thức đến quần chúng nhân dân Học thuyết này cũng bãi bỏ năng lực của cánhân, phê phán sự nhận thức của bản thân là ngu muội, lạc lối, mọi cá nhân phải phục tùngtập thể mà hình thức tập thể cao nhất tồn tại trong xã hội chính là nhà nước Vì lẽ đó mànhững cá nhân thuộc tầng lớp thấp trong xã hội đều không có cơ hội, hay nói cách khác làkhông đủ tư cách để khám phá tri thức, cũng như không thể tác động vào nền truyền thôngcủa quốc gia Nhu cầu tìm kiếm tri thức ở mỗi cá nhân đều bị ràng buộc trong mỗi giới hạnnhất định, xảy ra nhiều mặt tranh chấp trong xã hội, người dân cần được tự do tìm kiếm trithức và nói lên quan điểm của mình, nhưng hành động đó trong nhà nước độc đoán

Trang 18

được xem là hành vi chống phá, gây thiệt hại đến lợi ích quốc gia (nhà nước) Thị trườngthông tin khan hiếm, truyền thông chỉ như con cờ phục vụ cho thể chế quốc gia, nói như nhàvăn nổi tiếng người Anh, tiến sĩ Samuel Johson đã nhận định về nền truyền thông độc đoán

“Nếu như không có gì có thể được công bố ngoài những gì chính quyền đã phê duyệt trước

đó, quyền lực luôn là tiêu chuẩn của chân lí; nếu tất cả những người mơ mộng về cải cách đổi mới có thể tuyên truyền dự án của mình, sẽ không thể có sự ổn định; nếu mỗi lời than phiền chính phủ có thể lan truyền sự bất mãn, sẽ không thể có hòa bình; và nếu tất cả những người theo chủ nghĩa hoài nghi về thần học giảng giải những ý tưởng điên rồ của mình, sẽ không thể có tôn giáo” Những nguyên lí cực đoan của thuyết độc đoán đối với các nhà nước

phong kiến phương Tây đương thời đã tác động vào sự phát triển của xã hội, sản sinh ra một

xã hội giai cấp hóa với nhiều xung đột giữa các tầng lớp với nhau về nhu cầu, và điều kiện trithức, đời sống Và một khi xã hội bất ổn, các mâu thuẫn giai cấp ngày một tăng lên đã gópphần làm rung chuyển bộ máy nhà nước cầm quyền, người dân bắt đầu tìm đến sự tự do, các

hệ thống kiểm duyệt, thuế quan và các định chế vận hành hệ thống truyền thông độc đoán rơivào tình thế khủng hoảng trầm trọng Thị trường thông tin hỗn loạn, nhà nước không thể kìmhãm sự phát triển chủ nghĩa tự do, và số lượng ấn phẩm thuộc ngoài biên chế độc đoán xuấthiện ồ ạt, mâu thuẫn xã hội đã lên đến đỉnh điểm, mỗi người đều có mưu cầu lợi ích riêng,dẫn đến mô hình quản lý xã hội khi đó rơi vào thế lưỡng nan Bước vào nửa cuối thế kỉ XVI-XVII, khi mà sự phát triển vượt bậc của công nghệ in ấn đã kéo theo sự xuất hiện của nhiềuphương tiện truyền thông mới, báo chi và truyền thông đang trên đà phát triển nhanh chóng,

số lượng ấn phẩm ngày một tăng lên, khiến cho học thuyết Độc đoán bộc lộ nhiều mặt hạnchế, đầy lỗ hỏng Cùng với sự xuất hiện của truyền thông Tự do đã vượt khỏi tầm kiểm soátcủa nhà nước, vì vậy các phương án kiểm soát đương thời chỉ mang tính chất phòng thủ trước

sự trỗi dậy của học thuyết Tự do

Học thuyết truyền thông Tự do:

Cũng giống như các học thuyết khác học thuyết Tự do được phát triển dựa trênnguyên lí triết học, từ đó tạo ra nền tảng cơ bản cho cấu trúc xã hội và chính trị mà trong đótruyền thông đang hoạt động Trong thế kỉ trước, sau sự sụp đổ của thuyết Độc đoán, mộtphần lớn các nước thuộc "thế giới văn minh" đã tuyên bố tuân theo những nguyên tắc tự do

và bắt đầu sử dụng thuyết Tự do như một cách vận hành thể chế xã hội mới Mục đích chính

