Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty cổ phần vận tải đa quốc gia
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
TÍNH THIẾT YẾU CỦA ĐỀ TÀI
Ngày nay khi hội nhập về kinh tế và xu thế quốc tế hoá đang là xuhướng cơ bản của nền kinh tế thế giới Việt Nam cũng không nằm ngoàivòng xoáy của xu thế hội nhập kinh tế Điều này được thể hiện thông quacải cách kinh tế từ năm 1986, nước ta đã chuyển từ nền kinh tế tập trungbao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Cùng với đó là sựtham gia của nước ta vào các tổ chức kinh tế và đặt quan hệ thương mại vớinhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới Đặc biệt là năm 2006, nước
ta đã chính thức là thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO), điềunày đã mở ra rất nhiều cơ hội cũng như thách thức cho các doanh nghiệptrong nước
Các doanh nghiệp của nước ta từ trước đến nay do vẫn được sự bảotrợ của nhà nước nên chưa có sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp.Hiện nay, khi thực hiện chủ trương mở cửa thị trường để hội nhập kinh tếcủa Đảng và Nhà nước ta thì các doanh nghiệp trong nước đã gặp rất nhiềukhó khăn để duy trì sự tồn tại của mình trên thị trường Lúc này, đã xuấthiện rất nhiều các công ty nước ngoài có tiềm lực mạnh cũng tham gia vàothị trường Việt Nam Điều đó càng đặt ra cho các doanh nghiệp trong nướcphải tìm ra giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanhcủa mình
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Công ty cổ phần vận tải đa quốc gia là một công ty tư nhân hình thành dướihình thức doanh nghiệp cổ phần, là một hình thức mới của nền kinh tế nước
ta hiện nay Công ty cũng không nằm ngoài xu thế hội nhập hiện nay, Công
ty cũng đang rất nỗ lực tìm ra hướng đi vững chắc cho mình trong nền kinh
tế có nhiều sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay Lĩnh vực kinh doanh vận
Trang 2tải là một lĩnh vực có nhiều tiềm năng mà hiện nay Công ty mới chỉ là mộttrong số ít các Công ty kinh doanh lĩnh vực này nên cũng có những thuậnlợi nhất định Công ty đã có nhiều chú ý đến công tác quản lý nhằm đưa rahướng đi đúng đắn và vững mạnh cho công ty Cùng với các kiến thức lýluận được học ở trường và những kinh nghiệm thực tế tìm hiểu tại Công ty
cổ phần vận tải đa quốc gia, được sự giúp đỡ của cán bộ trong công ty vàđặc biệt là sự chỉ bảo, hướng dẫn của thầy giáo PST.TS Mai Văn Bưu, em
đã nghiên cứu và viết đề tài: “Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty cổ phần vận tải đa quốc gia”.
KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Chương I : Một số nội dung lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanhnghiệp
Chương II: Thực trạng hiệu quả kinh doanh tại Công ty cổ phần vận tải đa quốc gia
Chương III: Một số kiến nghị và giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả Kinh doanh tại Công ty cổ phần vận tải đa quốc gia
Trang 3Chương I: Một số nội dung lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp
I - Kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1 Kinh doanh của doanh nghiệp
1.1 Khái niệm về kinh doanh
Thuật ngữ kinh doanh có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau,nhưng nói chung có thể định nghĩa như sau: Kinh doanh là các hoạt độngkinh tế nhằm mục tiêu sinh lợi của các chủ thể kinh doanh
Từ định nghĩa trên có thể thấy hoạt động kinh doanh có các đặc điểmchủ yếu như sau:
Hoạt động kinh doanh phải được thực hiện bởi một chủ thể nhất địnhgọi là chủ thể kinh doanh Chủ thể kinh doanh có thể là cá nhân, hộ giađình hay một tổ chức
Hoạt động kinh doanh phải diễn ra trên thị trường.Thị trường và kinhdoanh luôn đi đôi với nhau Không có thị trường thì sẽ không có hoạt độngkinh doanh
Kinh doanh còn gắn với sự vận động của nguồn vốn nhằm mang lạicác lợi ích kinh tế cho chủ thể kinh doanh Như vậy chủ thể kinh doanhkhông chỉ là người có vốn mà còn phải biết cách làm cho đồng vốn đó vậnđộng không ngừng và ngày càng tăng lên
Ngoài ra còn cách hiểu khác về kinh doanh như sau: “ Kinh doanh làviệc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư,
từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trườngnhằm mục đích sinh lợi”
Theo định nghĩa này, một hành vi được coi là kinh doanh nếu nó đápứng được các yêu cầu sau:
Trang 4Hành vi đó phải mang tính chất nghề nghiệp nghĩa là chủ thể kinhdoanh khi thực hiện một hành vi kinh doanh là họ đã thực hiện nguyên tắcphân công lao động xã hội Họ sống bằng hành vi đó, được pháp luật thừanhận và bảo hộ.
Hoạt động kinh doanh phải diễn ra trên thị trường, theo quan điểmmarketing thì “ thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn cùng
có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham giatrao đổi để thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó”
Mục đích của hoạt động kinh doanh là kiếm lời, dấu hiệu này chothấy hành vi kinh doanh chứa đựng khả năng và yêu cầu cần được thanhtoán mà người kinh doanh luôn theo đuổi mục đích tìm kiếm lợi nhuậntrong hoạt động của mình Đây là dấu hiệu quan trọng để phân biệt hành vikinh doanh với các hoạt động khác như hoạt động quản lý nhà nước, hoạtđộng từ thiện xã hội…
1.2 Vai trò của hoạt động kinh doanh đối với doanh nghiệp
Kinh doanh là hoạt động cốt yếu của doanh nghiệp Trong điều kiệnsản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường thì để tồn tại và phát triển đòihỏi các doanh nghiệp phải kinh doanh có lãi Để có kết quả cao nhất trongsản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải xác định phương hướngđầu tư, biện pháp sử dụng các điều kiện sẵn có về các nguồn nhân tài và vậtlực Muốn vậy các doanh nghiệp cần nắm được các nhân tố ảnh hưởng,mức độ và xu hướng tác động của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh
Doanh nghiệp muốn tồn tại trên thị trường thì phải dựa vào hoạtđộng kinh doanh của mình và hơn thế nữa hoạt động kinh doanh đó phải cólãi Hoạt động kinh doanh có vai trò to lớn với không chỉ doanh nghiệp mà
cả người lao động và nhà nước Khi doanh nghiệp kinh doanh có lãi và cóthể tồn tại trên thị trường thì trước tiên là bản thân doanh nghiệp sẽ có thể
Trang 5tồn tại trên thị trường Ngoài ra còn mang lại nguồn lợi cho các chủ sở hữudoanh nghiệp, người lao động có việc làm và có thu nhập, nhà nước cũng
sẽ thu được các khoản thuế từ hoạt động của doanh nghiệp Sự tồn tại củadoanh nghiệp góp phần tạo đà cho nền kinh tế phát triển hơn
Do vậy hoạt động kinh doanh là nội dung cốt yếu đối với doanhnghiệp và ngoài ra cũng tạo ra hiệu ứng tích cực với nền kinh tế
2 Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
2.1 Khái niệm về hiệu quả kinh doanh
2.1.1 Khái niệm
Hiệu quả là thuật ngữ dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thựchiện các mục tiêu hoạt động mà chủ thể đưa ra và chi phí mà chủ thể phải
bỏ ra để có kết quả đó trong điều kiện nhất định
Từ đó ta có công thức hiệu quả chung là:
Công thức hiệu quả tuyệt đối: E = K – C
Công thức hiệu quả tương đối: E = K / C
Trong đó: K là kết quả nhận được và được đo bằng các đơn vị khác nhau
C là chi phí bỏ ra và được đo bằng các đơn vị khác nhau
E là hiệu quả
Kết quả (K) mà chủ thể nhận được trong quá trình hoạt động củamình càng lớn hơn chi phí (C) bỏ ra bao nhiêu thì càng có lợi bấy nhiêu Vìvậy hiệu quả là chỉ tiêu dùng để phân tích, đánh giá và lựa chọn cácphương án hành động có lợi nhất
Hiệu quả tài chính, còn gọi là hiệu quả sản xuất kinh doanh hay hiệuquả doanh nghiệp là hiệu quả kinh tế xét trong phạm vi một doanh nghiệp.Hiệu quả tài chính phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà doanhnghiệp nhận được với chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được lợi
Trang 6ích kinh tế đó Hiệu quả tài chính là mối quan tâm hàng đầu của các doanhnghiệp và các nhà đầu tư.