Trang 19

lực kinh tế” đều được tham gia vào truyên thông theo nguyên lý kinh doanh tự do Chính vì

tư tưởng có phần tiến bộ, đi ngược lại sự cổ tục, cực đoan mà thuyết Độc đoán từng áp dụng,

sẽ không khó để thấy được sức ảnh hưởng của học thuyết Tự do đối với các nước theo lối vănminh khi đó Nếu như thuyết độc đoán bị phần lớn phê phán vì chính sự độc tài, trống rỗng

mà nó đem lại nhưng thực chất nó là nền tảng của các học thuyết truyền thông sau này thìngược lại thuyết Tự do được xem như một chuẩn mực, một đích chung mà phần lớn truyềnthông đang hướng đến Thế kỷ XVI là thời gian trải niệm và thế kỉ XVII là chứng kiến sựphát triển của các nguyên lý triết học, XVIII là thời kì đưa những nguyên tắc này vào thựctiễn Nước Anh vào thế kỷ XVII được giới triết học nhận định xem đây là cái nôi của nhữngtriết học gia nổi tiếng vào XVII, cuộc cách mạng năm 1688 đã đưa Quốc hội lên nắm quyềntối cao thay cho nhà vua, dẫn đến một bước ngoặt lịch sử mới với một mô hình quản lý xã hộitương ứng với học thuyết truyền thông mới được ra đời Nhờ vào sự lãnh đạo của quốc hội,quyền lực độc tài của nhà nước phong kiến đã bị loại bỏ, tạo ra một thể chế quốc gia mới vớihình thức đa đảng Vào giai đoạn này, nước Anh đã chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi những lí luận

về tình hình xã hội và lí luận triết học chính trị của John Locke, đặc biệt là với những cá nhântheo chủ nghĩa tự do sau này Theo John Locke, cá nhân chính là tiền đề tiên quyết của sựphát triển xã hội và quốc gia, nhà nước chỉ đơn thuần là nơi được nhân dân giao phó, ủy thácquyền lực, đồng thời cũng có thể thu hồi quyền lực Nhà nước không hoàn toàn là tuyệt đối,

nó vẫn tồn tại rất nhiều mặt hạn chế, và quyền lực tập trung không thuộc về nhà nước toànphần Quy luật triết học về khế ước xã hội và quan điểm cách mạng tự do của John Locke đãtrở thành nguồn cảm hứng to lớn cho cả hai cuộc cách mạng Mỹ và Pháp và cả lối hành văncủa ông cũng xuất hiện trong Bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ và Bản Tuyên ngôn Nhânquyền của Pháp Do đó có thể thấy học thuyết truyền thông Tự do được ra đời gắn với chủnghĩa Tự do và được phát triển dựa trên những lí luận, tư tưởng của John Locke sau năm

1688 ở Anh và ở Mỹ, từ đó lan truyền phổ biến khắp các quốc gia khác trên thế giới

Học thuyết Tự do được phát triển khi tầng lớp tư sản, tư sản thành thị chiếm ưu thế sovới tàn dư quý tộc phong kiến ở mô hình nhà nước cũ Thế kỉ XVIII đã đánh dấu cho sự kiệnchuyển giao hoàn toàn các nguyên lí của chủ nghĩa độc đoán sang nguyên lí của chủ nghĩa tự

do Hệ thống kiểm soát báo chí của chủ nghĩa độc đoán đã dấn sụp đổ, nhà thờ không còn là

cơ quan đầu não của báo chí, quyền lực nhà vua không thể điều tiết thị trường thông tin tự

do Thuyết tự do đề cao tính cá nhân của con người, chân lý, sự thật, tri thức

Trang 20

đều có thể do mỗi cá nhân tự tìm tòi, khám phá, nhưng đồng thời phải đủ khả năng chứngminh sự tồn tại của những tri thức đó Nền truyền thông dần chuyển hóa sang thể thức tưnhân, các tòa soạn, nhà in, nhà xuất bản tư nhân xuất hiện ngày càng nhiều kéo theo số lượng