2.1.2 Các nguyên tắc xác định hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh được xác định dựa theo các nguyên tắc sau:+ Nguyên tắc 1: Nguyên tắc về mối quan hệ giữa mục tiêu với tiêu chuẩnhiệu quả
Theo nguyên tắc này thì tiêu chuẩn hiệu quả được định ra trên cơ sởcác mục tiêu Với những mục tiêu đặt ra khác nhau thì hiệu quả sẽ khácnhau, khi mục tiêu thay đổi thì tiêu chuẩn hiệu quả cũng thay đổi Tiêuchuẩn hiệu quả được xem như là thước đo để thực hiện các mục tiêu
+ Nguyên tắc 2: Nguyên tắc về sự thống nhất của lợi ích
Một phương án được xem như là có hiệu quả khi nó kết hợp đượctrong đó các loại lợi ích Bao gồm trong đó là lợi ích của chủ doanh nghiệp,lợi ích của xã hội, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, lợi ích vật chất và lợiích tinh thần, lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội
+ Nguyên tắc 3: Nguyên tắc về tính chính xác và tính khoa học
Để đánh giá hiệu quả của các phương án thì cần phải dựa trên một hệthống các chỉ tiêu có thể lượng hoá đuợc và không lượng hoá được Tức làphải kết hợp được phân tích định lượng hiệu quả với phân tích định tính.Khi mà phân tích định lượng chưa đủ bảo đảm tính chính xác và chưa chophép phản ánh được mọi lợi ích cũng như mọi chi phí mà chủ thể quan tâmthì ta không thể thay thế phân tích định lượng bằng phân tích định tínhđược
+ Nguyên tắc 4: Nguyên tắc về tính đơn giản và tính thực tế
Theo như nguyên tắc này thì phương pháp tính toán hiệu quả và hiệuquả kinh tế phải được dựa trên cơ sở các số liệu thông tin đơn giản, thực tế
và dễ hiểu Không nên sử dụng những phương pháp quá phức tạp khi ta
Trang 7chưa có được đầy đủ các thông tin cần thiết hoặc những thông tin khôngđảm bảo được độ chính xác.
2.2 Vai trò của hiệu quả kinh doanh
2.2.1 Hiệu qủa hoạt động sản xuất kinh doanh là mục tiêu và công cụ của quản trị doanh nghiệp
Để bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào được tiến hành thì conngười cần phải kết hợp yếu tố con người và yếu tố vật chất nhằm thực hiệncông việc phù hợp với ý đồ trong chiến lược và kế hoạch sản xuất kinhdoanh của mình trên cơ sở những nguồn lực sẵn có Để thực hiện được điềunày thì bộ phận quản trị doanh nghiệp sử dụng rất nhiều công cụ trong đó
có công cụ hiệu quả sản xuất kinh doanh Hiệu quả sản xuất kinh doanh làchỉ tiêu quan trọng trong đánh giá hoạt động của doanh nghiệp, đánh giánhững điều mà doanh nghiệp đạt được sau khi bỏ ra một khoản chi phí đểthực hiện các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, hiệu quảkinh doanh cao luôn là mục tiêu hướng tới của các doanh nghiệp hiện nay.Việc xem xét và tính toán hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh khôngchỉ cho biết việc sản xuất đạt được ở trình độ nào mà còn cho phép các nhàquản trị tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đạt được Điều đó giúpcho các nhà quản trị tìm ra các nhân tố để đưa ra các biện pháp thích hợptrên cả hai phương diện tăng kết quả và giảm chi phí kinh doanh nhằmnâng cao hiệu quả
Về bản chất, hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh trình độ sử dụngcác nguồn lực đầu vào Do đó, xét trên phương diện lý luận và thực tiễn thìhiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng trongviệc đánh giá, so sánh và phân tích kinh tế nhằm tìm ra một giải pháp tối
ưu nhất để đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận Với vai trò là phươngtiện đánh giá và phân tích hiệu quả kinh tế, hiệu quả hoạt động sản xuất
Trang 8kinh doanh không chỉ được sử dụng ở mức độ tổng hợp, đánh giá chungtrình độ sử dụng các nguồn lực đầu vào ở toàn bộ doanh nghiệp mà cònđánh giá được trình độ sử dụng từng yếu tố đầu vào ở phạm vi toàn doanhnghiệp cũng như đánh giá được từng bộ phận của doanh nghiệp.
2.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Các nguồn tài nguyên trên trái đất đều là hữu hạn và ngày càng cạnkiệt, khan hiếm so hoạt động khai thác và sử dụng hầu như không có kếhoạch của con người Trong khi đó, mật độ dân số của từng vùng, từngquốc gia ngày càng tăng và nhu cầu sử dụng sản phẩm hàng hoá, dịch vụcũng ngày càng nhiều, càng đa dạng và đòi hỏi chất lượng càng cao Sựkhan hiếm đó đòi hỏi con người phải có sự lựa chọn kinh tế nhất Trướcđây khi trình độ phát triển còn thấp, con người đã lựa chọn sự phát triểnkinh tế theo chiều rộng, tức là tăng trưởng kết quả sản xuất trên cơ sở giatăng các yếu tố sản xuất Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, khi đời sốngcon người được nâng cao về chất lượng, cùng với sự phát triển của khoahọc kỹ thuật ngày càng có nhiều phương pháp khác nhau để tạo ra sảnphẩm dịch vụ, cho phép cùng những nguồn lực đầu vào nhất định, người ta
có thể tạo ra rất nhiều loại sản phẩm khác nhau Đó là sự phát triển theochiều dọc nhường chỗ cho sự phát triển theo chiều sâu, sự tăng trưởng kếtquả kinh tế của sản xuất chủ yếu nhờ vào việc cải tiến các yếu tố sản xuất
về mặt chất lượng, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, công nghệ mới, hoànthiện công tác quản trị và cơ cấu kinh tế Nói một cách khái quát đó là nhờvào việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Trong cơ chế thị trường việc giải quyết ba vấn đề kinh tế: sản xuấtcái gì, sản xuất cho ai, sản xuất như thế nào được quyết định theo quan hệcung cầu, giá cả thị trường, cạnh tranh và hợp tác Doanh nghiệp phải tự
Trang 9mình đưa ra chiến lược kinh doanh và chịu trách nhiệm với kết quả kinhdoanh của mình, lúc này mục tiêu lợi nhuận trở thành mục tiêu quan trọngmang tính chất quyết định Trong điều kiện các nguồn lực khan hiếm thìviệc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là yếu tố tất yếu đốivới mọi doanh nghiệp Mặt khác, doanh nghiệp còn luôn phải chịu sự cạnhtranh khốc liệt trên thị trường, nên để tồn tại và phát triển được, phươngchâm của các doanh nghiệp luôn phải là không ngừng nâng cao chất lượng
và năng suất lao động, dẫn đến việc tăng năng suất là tất yếu
2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh
2.3.1 Thu nhập trên tài sản
Chỉ tiêu thu nhập trên tài sản được tính như sau:
Thu nhập trên tài sản Lợi nhuận trước thuế và chi phí tài chính (EBIT) (ROA) Tổng giá trị tài sản bình quân
Trong đó: Lợi nhuận trước thuế và chi phí tài chính(EBIT) lấy số liệu
từ báo cáo kết quả kinh doanh được xác định bằng lợi nhuận kế toán trướcthuế cộng với chi phí tài chính
Tổng giá trị tài sản bình quân Tổng TS đầu kỳ + Tổng TS cuối kỳ
2
Tổng giá trị tài sản được lấy số liệu từ bảng cân đối kế toán
Chỉ tiêu này cho biết bình quân một đồng tài sản tham gia vào quátrình hoạt động của doanh nghiệp thì sẽ tạo ra bao nhiêu lợi nhuận trướcthuế và chi phí tài chính Chỉ tiêu thu nhập trên tài sản cho phép đánh giáthực trạng hoạt động của doanh nghiệp từ số liệu của báo cáo tài chính
Thu nhập trên tài sản là chỉ tiêu quan trọng cho biết vấn đề nằm ởđâu thông qua nghiên cứu hai nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập trên tài sản
là lợi nhuận trước thuế và chi phí tài chính (EBIT) và tổng giá trị tài sảnbình quân Hai nhân tố này có quan hệ thương số nên có thể sử dụng
Trang 10phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến thu nhậptrên tài sản, ta cũng có thể sử dụng kỹ thuật phân tích độ nhạy để kiểm tra
sự thay đổi của ROA khi một trong hai hoặc cả hai cùng biến động
Có thể triển khai công thức thu nhập trên tài sản như sau:
Thu nhập trên EBIT EBIT Doanh thu thuần
TS Tổng TS bình quân Doanh thu thuần Tổng TS bình quân
Mà Lợi nhuận trước thuế và chi phí tài chính (EBIT)
Doanh thu thuần
Thể hiện mức lợi nhuận trên doanh số bán ra khi tiến hành kinh doanh,thường được gọi là tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và tính bằng %
Doanh thu thuần
Tổng giá trị TS bình quân
thể hiện mức doanh thu được tạo ra trên tổng tài sản của doanh nghiệp
Nó còn cho biết vòng quay của tài sản mà doanh nghiệp sử dụng bình quân
Từ việc triển khai chỉ tiêu thu nhập trên tài sản cho thấy thu nhậptrên tài sản phụ thuộc vào tỷ suất lợi nhuận tính trên doanh thu và vòngquay của tài sản Để tăng tỷ suất lợi nhuận trên tài sản thì về mặt lý thuyết
có thể tác động làm tăng một trong hai hoặc cả hai là tỷ suất lợi nhuận trêndoanh thu và vòng quay tài sản Nếu như tỷ suất lợi nhuận trên doanh thunhỏ thì có thể gia tăng vòng quay tài sản và ngược lại Tuy nhiên, trong cơchế thị trường có sự cạnh tranh thì việc gia tăng tỷ suất lợi nhuận trêndoanh thu không phải là điều dễ thực hiện
Trường hợp cả tỷ suất lợi nhuận lẫn vòng quay tài sản đều thấp thìđiều đó có nghĩa doanh nghiệp đang có vấn đề cần xử lý Từ đó cần cónhững biện pháp phù hợp để giúp doanh nghiệp có thể tăng trưởng ở cácthời kỳ sau đó
Trang 112.3.2 Thu nhập trên vốn chủ (ROE)
Chỉ tiêu thu nhập trên vốn chủ được tính theo công thức sau:
Thu nhập trên vốn chủ Lợi nhuận sau thuế (LNst)
(ROE) Vốn chủ sở hữu bình quân (VC)
Trong đó: Lợi nhuận sau thuế lấy số liệu từ báo cáo kết quả kinh doanhchỉ tiêu lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu đầu kỳ + Vốn chủ sở hữu cuối kỳ bình quân 2
Vốn chủ sở hữu đầu kỳ và cuối kỳ được lấy số liệu từ bảng cân đối kếtoán
Chỉ tiêu thu nhập trên vốn chủ phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sởhữu của doanh nghiệp, nó cho biết bình quân một đồng vốn chủ sở hữu bỏvào kinh doanh bình quân trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
Phân tích chỉ tiêu vốn chủ có thể triển khai công thức trên trong mốiquan hệ với tỷ suất lợi nhuận sau thuế, vòng quay tài sản và cấu trúc tàichính Cách triển khai được công thức như sau:
ROE LNst LNst DT TS
VC DT TS VC
(1) (2) (3)
Trong công thức trên:
(1) : Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần
(2) : Hệ số quay vòng tài sản
(3) : Hệ số tài sản
Từ phương trình trên cho thấy công thức (1) thể hiện đòn bẩy tài chínhphản ánh chính sách tài chính, các hệ số còn lại phản ánh tình hình hoạtđộng của doanh nghiệp
Trang 12Hiệu quả sử dụng vốn chủ phụ thuộc vào ba nhân tố trên, nếu mộthoặc ba hệ số trên thay đổi thì hiệu quả sử dụng vốn cũng sẽ thay đổi theo.Điều đó cho thấy rằng muốn có hiệu quả sử dụng vốn cao thì tốt nhất là tácđộng vào (1) và (2) tức là cải thiện tình hình hoạt động, nếu không thì phảichuẩn bị phương án thay đổi chính sách tài chính.
- Ngoài ra còn có công thức tính hệ số doanh lợi của doanh thu thuần nhưsau:
HSDLDTT = ∏ / DTT
Trong đó: HSDLDTT : hệ số doanh lợi doanh thu thuần
∏ : lợi nhuận của doanh nghiệp
DTT : doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết một đồng doanh thu thuần sẽ mang lại mấyđồng lợi nhuận Trị số của chỉ tiêu này càng lớn thì chứng tỏ khả năng sinhlợi của vốn càng cao, hiệu quả kinh doanh càng lớn và ngược lại
Trang 132.3.4 Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn cố định hay tài sản cố định
Giá trị bình quân của tài sản cố định trong kỳ là tổng giá trị còn lạicủa tài sản cố định và được tính theo nguyên giá của tài sản cố định sau khitrừ đi phần hao mòn luỹ tiến đến kỳ tính toán Để phân tích hiệu quả sửdụng tài sản cố định thì sử dụng hai công thức tính toán sau:
- Tính sức sản xuất của tài sản cố định:
- Tính sức sinh lợi của tài sản cố định:
SSLTSCĐ = LNST / nguyên giá bình quân TSCĐ
Trong đó: SSLTSCĐ : sức sinh lợi tài sản cố định
LNST : lợi nhuận sau thuế
Chỉ tiêu này cho biết đơn vị nguyên giá bình quân của tài sản cố địnhđem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế, chỉ tiêu này càng lớn thì chứng
tỏ hiệu quả sử dụng tài sản cố định càng cao và ngược lại Khi nghiên cứuhiệu quả sử dụng vốn cố định có thể thấy các nguyên nhân của việc sửdụng vốn cố định không có hiệu quả thường là đầu tư tài sản cố định quámức cần thiết, tài sản cố định không sử dụng chiếm tỷ trọng lớn và sử dụngtài sản cố định với công suất thấp hơn mức cho phép
2.3.5 Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
Chỉ tiêu này được phản ánh qua hai chỉ tiêu:
- Sức sản xuất của tài sản tài sản lưu động:
Trang 14SSXTSLĐ = tổng giá trị sản xuất / tài sản lưu động bình quân
Trong đó: SSXTSLĐ : sức sản xuất tài sản lưu động
Chỉ tiêu này phản ánh một đơn vị tài sản lưu động bình quân sẽ đem lạimấy đơn vị tổng giá trị sản xuất Sức sản xuất của tài sản lưu động càng lớnthì hiệu quả sử dụng tài sản lưu động càng cao và ngược lại
- Sức sinh lợi của tài sản lưu động:
SSLTSLĐ = LNST / tài sản lưu động bình quân
Trong đó: LNST : lợi nhuận sau thuế
Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị tài sản lưu động bình quân đem lạibao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này càng lớn thì càng chứng tỏkhả năng sử dụng tài sản lưu động càng cao và ngược lại
II – Các nhân tố quản lý ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1 Các nhân tố quản lý theo quá trình
1.1 Chiến lược và sách lược kinh doanh
1.1.1 Lập chiến lược kinh doanh
Lập chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là một quá trình quản trịnhằm tạo ra và duy trì sự ăn khớp về chiến lược giữa các mục tiêu, khả năngcủa doanh nghiệp với các cơ hội marketing đầy biến động
Quá trình lập chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm cácnội dung sau:
+ Xác định cương lĩnh của doanh nghiệp: Cương lĩnh của doanh nghiệp làphương châm hành động mà doanh nghiệp luôn theo đuổi Cương lĩnh địnhhướng hoạt động và mục tiêu của doanh nghiệp
+ Đề ra nhiệm vụ của doanh nghiệp: Cương lĩnh của doanh nghiệp cần được
cụ thể hoá thành các nhiệm vụ rõ ràng
Trang 15+ Kế hoạch phát triển các lĩnh vực kinh doanh: Để lập chiến lược kinhdoanh chung của doanh nghiệp thì cần phải đánh giá hoạt động của từng bộphận, nhãn hiệu, chủng loại hàng hoá…Sau đó cần đánh giá nhằm phát hiệnkhả năng sinh lời của từng bộ phận, từng chủng loại hàng hoá, từng nhãnhiệu và từng mặt hàng…Từ đó sẽ có kế hoạch phát triển hay thu hẹp bộphận, hàng hoá nào đó để phân bổ nguồn lực cho hợp lý.