ấn phẩm đã vượt ra khỏi con số khổng lồ Mỗi cá nhân, tổ chức thuộc mọi tầng lớp đủ tiềmlực kinh tế đều có thể tham gia vào thị trường thông tin tự do, không còn sự phân biệt giaicấp như thời kì thuyết độc đoán Nhà nước phải có nhiệm vụ tạo ra các môi trường thích hợpcho nhân dân phát triển bản thân, tìm ra những chân lý, sự thật của riêng mình Vì là nềntruyền thông tự do nên những định chế, quy tắc của pháp luật được loại bỏ đi đa số, ngườidân được phép tự do ngôn luận về mọi mặt, ngay cả chính trị, triết học, tuy nhiên vẫn tồn tạinhững mục cấm như nội dung khiêu dâm, phỉ báng gây hiềm khích giữa các sắc tộc Xã hộikhi đó là một thể thức tự do, với khẩu hiệu là “tự cân bằng” và “thị trường ý tưởng tự do”,đây là thời kì quan trọng trong chặng đường phát triển nền dân chủ, nó đã tạo ra một bướctiến lớn cho cuộc sống hạnh phúc của con người Và hơn hết, quan trọng nhất thuyết tự do đãtrở thành nguyên tắc dẫn đường, soi sáng cho quá trình văn minh hóa ở các nước phương Tâytrong suốt hơn hai thế kỷ Học thuyết tự do phát triển rực rỡ nhất ở Tây Âu vào XVI và XVII,theo Milton và Holmes đều nhấn mạnh tính siêu việt của nguyên tắc tự do và quan điểm cánhân về chân lí nếu hoàn toàn không bị kiểm soát thì sự thật sẽ luôn chiến thắng trong bất kìcuộc đối đầu nào Tuy nhiên tự do nào cũng có giới hạn, và sự tự do ở thuyết tự do đã vượtngoài khuôn khổ cho phép khi sự nắm quyền của các tập đoàn độc tài đang thống trị cả nềntruyền thông khi đó, xã, liên tục xảy ra tranh chấp quyền lực giữa báo chí tư nhân và nhànước, cả hai luôn ở hai đầu đối cực với nhau gay gắt, xã hội xuất hiện nhiều thành phần lợidụng thời cơ để châm ngòi cho nội chiến, tạo tiền đề cho các quốc gia khác thực hiện mưucầu chiến tranh hóa Mãi đến sau chiến tranh thế giới thứ hai (World War II) khi các ngòi nổchiến tranh đi vào hồi nguội lạnh, thì các giá trị của chủ nghĩa tự do một lần nữa được tổ chứcLiên Hiệp Quốc (United Nations) phục dậy để bước lên đài đối chọi với các học thuyết cònlại

Thuyết trách nhiệm xã hội:

Bước dần vào thế kỉ XX đã xảy ra sự chuyển dịch xa dần khỏi chủ nghĩa tự do thuầntúy của thuyết Tự do và bắt đầu xuất hiện nên một học thuyết truyền thông mới với tên gọi

“Học thuyết trách nhiệm xã hội của báo chí” Đây được xem là học thuyết kế thừa từ những

Trang 21

mục tiêu tương tự học thuyết tiền nhiệm là tạo ra một thị trường tự do trao đổi thông tinnhưng thiết lập nên quyền của công chúng đối với thông tin và yêu cầu nhà xuất bản phải cótrách nhiệm đạo đức Có thể nói sứ mệnh của báo chí khi này chính là “quyền được biết củacông chúng” và “trách nhiệm đối với công chúng của báo chí” Đây là một bước tiến bộ sovới thị trường truyền thông đang khủng hoảng của thuyết Tự do Về mặc chức năng của báochí, thuyết trách nhiệm xã hội cơ bản là giống với những điều được John Locke đặt ra tronghọc thuyết tự do với 6 nhiệm vụ cơ bản Điểm đặc biệt ở thuyết trách nhiệm xã hội so với họcthuyết tiền nhiệm – thuyết tự do là ở chỗ thuyết Trách nhiệm xã hội qui định nghiêm ngặt vềtrách nhiệm xã hội của các cá nhân thuộc nội bộ ngành theo nguyên tắc tuân thủ, đảm bảophù hợp với nghề nghiệp của chính mình cũng như với cả xã hội Do học thuyết trách nhiệm