Để có được sự đánh giá chính xác cần dựa vào các chỉ tiêu xem xétsau:
+ Qui mô, sự tăng trưởng của thị trường
+ Khả năng cạnh tranh về giá cả và sản lượng của doanh nghiệp
+ Chiến lược phát triển của doanh nghiệp
+ Mức độ am hiểu thị trường
+ Mức lợi nhuận thu được từ thị phần đó
Từ những sự xem xét đánh giá trên thì doanh nghiệp có thể phát triểntheo ba hướng như sau:
+ Chiến lược phát triển hợp nhất
+ Chiến lược phát triển theo chiều sâu
+ Chiến lược phát triển theo chiều rộng
1.1.2 Quản lý chiến lược
Quản lý chiến lược được hiểu là quá trình nghiên cứu các môi trườnghiện tại cũng như tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức Đề ra,thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt được các mụctiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như tương lai
Hay quản lý chiến lược còn được hiểu là một quá trình quản lý baogồm lập kế hoạch chiến lược và thực thi chiến lược đó
Vậy quản lý chiến lược có thể phân thành hai giai đoạn:
Trang 16Giai đoạn 1: Lập kế hoạch chiến lược gồm việc xác định mục tiêu và hìnhthành chiến lược.
Giai đoạn 2: Thực hiện chiến lược gồm việc quản lý hành chính và kiểm trachiến lược
Việc xác định mục tiêu nhằm mục đích chính là chuyển hoá sứ mệnh
và định hướng của tổ chức thành cái cụ thể để đo lường kết quả hoạt độngcủa tổ chức trong ngắn hạn và dài hạn Ngoài ra để xác định được mục tiêucòn cần căn cứ vào các nguồn lực hiện tại và nguồn lực tương lai có thể huyđộng được Việc xác định mục tiêu được đặt ra cho tất cả các nhà quản lý vàcác bộ phận của tổ chức
Mục tiêu chính và mục tiêu chiến lược là hai mục tiêu quan trọnghàng đầu với tổ chức Mục tiêu tài chính quan trọng vì kết quả của hoạtđộng tài chính khả quan là điều cốt yếu đối với sự sống còn của tổ chức.Mục tiêu của chiến lược là rất cần thiết vì nó chỉ ra định hướng phát triểnnhằm giúp cho tổ chức khẳng định được vị trí của mình trong môi trườnghoạt động
Chiến lược hình thành chính là công cụ quản lý để có thể thực hiệncác mục tiêu chiến lược nhiệm vụ, hình thành chiến lược được bắt đầu vớiviệc phân tích thực trạng bên trong và bên ngoài tổ chức
Việc thực hiện chiến lược liên quan trước tiên tới công tác quản lýhành chính, công tác này bao gồm các công việc như sau:
+ Xây dựng một tổ chức có đủ khả năng và điều kiện để thực hiện thànhcông chiến lược
+ Xây dựng ngân sách để phân chia các nguồn lực cho mọi hoạt động của tổchức
+ Động viên, khuyến khích con người trong tổ chức nhằm thu hút họ hănghái theo đuổi các mục tiêu đề ra của tổ chức
Trang 17+ Ban hành một số chính sách và thủ tục nhằm hỗ trợ chiến lược.
+ Mục đích của quản lý hành chính là cố gắng tạo ra sự gắn kết giữa cáchthức sử dụng với phong cách làm việc để tạo hiệu quả cao
+ Kiểm tra chiến lược nhằm theo dõi và đánh giá hướng đi hiện tại của tổchức, những biến động của môi trường và ảnh hưởng của biến động đó đốivới tổ chức
Như vậy quản lý chiến lược là một quá trình liên tục Sự biến đổi củanhững yếu tố bên trong và bên ngoài của tổ chức là động lực cho nhữngđiều chỉnh chiến lược
1.2 Tổ chức quản lý kinh doanh
Việc tổ chức quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp được thể hiện là
cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp Cơ cấu tổ chức là tập hợp các vị trí côngtác, các bộ phận, phân hệ của tổ chức có mối quan hệ chặt chẽ với nhautheo những tính quy luật nhất định nhằm thực hiện các hoạt động của tổchức để đạt được các mục tiêu và mục đích của tổ chức
Cơ cấu tổ chức có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Khi doanh nghiệp lựa chọn được một cơ cấu tổchức phù hợp sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp khai thác một cách hiệuquả các nguồn lực, tận dụng tối đa các ưu điểm và hạn chế đến mức thấpnhất các nhược điểm của tổ chức để có được mức lợi nhuận cao nhất vàhiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ đạt được mức tối đa Do vậy, để hoàn thiện
cơ cấu tổ chức cần tuân theo các yêu cầu sau:
Trang 18+ Tính hiệu quả
Mỗi một doanh nghiệp đều có một cơ cấu tổ chức riêng phù hợp vớiđặc điểm của doanh nghiệp mình như về loại hình hoạt động, phạm vi hoạtđộng, tính chất hoạt động…Như vậy, khi đã lựa chọn được một mô hình cơcấu tổ chức phù hợp với doanh nghiệp mình sẽ tạo điều kiện cho doanhnghiệp hoạt động tốt nhất, thông tin được truyền đạt nhanh chóng và hiệuquả, mỗi người sẽ biết được quyền hạn, trách nhiệm của mình, điều đó sẽlàm cho hiệu quả công việc tăng lên và hiệu quả sản xuất kinh doanh đượcnâng lên Để có được một cơ cấu tổ chức đáp ứng được tất cả các yêu cầutrên là điều khó có thể thực hiện được Vì vậy mà các doanh nghiệp cầnphải lựa chọn loại hình cơ cấu phù hợp nhất để có thể tận dụng được những
ưu điểm của loại hình đó và phải tiếp tục hoàn thiện cơ cấu tổ chức theohướng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.3 Lãnh đạo, điều hành kinh doanh
Lãnh đạo là một thuật ngữ đa nghĩa, có thể hiểu về lãnh đạo theo cáckhái niệm sau:
Lãnh đạo là quản lý mang tính định hướng, lãnh đạo thực hiện chứcnăng cơ bản: Quyết định sứ mệnh, tầm nhìn và chiến lược cho tổ chức.Quyết định mô hình cơ cấu tổ chức tổng quát, quyết định người đứng đầu
bộ máy quản trị( bộ máy hành chính) của tổ chức Và giám sát hoạt độngcủa tổ chức
Người lãnh đạo là người đứng đầu một hệ thống và chịu trách nhiệmhoàn toàn về hoạt động của hệ thống trước môi trường và bản thân nó
Công tác lãnh đạo, điều hành kinh doanh là việc mà người lãnh đạogiữ vị trí vạch ra đường lối, mục đích của hệ thống, họ khống chế và chiphối hệ thống, hướng hệ thống hoạt động theo hướng sao cho có hiệu quảnhất Công tác lãnh đạo đóng một vai trò quan trọng, công việc của người
Trang 19lãnh đạo có thể đem lại sự thành công hay thất bại của cả một hệ thống bởinếu họ vạch ra được một đường lối hoạt động đúng đắn thì hệ thống sẽ hoạtđộng nhịp nhàng, có sự phối hợp chặt chẽ của các bộ phận từ đó tạo ra mộthiệu quả hoạt động cao Ngược lại, nếu họ không vạch ra được một đườnglối đúng đắn thì cả hệ thống sẽ rơi vào tình trạng khủng hoảng, sẽ dẫn đếnnội bộ hoang mang, thiếu lòng tin ở người lãnh đạo và tất yếu sẽ làm giảmhiệu quả sản xuất kinh doanh.