xã hội xuất hiện và phát triển ở các nước tư bản chủ nghĩa Phương Tây nên quyền “tự do”luôn được đặt lên hàng đầu, người dân được quyền tự do ngôn luận, bày tỏ quan diểm mộtcách công khai, hợp pháp, báo chí và truyền thông phần lớn vẫn do tư nhân nắm quyền,nhưng khi xảy ra khủng hoảng, xuất hiện vấn đề gây bất ổn đến xã hội, nhà nước sẽ nhảy vàothực hiện quá trình điều tiết xã hội, khống chế những mâu thuẫn xã hội trở về mức bìnhthường, đảm bảo tuyệt đối dịch vụ cộng đồng và xã hội Xét về mặt xã hội, so với học thuyết

Tự do hạn chế về người có quyền sử dụng truyền thông khi chỉ có những cá nhân có đủ tiềmlực kinh tế mới có đủ tư cách sử dụng thì bước vào thời kì phát triển của học thuyết tráchnhiệm xã hội, phạm vi của thị trường tự do được mở ra rộng hơn, mọi cá nhân thuộc mọi tầnglớp đều có quyền bày tỏ nên tiếng nói của mình, đây là một bước ngoặt trong việc bình đẳngquyền và lợi ích của người dân đối với nền truyền thông quốc gia

Học thuyết trách nhiệm xã hội vào thời kì các nước tư sản những năm 1920, 1930được xem gần như là một học thuyết hoàn hảo khi trao quyền được nói, được biết, được tự dongôn luận, được tự do tham gia vào nền truyền thông quốc gia cho mọi cá nhân, tổ chức, vàkhông bị lệ thuộc vào điều kiện kinh tế như trước Thuyết trách nhiệm xã hội đã mang đếnmột định nghĩa “tự do” thật sự cho người dân, thị trường thông tin không còn bị ràng buộc,thống trị bởi sự bành trướng của các tập đoàn truyền thông như ở thuyết Tự do, sự điều tiết,chấn chỉnh nền truyền thông phù hợp, kịp thời so với các nguyên lý, quy tắc vận hành củanhà nước Tư bản đã giúp cho xã hội tư bản được bình ổn, và phát triển Nhưng do quá trìnhlao động của con người là liên tục, không ngừng nghỉ nên trong quá trình vận động đó, loàingười đã sản sinh ra một tầng lớp mới, một thể chế nhà nước mới và dựa trên