Do vậy, khi thực hiện công tác lãnh đạo đòi hỏi phải có các cách thứctác động phù hợp và có chủ đích của người lãnh đạo lên con người với cácbiện pháp, nguồn lực thích hợp để đạt được mục tiêu cuối cùng đã đề ra Cónhư vậy thì mới có thể nâng cao được năng suất lao động và hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Người lãnh đạo sẽ tác động lên conngười thông qua một số công cụ sau:
+ Tạo động lực về kinh tế: bằng việc dùng chính sách về tiền lương,tiền thưởng và các khoản thu nhập khác nhằm thúc đẩy người lao động làmviệc có hiệu quả hơn, đồng thời tạo tâm lý ổn định và gắn bó với doanhnghiệp Đây là phương pháp rất quan trọng và gắn bó thiết thực đến quyềnlợi của người lao động Do đó, nó cần được chú trọng và quan tâm hơn nữa
để phát huy cao độ tính tích cực, sự hăng say làm việc của người lao động.+ Tạo động lực thông qua xây dựng văn hoá và môi trường làm việccủa doanh nghiệp: Ngoài động lực kinh tế, người lao động còn có nhu cầuđược làm việc trong một môi trường văn hoá, chuyên nghiệp, bầu khôngkhí làm việc cởi mở, thân thiện, dân chủ và tôn trọng con người Trong thờigian gần đây, phương pháp tạo động lực và tâm lý hăng say lao động củanhân viên rất được các doanh nghiệp chú trọng
+ Các chế độ chính sách: Thông qua các chính sách ngắn hạn và dàihạn, doanh nghiệp thúc đẩy và khuyến khích người lao động cố gắng làm
Trang 20việc đạt hiệu quả cao và ngày càng gắn bó với doanh nghiệp Ví dụ nhưchính sách thưởng thành tích và thưởng sáng kiến, các kế hoạch về thamquan du lịch cuối năm, đặc biệt là công tác thi đua, khen thưởng cuối nămđối với những đơn vị và cá nhân có thành tích cao trong hoạt động sản xuấtkinh doanh.
Từ việc nghiên cứu các tác công cụ tác động tới tinh thần làm việccủa người lao động mà người lãnh đạo doanh nghiệp sẽ lựa chọn các cáchthức tác động tối ưu nhất Thông qua các công cụ và phương pháp tạo độnglực của doanh nghiệp đã tạo tâm lý cho nhân viên an tâm làm việc, ngàycàng gắn bó với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Ngoài ra,phương pháp tạo động lực của doanh nghiệp cũng làm cho hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp tăng lên không ngừng và từ đó lợi nhuậncủa doanh nghiệp cũng được tăng lên
1.4 Kiểm soát, kiểm tra quá trình kinh doanh
Kiểm soát là quá trình giám sát, đo lường, đánh giá và điều chỉnh sựthực hiện nhằm đạt được kế hoạch của tổ chức với hiệu lực và hiệu quả caotrong điều kiện môi trường luôn luôn biến động
Mục đích của quá trình kiểm tra, kiểm soát là làm cho các hoạt độngđạt kết quả tốt hơn, đồng thời kiểm tra giúp phát hiện ra những sai sót, lệchlạc để có biện pháp khắc phục đảm bảo cho các hoạt động được thực hiệnđúng hướng Khi thiết lập hệ thống kiểm tra, các nhà quản lý phải xác định
sự cân đối tốt nhất giữa kiểm tra và quyền tự do của cá nhân, giữa chi phí
để kiểm tra và lợi ích do hệ thống này đem lại cho tổ chức
Nếu nhà quản lý quá coi trọng kiểm tra mà không coi trọng quyền tự
do cá nhân thì việc kiểm tra sẽ trở thành áp lực đối với cá nhân Và khi đócác cá nhân trong doanh nghiệp sẽ làm việc một cách đối phó, không cótinh thần sáng tạo, hăng say trong công việc Hơn nữa, nếu người quản lý
Trang 21quá coi trọng quyền cá nhân mà không chú ý tới việc kiểm tra dễ làm chocông nhân viên trong doanh nghiệp làm việc ỷ lại, thiếu tinh thần làm việctập thể, không có trách nhiệm…Cả hai cách làm trên là không hợp lý vàđều làm cho năng suất lao động giảm, hiệu quả sản xuất kinh doanh khôngcao.
Nhà quản lý cũng cần phải tính toán sao cho hợp lý giữa chi phí bỏ
ra cho quá trình kiểm tra và lợi ích do việc này đem lại Nếu tính toánkhông hợp lý sẽ dẫn đến việc làm suy giảm quỹ tài chính của tổ chức Mặtkhác, nếu việc kiểm tra không hợp lý sẽ làm cho cán bộ công nhân viêntrong doanh nghiệp bị áp lực, luôn lo sợ sẽ bị kiểm tra đột xuất, làm chohiệu quả sản xuất kinh doanh không được cao
Vì vậy, đối với công tác kiểm tra, kiểm soát người quản lý phải cónhững kế hoạch cụ thể để biến công tác kiểm tra thành cơ sở cho việc pháthiện những hạn chế, những tồn tại để kịp thời tháo gỡ và sửa chữa Có nhưvậy mới làm cho công tác kiểm tra thật sự có ích, có hiệu quả và điều đó sẽgóp phần nâng cao niềm tin nơi cán bộ công nhân viên của doanh nghiệpcũng như góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp
Trang 22mình có mà chưa chú ý đến nhu cầu thị trường Từ đó có quan niệm vềmarketing truyền thống là: Marketing là hoạt động kinh tế trong đó ngườibán cố gắng đưa hàng hoá của mình đến người tiêu dùng, hay nói cáchkhác marketing là hoạt động kinh doanh liên quan trực tiếp đến dòng vậnđộng hàng hoá dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng.
Đến những năm 60 của thế kỷ XX, khi mà bối cảnh thị trường cónhiều thay đổi cơ bản: lượng cung lớn hơn cầu dẫn đến khủng hoảng trênthị trường và cùng với nó là sự bắt đầu diễn ra cuộc cạnh tranh gay gắt giữacác nhà sản xuất, kinh doanh Khi đó quan niệm cũ bị phá bỏ, mở đườngcho quan niệm mới về marketing hiện đại ra đời.Tư tưởng cơ bản củamarketing hiện đại là xuất phát từ nhu cầu của khách hàng để định hướngcho mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Marketing hiện đại chorằng “ Marketing là sự phân tích, tổ chức, kế hoạch hoá và kiểm tra nhữngkhả năng câu khách của một công ty cũng như những chính sách và nhữnghoạt động với quan điểm thoả mãn nhu cầu về mong muốn của nhóm kháchhàng đã chọn”.(4)
Từ các khái niệm trên về marketing thì hoạt động quản lý marketing
có thể được hiểu là việc phân tích, xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện vàkiểm tra, đánh giá việc thực hiện các biện pháp đồng bộ nhằm thiết lập, duytrì, củng cố phát triển các mối quan hệ thương mại, mua bán hàng hoá dịch
vụ thoả mãn tối ưu các nhu cầu của khách hàng đồng thời đạt được hiệuquả kinh doanh mong muốn
2.1.2 Các nội dung cơ bản của quản lý marketing
Quá trình quản lý marketing được thực hiện như sau:
a) Phân tích khả năng của thị trường
Bất kỳ một công ty nào cũng đều phải biết cách phát hiện ra nhữngkhả năng mới mở ra của thị trường Bởi không một công ty nào có thể tồn
Trang 23tại mãi khi chỉ sản xuất ra những loại hàng hoá nhất định và ở trên một thịtrường nhất định Các công ty luôn phải tìm kiếm những khả năng thịtrường mới cho mình Để có thể phát hiện và đánh giá những khả năng đóthì các công ty phải làm được những công việc như:
- Phát hiện thị trường mới: Công ty có thể thỉnh thoảng hoặc thường xuyêntìm kiếm những khả năng mới Nhiều công ty chỉ tìm kiếm những ý tưởngmới chỉ bằng cách chăm chú theo dõi những biến động trên thị trường, một
số công ty khác phát hiện thị trường mới bằng những phương pháp chínhthức Dù bằng phương pháp này hay phương pháp khác, các công ty cốgắng tìm kiếm những cơ hội thị trường mới để có thể phát huy những lợithế sẵn có và tồn tại lâu dài
- Đánh giá khả năng của marketing: khả năng marketing của công ty làphương hướng của ngôn ngữ marketing mà từ đó một công ty cụ thể có thểgiành được ưu thế cạnh tranh Trong bước này, người quản lý marketingcần phải biết cách đi đúng hướng để tìm ra được những thị trường mới phùhợp với tính chất hoạt động và kinh doanh của công ty
b) Lựa chọn thị trường mục tiêu
Quá trình phát hiện và đánh giá những khả năng của thị trường thường nảy
ra nhiều mục tiêu mới Nhiều khi nhiệm vụ thực sự của công ty lại là lựachọn những ý tưởng tốt nhất, phù hợp nhất trong số những ý tưởng tốt.Ngoài ra còn cần phải nghiên cứu từng khả năng từ khía cạnh qui mô vàtính chất của thị trường Quá trình này gồm bốn giai đoạn:
+ Đo lường và dự báo mức cầu
+ Phân khúc thị trường
+ Lựa chọn những thị trường mục tiêu
+ Xác định vị trí của mặt hàng trên thị trường
c) Thiết kế hệ thống Marketing – Mix
Trang 24Marketing – Mix là một tập hợp những yếu tố biến động kiểm soátđược của marketing mà công ty sử dụng để cố gắng gây được phản ứngmong muốn từ phía thị trường mục tiêu Marketing – Mix có thể được tómtắt dưới dạng sơ đồ sau:
Marketing - Mix
Hàng hoá phân phối
Giá cả Khuyến mãi
Với các nhân tố của quản lý:
+ Quản lý sản phẩm: sản phẩm muốn được người mua chấp nhận thì nóphải có chất lượng và tính năng tốt, phù hợp với thị hiếu và được ngườimua chấp nhận Các công ty cần phải chú ý để tạo ra những sản phẩm màthị trường cần chứ không phải cố gắng bán những gì mình có Người quản
lý marketing cũng cần phải hiếu được chu kì sống của sản phẩm để đưa ranhững chiến lược marketing phù hợp
+ Quản lý về giá: gía cả có một vai trò rất lớn đối với hoạt động của doanhnghiệp Gía cả là một bộ phận cấu thành marketing hỗn hợp và là công cụcạnh tranh quan trọng của doanh nghiệp Đối với người tiêu dùng thì giá cả
có ảnh hưởng lớn tới quyết định mua hàng hoá dịch vụ của họ Vì thế, việcđịnh giá sản phẩm phải đảm bảo bù đắp đủ chi phí, doanh nghiệp có lãi vàngười tiêu dùng chấp nhận trong điều kiện thị trường luôn biến động vớinhiều cạnh tranh gay gắt
+ Quản lý chiêu thị: Chiêu thị là hoạt động xúc tiến bán hàng của doanhnghiệp trên thị trường nói chung và thị trường mục tiêu nói riêng của doanhnghiệp Mục tiêu của doanh nghiệp là nhằm bán hết được số sản phẩm đãsản xuất ra trong trường hợp có nhiều đối thủ cạnh tranh trên thị trường
Trang 25Nội dung hoạt động chiêu thị của doanh nghiệp: Quảng cáo, xúc tiến bánhàng là các hoạt động gây mối liên hệ giữa doanh nghiệp và khách hàng,
hỗ trợ bán hàng để có thể bán hết sản phẩm trên thị trường
+ Quản lý phân phối: phân phối là toàn bộ hoạt động nhằm đưa sản phẩm
từ nơi sản xuất đến khách hàng một cách tốt nhất
d) Thực hiện các biện pháp marketing
Việc phân tích các khả năng của thị trường, lựa chọn thị trường mụctiêu, xây dựng marketing – mix và thực hiện nó đòi hỏi phải có những hệthống quản trị marketing phụ trợ Cụ thể công ty phải có những hệ thốngthông tin marketing, lập kế hoạch marketing, tổ chức phục vụ marketing vàkiểm tra marketing
2.2 Quản lý hoạt động nghiên cứu và phát triển
2.2.1 Khái niệm
Hoạt động nghiên cứu và phát triển được chia ra làm ba loại:
Nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu được tiến hành nhằm pháthiện ra những thuộc tính mô tả bản chất bên trong của các hiện tượng hay
sự kiện mà người ta quan sát được Nghiên cứu cơ bản chưa được gắn vớimột mục đích, một mục tiêu ứng dụng cụ thể nào cả
Nghiên cứu ứng dụng cũng nhằm để phát hiện ra những tri thức mới,hiểu biết mới nhưng nó lại gắn với một mục đích hoặc mục tiêu ứng dụngnào đó trong sản xuất hoặc cuộc sống
Triển khai thực nghiệm hay được gọi một cách đơn giản là triểnkhai, đề cập tới các công việc được tiến hành một cách có hệ thống nhằmvận dụng những thành quả nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn vào việcsản xuất ra những vật liệu, sản phẩm, thiết bị mới hay là vào việc lắp đặtcác hệ thống, quy trình mới để nâng cấp hệ thống đang được sử dụng
Trang 26Nhờ có các hoạt động nghiên cứu và phát triển mà các hãng mới cóthể đổi mới công nghệ từ đó nâng cao tính cạnh tranh và có sự lớn mạnh.
Quản lý hoạt động nghiên cứu và phát triển một cách có hiệu quả sẽtạo ra những đổi mới trong công nghệ Đổi mới công nghệ tức là đã tạo ramột sản phẩm, dịch vụ hay một quá trình mới, một kỹ thuật mới, một ápdụng mới hay một ý tưởng mới Những đổi mới trong công nghệ góp phầnnâng cao tính cạnh tranh của tổ chức và vì vậy quản lý có hiệu quả nhữnghoạt động nghiên cứu và phát triển có ý nghĩa sống còn nhìn từ góc độchiến lược Hơn nữa, việc tạo ra những đổi mới công nghệ qua hoạt độngnghiên cứu và phát triển cần có những khoản đầu tư tài chính đáng kể Dovậy, quản lý hoạt động nghiên cứu và phát triển là rất cần thiết nhìn từ góc
độ quản lý
2.2.2 Nội dung của quản lý hoạt động nghiên cứu và phát triển
Từ góc độ quản lý chung, quản lý nghiên cứu và phát triển gồm bamảng lớn có liên quan mật thiết với nhau là:
+ Chiến lược và tổ chức nghiên cứu và phát triển
+ Quản lý quá trình nghiên cứu và phát triển
+ Quản lý nguồn lực nghiên cứu và phát triển
2.3 Quản lý sản xuất
2.3.1 Khái niệm
Sản xuất là quá trình sử dụng, chế biến các yếu tố đầu vào như conngười, vật chất, tài chính, thông tin…để tạo thành các đầu ra mong muốn làsản phẩm, dịch vụ cung cấp cho xã hội
Sản xuất là một trong những phân hệ và lĩnh vực hoạt động cơ bản của tổchức, có vai trò trực tiếp và quyết định trong việc tạo ra và cung cấp sảnphẩm, dịch vụ cho xã hội Cũng như các phân hệ và lĩnh vực hoạt độngkhác, sản xuất cũng cần được quản lý Như vậy, quản lý sản xuất cũng là
Trang 27quản lý một lĩnh vực hoạt động thiết yếu trong các tổ chức, đặc biệt làtrong doanh nghiệp Quản lý hệ thống sản xuất sản phẩm và dịch vụ đượccoi là một chức năng cơ bản của doanh nghiệp.