Ngày đăng: 24/05/2022, 07:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[6] Báo chí truyền thông Việt Nam trong tiến trình phát triển và hội nhập – PGS.TS Đinh Văn Hường (VNH3.TB4.25), ĐH KHXHVNV – ĐHQG Hà Nội.Microsoft Word - VNH3.TB4.25 Dinh Van Huong.doc (hochiminhcity.gov.vn) [Đã truy cập 19/12/2021] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Microsoft Word - VNH3.TB4.25 Dinh Van Huong.doc (hochiminhcity.gov.vn)
[7] Phác thảo 80 năm Báo chí cách mạng Việt Nam – PGS. TS Tạ Ngọc Tấn (2021) Phác thảo phân kỳ 80 năm báo chí cách mạng Việt Nam(lyluanchinhtrivatruyenthong.vn) [Đã truy cập 20/12/2021] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phác thảo phân kỳ 80 năm báo chí cách mạng Việt Nam"(lyluanchinhtrivatruyenthong.vn)
[8] Lịch sử báo chí Việt Nam – Theo ZingNhà xuất bản Tổng hợp TPHCM (nxbhcm.com.vn) [Đã truy cập 20/12/2021] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà xuất bản Tổng hợp TPHCM (nxbhcm.com.vn)
Nhà XB: Nhà xuất bản Tổng hợp TPHCM (nxbhcm.com.vn)" [Đã truy cập 20/12/2021]
[9] Báo chí Việt Nam qua các thời kì – Tạp chí KH,CN&MT số 3 năm 2009 VNPost | Báo chí cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ [Đã truy cập 20/12/2021] Sách, tạp chí
Tiêu đề: VNPost | Báo chí cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ
[10] Lịch sử báo chí Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 – Jury Jung (2013)Lịch sử báo chí Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 by Jury Jung (prezi.com) [Đã truy cập 21/12/2021] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử báo chí Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 by Jury Jung (prezi.com)
[11] Các kiểu nhà nước trong lịch sử thế giới – Thích học luật (2021)Trình bày các kiểu nhà nước trong lịch sử thế giới (hocluat.vn) [Đã truy cập 21/12/2021] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trình bày các kiểu nhà nước trong lịch sử thế giới (hocluat.vn)
[12] Bốn học thuyết chi phối hệ thống truyền thông – Bookhunter (2019)Bốn học thuyết chi phối hệ thống truyền thông - BOOKHUNTER - Đọc để nhận thức một thế giới đa chiều (bookhunterclub.com) [Đã truy cập 21/12/2021] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bốn học thuyết chi phối hệ thống truyền thông - BOOKHUNTER - Đọc để nhận thức một thế giới đa chiều (bookhunterclub.com)
[13] Lược sử báo chí Việt Nam từ năm 1865 đến nay – Ngọc Lan, Theo tạp chí Phương Đông (2021)Lược sử báo chí Việt Nam từ năm 1865 đến nay – Viện nghiên cứu phát triển Phương Đông (ordi.vn) [Đã truy cập 21/12/2021] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử báo chí Việt Nam từ năm 1865 đến nay – Viện nghiên cứu phát triển Phương Đông (ordi.vn)
[14] Chế độ toàn trị của nhà nước Xô Viết – Trích Huyền Thoại về một nhà nước tự tiêu vong Chương VIII: Từ chuyên chính vô sản đến chuyên chính của đảng Tác giả : Mai Thái Lĩnh (2013)Thu Vien Ha Si Phu Online [Đã truy cập 21/12/2021] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu Vien Ha Si Phu Online
[15] Hoạt động báo chí cách mạng tại Nam Bộ thời kỳ kháng chiến chống Pháp – ThS. Trần Thị Thu Hương (2018)Hoạt đông báo chí cách mạng tại Nam Bộ thời kỳ kháng chiến chống Pháp (kontum.gov.vn) [Đã truy cập 21/12/2021] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt đông báo chí cách mạng tại Nam Bộ thời kỳ kháng chiến chống Pháp (kontum.gov.vn)
[1]. Bốn học thuyết truyền thông - Fred S. Siebert, Theodore Peterson, Wilbur Schramm (Lê Ngọc Sơn dịch, NXB Tri thức, 2013) Khác
[2] Sapiens: Lược sử về loài người - Yuval Noah Harari (Nguyễn Thủy Chung dịch, NXB Tri Thức, 2019) Khác
[3] Xã hội học về truyền thông đại chúng – Trần Hữu Quang, NXB Đại Học Mở, 2006 [4] Chủ nghĩa tư bản: Lịch sử thăng trầm 120 năm (1900-2020) – GS.TS Trần Thị Vinh, NXB CTQGST, 2019 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG ĐÁNH GIÁ CÔNG VIỆC - NHẬP môn TRUYỀN THÔNG đa PHƯƠNG TIỆN đề tài học THUYẾT TRUYỀN THÔNG ĐANG được áp DỤNG tại VIỆT NAM
BẢNG ĐÁNH GIÁ CÔNG VIỆC (Trang 3)
BẢNG ĐÁNH GIÁ CÔNG VIỆC - NHẬP môn TRUYỀN THÔNG đa PHƯƠNG TIỆN đề tài học THUYẾT TRUYỀN THÔNG ĐANG được áp DỤNG tại VIỆT NAM
BẢNG ĐÁNH GIÁ CÔNG VIỆC (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w