Quản lý sản xuất là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo hayđiều hành và kiểm tra hệ thống sản xuất nhằm thực hiện tốt nhất nhữngmục tiêu sản xuất đã đề ra
Yếu tố trọng tâm của quản lý sản xuất là tác động lên quá trình sửdụng, biến đổi, chuyển hoá các yếu tố đầu vào để tạo ra các sản phẩm vàdịch vụ mong muốn, đáp ứng nhu cầu của xã hội Kết quả hoạt động củadoanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc thiết kế, tổ chức, quản lý quá trìnhbiến đổi này Nhiệm vụ của quản lý sản xuất là thiết kế và tổ chức hệ thốngsản xuất nhằm biến đổi các đầu vào thành các đầu ra sau mỗi quá trình biếnđổi nhưng với một lượng lớn hơn số lượng đầu tư ban đầu
2.3.2 Nội dung chủ yếu của quản lý sản xuất
Quản lý sản xuất với tư cách là một chức năng quản lý theo lĩnh vựcbao gồm các nội dung cơ bản sau:
a)Nghiên cứu và dự báo nhu cầu sản xuất sản phẩm
Nghiên cứu và dự báo nhu cầu sản xuất sản phẩm là nội dung quantrọng trước tiên của quản lý sản xuất Mục đích cơ bản của hoạt độngnghiên cứu và dự báo nhu cầu sản xuất sản phẩm là giúp cho doanh nghiệptrả lời câu hỏi: để đáp ứng nhu cầu thị trường thì doanh nghiệp cần sản xuấtsản phẩm gì? số lượng bao nhiêu? Vào thời gian nào? những đặc điểm kinh
tế kĩ thuật cần có của sản phẩm là gì? Khi trả lời được những câu hỏi trên
sẽ tạo cơ sở thông tin cho việc xây dựng các kế hoạch sản xuất sản phẩm vàxác định năng lực sản xuất mà doanh nghiệp cần có
b)Thiết kế sản phẩm và công nghệ
Trang 28Những thông tin thu được từ dự báo, doanh nghiệp sẽ tiến hành lựachọn thiết kế sản phẩm và công nghệ nhằm đảm bảo đúng những đặc tínhkinh tế kĩ thuật của sản phẩm mà thị trường yêu cầu và phù hợp với khảnăng sản xuất của doanh nghiệp Do có nhiều phương án thiết kế sản phẩm
và công nghệ nên phải đưa ra các tiêu thức để lựa chọn chúng Các tiêuthức đó là:
+ Thiết kế sản phẩm: công việc thiết kế sản phẩm được tiến hànhtheo một trình tự logic nhất định với sự tham gia phối hợp của nhiều cán bộquản lý, chuyên gia và kỹ sư trong những lĩnh vực khác nhau Kết quả củathiết kế sản phẩm là những bản vẽ kỹ thuật, thuyết minh về cấu trúc, thànhphần và những đặc điểm kinh tế - kĩ thuật của sản phẩm Nguyên tắc cơbản nhất của thiết kế sản phẩm là phải thiết kế sao cho người sử dụng cóthể nhận biết được sản phẩm Nguyên tắc cơ bản nhất của thiết kế sảnphẩm là phải thiết kế sao cho người sử dụng có thể nhận biết được sảnphẩm, hiểu được sản phẩm, biết sử dụng sản phẩm, và phù hợp với thị hiếucủa người tiêu dùng
+ Thiết kế công nghệ: Thiết kế công nghệ là lựa chọn và xác địnhquy trình, phương pháp công nghệ chế tạo sản phẩm Giúp doanh nghiệptrả lời câu hỏi phải sản xuất với cách thức như thế nào? Vì mỗi loại sảnphẩm đều đòi hỏi phương pháp và quy trình công nghệ sản xuất tương ứngcho nên những đặc điểm của sản phẩm sẽ là căn cứ quan trọng cho thiết kếquy trình công nghệ
c)Hoạch định năng lực sản xuất và lựa chọn qui trình sản xuất phù hợpNăng lực sản xuất là công suất của máy móc thiết bị và dây chuyềncông nghệ của doanh nghiệp trong một đơn vị thời gian Nó thường được
đo bằng sản lượng đầu ra của một doanh nghiệp hoặc số lượng đơn vị đầuvào được sử dụng để tiến hành sản xuất trong một khoảng thời gian nhất
Trang 29định Hoạch định và lựa chọn công suất là một trong những vấn đề quantrọng nhất ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Công suất quá nhỏ hoặc quá lớn đều dẫn đến những thiệt hại
và lãng phí về vốn và tài sản của doanh nghiệp
Sau khi đã xác định loại sản phẩm và công nghệ chế tạo, doanhnghiệp cần lựa chọn qui trình sản xuất phù hợp và có hiệu quả đối với loạisản phẩm hoặc dịch vụ đã lựa chọn
d) Bố trí sản xuất trong doanh nghiệp
Bố trí sản xuất trong doanh nghiệp là tổ chức, sắp xếp, định vị vềmặt không gian các phương tiện vật chất được sử dụng để sản xuất ra sảnphẩm hoặc cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu thị trường Mục tiêu của nó
là xác định phương án bố trí sản xuất hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi nhấtcho dòng di chuyển lao động, vật liệu, sản phẩm trong quá trình sản xuấttrên cơ sở tiết kiệm diện tích và thời gian di chuyển của từng yếu tố Kếtquả của quá trình này là sự hình thành nên các nơi làm việc, các phânxưởng, các bộ phận phục vụ sản xuất, dịch vụ và dây chuyền sản xuất.e) Lập kế hoạch các nguồn lực
Lập kế hoạch các nguồn lực là việc xây dựng kế hoạch tổng hợp vềkhối lượng sản phẩm cần sản xuất Trên cơ sở đó xác định nhu cầu vềnguyên vật liệu, lao động và năng lực sản xuất nói chung và một cách khoahọc chi tiết về mua sắm nguyên vật liệu cần thiết trong từng thời điểm,nhằm đảm bảo sản xuất diễn ra thường xuyên, liên tục với chi phí thấpnhất
f) Điều độ sản xuất
Điều độ sản xuất là khâu tiếp theo ngay sau khi hoàn thành thiết kế
hệ thống sản xuất và xây dựng kế hoạch sản xuất sản phẩm của doanhnghiệp Nhiệm vụ của khâu này là tổ chức và chỉ đạo triển khai hệ thống sản
Trang 30xuất đã được thiết kế nhằm biến các mục tiêu dự kiến và kế hoạch sản xuấtsản phẩm, dịch vụ thành hiện thực.
Điều độ sản xuất là điều hành tiến độ sản xuất theo thời gian Thựcchất điều độ sản xuất là toàn bộ các hoạt động xây dựng lịch trình sản xuất,điều phối và phân giao công việc cho từng người, từng nhóm, từng máy vàsắp xếp thứ tự các công việc ở từng nơi làm việc nhằm đảm bảo hoàn thànhđúng tiến độ đã xác định trong lịch trình sản xuất
g) Kiểm tra hệ thống sản xuất
Nội dung, mục đích chủ yếu của công tác kiểm tra hệ thống sản xuất là trảlời các câu hỏi sau:
+ Kiểm tra quy trình công nghệ sản xuất có được chấp hành đầy đủ không?+ Kiểm tra chất lượng sản phẩm có đúng với yêu cầu khi thiết kế haykhông?
+ Kiểm tra kỳ hạn tức là xem xét tiến độ sản xuất có được thực hiện theolịch đã đề ra hay không?
+ Kiểm tra năng suất xem có đạt yêu cầu theo định mức đã đề ra chưa?+ Kiểm tra hàng dự trữ có ở mức hợp lý hay không?
2.4 Quản lý tài chính
2.4.1 Khái niệm
Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản, quan trọngtrong hoạt động kinh doanh của các tổ chức Đó là quá trình tìm tòi vànghiên cứu các nguồn lực nhằm biến các lợi ích dự kiến thành hiện thựccho một khoảng thời gian đủ dài trong tương lai Do vậy hoạt động tài chínhcủa bất kỳ một tổ chức nào cũng đều nhằm tối đa hoá lợi nhận, tối đa hoágiá trị tổ chức và tăng trưởng, phát triển
Trang 31Quản lý tài chính được hiểu là sự nghiên cứu các mối quan hệ tàichính phát sinh trong phạm vi hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức để
từ đó ra các quyết định tài chính nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận
Trong những năm qua vai trò của quản lý tài chính đã có nhiều thayđổi Trước đây quản lý tài chính được hiểu là việc đi tìm kiếm các nguồn tàitrợ cho nhu cầu vốn Gần đây, người ta đã chú ý hơn vào việc sử dụng vốn
và một trong những biến chuyển quan trọng nhất của quản lý kinh doanhhiện đại là sự phân tích có hệ thống việc quản lý sự luân chuyển vốn trong
cơ cấu của tổ chức
Nhờ sự triển khai các phương thức kiểm soát tài chính trong tiến trìnhquản lý, chức năng quản lý ngày càng trở thành quan trọng hơn, nó có thể
bù đắp được những khiếm khuyết trong các lĩnh vực khác Nếu các nỗ lựcsản xuất và tiếp thị bị suy yếu thì với phương tiện quản lý tài chính thoảđáng ta có thể phục hối và tái lập lại hiệu quả cho các lĩnh vực yếu kém.Mặt khác trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không có yếu tốnào mạnh hơn yếu tố tiền tệ, vì vậy mà “ thành công của doanh nghiệp hayngay cả sự tồn vong của nó, khả năng và ý muốn duy trì mức sản xuất vàđầu tư vào tài sản cố định hay tài sản lưu động, một phần lớn được xác địnhbởi chính sách tài chính trong hiện tại và quá khứ”
2.4.2 Những nội dung cơ bản của quản lý tài chính
Nội dung của quản lý tài chính về thực chất là việc thực hiện cácchức năng của quản lý tài chính và nó được thể hiện cụ thể ở việc đảm bảo
đủ nguồn tài chính cho tổ chức với sự hợp lý giữa nguồn tài chính dài hạn
và ngắn hạn, cũng như khả năng thanh toán cao, đảm bảo huy động vốn vớichi phí thấp nhất, đảm bảo cho các nguồn vốn huy động được sử dụng tiếtkiệm, có hiệu quả Những nội dung chủ yếu của quản lý tài chính bao gồm: a) Xác định mục tiêu của quản lý tài chính
Trang 32Trong hoạt động của tổ chức, trong việc hoạch định và kiểm soát tàichính, vị trí của nhà quản lý là rất quan trọng vì chỉ khi có kế hoạch đúngđắn mới đảm bảo có định hướng đúng và chỉ khi có quá trình kiểm tra tàichính mới đảm bảo cho các hành động kế hoạch được thực hiện hướng đếncác mục tiêu đã đặt ra một cách có hiệu quả Do vậy, quản lý tài chính hiệnđại nhằm vào những nội dung cơ bản sau:
+ Phân tích - hoạch định và kiểm tra tài chính
+ Quản lý vốn luân chuyển
+ Quyết định đầu tư
+ Đọc các báo cáo tài chính: bộ phận chủ yếu của báo cáo tài chính là bảngtổng kết tài sản( bảng cân đối kế toán) và báo cáo thu nhập( báo cáo kết quảhoạt động kinh doanh) Bảng cân đối kế toán cho biết tình hình tài chínhvào thời điểm cuối năm Bảng báo cáo thu nhập cho biết phương thức kinhdoanh của tổ chức trong một năm và chỉ ra rằng các hoạt động kinh doanh
đó đem lại lợi nhuận hay gây ra tình trạng lỗ vốn
Với những nội dung cơ bản như vậy đòi hỏi nhà quản lý phải đọcđược các báo cáo tài chính để có thể đưa ra những quyết định tài chính phùhợp với vị trí của mình
+ Phân tích các tỷ số tài chính: tỷ số tài chính được chia ra làm bốn loại nhưsau:
Trang 33Các tỷ số về khả năng thanh toán phản ánh khả năng trả nợ ngắn hạncủa tổ chức
Các tỷ số về đòn cân nợ( khả năng cân đối vốn): đòn cân nợ đuợchiểu như là việc điều hành thông qua các khoản nợ vay( dài hạn, ngắn hạn)
để khuếch đại lợi nhuận cho tổ chức Đòn cân nợ được coi như là một chínhsách tài chính có vai trò, vị trí quan trọng dùng để đo lường tỷ lệ sự góp vốncủa chủ sở hữu so với số nợ
Các tỷ số về hoạt động: các tỷ số này dùng để đo lường hiệu quả sửdụng vốn của một tổ chức bao gồm: vốn cố định, vốn lưu động và tổng vốnnói chung Bởi vì kinh tế thị trường đòi hỏi phải so sánh doanh thu tiêu thụvới việc bỏ vốn vào kinh doanh, dưới các loại tài sản khác nhau như tài sản
cố định, tài sản dự trữ, các khoản thu vì giữa các yếu tố đó đòi hỏi phải cómột sự cân bằng nhất định
Các tỷ số về doanh lợi: doanh lợi là kết quả của hàng loạt chính sách
và quyết định của tổ chức, đánh giá khả năng quản lý của một tổ chức và làyếu tố quan trọng trong sự quan tâm của các nhà đầu tư
c) Hoạch định tài chính
Lập kế hoạch tài chính thực chất là dự toán các khoản thu, chi củangân sách Trên cơ sở đó để lựa chọn các phương án hoạt động tài chínhcho tương lai của tổ chức và ấn định sự kiểm soát đối với các bộ phận trong
tổ chức Việc dự toán thu chi đúng đắn và có cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn
sẽ có tác dụng quan trọng đối với kế hoạch sản xuất kinh doanh của tổ chứcnói chung và việc quản lý tài chính nói riêng
d) Kiểm tra tài chính
Kiểm tra tài chính là kiểm tra bằng đồng tiền trong lĩnh vực phânphối của nguồn tài chính để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ Tổ chứckiểm tra tài chính một cách khoa học sẽ giúp cho nhà quản lý nắm chính xác
Trang 34và toàn diện về tình hình tài chính để điều hành và kiểm soát các mặt hoạtđộng sản xuất kinh doanh của tổ chức Qua việc phân tích kiểm tra, đánh giácác chỉ tiêu tài chính, phát hiện kịp thời những tồn tại trong kinh doanh đểnhanh chóng đưa ra các quyết định điều chỉnh hoạt động cho phù hợp vớiđòi hỏi của thị trường, khai thác tiềm lực của tổ chức, bảo toàn và nâng caohiệu quả sử dụng vốn, xây dựng các dự án sản xuất kinh tế và ra các quyếtđịnh tài chính.
e) Quản lý vốn luân chuyển
Quản lý sử dụng vốn là khâu quan trọng nhất trong nội dung hoạtđộng của tài chính, có tính chất quyết định tới mức độ tăng trưởng hoặc suythoái của một tổ chức Quản lý và sử dụng vốn gồm nhiều khâu như xácđịnh nhu cầu vốn, đầu tư, sử dụng và bảo toàn vốn phục vụ cho sản xuấtkinh doanh
f) Quyết định đầu tư tài chính
Quyết định đầu tư là một hành động chủ quan, có cân nhắc của nhàquản lý trong việc bỏ vốn vào một mục tiêu kinh doanh nào đó với hy vọng
là sẽ đưa lại hiệu quả kinh tế cao trong tương lai
2.5 Quản lý nguồn nhân lực
2.5.1 Khái niệm
Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người, gồm có thể lực
và trí lực Nguồn nhân lực trong tổ chức bao gồm tất cả mọi cá nhân thamgia vào bất cứ hoạt động nào, với bất cứ vai trò nào trong tổ chức Trướcđây, việc tận dụng tiềm năng của nguồn nhân lực chủ yếu là về mặt thể lực,trong khi việc khai thác tiềm năng về mặt trí lực còn mới mẻ Hiện naytiềm năng về mặt trí lực của nhân lực đang ngày càng được coi trọng Đặctrưng của nguồn nhân lực của tổ chức được thể hiện bằng các yếu tố cơ bảnsau:
Trang 35+ Số lượng nhân lực: là tổng số người được tổ chức thuê mướn, được trảcông và được ghi vào danh sách nhân sự của tổ chức.
+ Cơ cấu tuổi nhân lực: biểu thị bằng số lượng nhân lực ở những độ tuổikhác nhau
+ Chất lượng nguồn nhân lực: được thể hiện thông qua một số yếu tố chủyếu như trạng thái sức khoẻ, trình độ văn hoá hay trình độ chuyên môn kỹthuật của nguồn nhân lực
+ Cơ cấu cấp bậc nhân lực: gồm số lượng nhân lực được phân chia từ cấpcao cho đến cấp thấp và đến những người lao động, nhân viên trong tổchức Cơ cấu này phản ánh các bước thăng tiến nghề nghiệp của nhân lựctrong tổ chức
Quản lý nguồn nhân lực liên quan đến con người, những nhân tố xácđịnh mối quan hệ giữa con người với tổ chức sử dụng con người đó Quản
lý nguồn nhân lực là một quá trình tuyển dụng, lựa chọn, duy trì, phát triển
và toạ mọi điều kiện có lợi cho nguồn nhân lực trong một tổ chức nhằm đạtđược mục tiêu đã đặt ra của tổ chức đó
2.5.2 Nội dung của quản lý nguồn nhân lực
Quản lý nguồn nhân lực có những nội dung cơ bản sau:
Lập chiến lược nguồn nhân lực: là một quá trình thiết lập hoặc lựachọn chiến lược nguồn nhân lực và các chương trình hoặc các nguồn lực đểthực hiện chiến lược đã đề ra
Định biên: là một trong những hoạt động quan trọng nhất của các nhàquản lý, bao gồm các hoạt động tuyển dụng, lựa chọn, làm hoà nhập và lưuchuyển nguồn nhân lực trong tổ chức
Phát triển nguồn nhân lực: gồm việc đánh giá sự thực hiện, đào tạobồi dưỡng và tạo điều kiện nghề nghiệp cho nguồn nhân lực
Trang 36Trả công cho người lao động: liên quan đến các khoản lương và đãingộ, chỉ mọi phần thưởng mà một cá nhân nhận được sau quá trình lao độngcủa mình.
2.6 Quản lý chất lượng
2.6.1 Khái niệm
Các chủ thể quản lý trong sứ mệnh và tiến trình quản lý của mình đềumong muốn đạt được kết quả cao nhất trong khả năng cho phép nhằm hoànthành các mục tiêu đặt ra Để đạt được mong muốn này thì chủ thể quản lýphải có cách quản lý đúng, phải tạo ra được các sản phẩm quản lý tốt Đó làcách quản lý luôn luôn biết tìm ra các vấn đề và cách xử lý chúng, cái màngười ta thường gọi trong quản lý ngày nay là quản lý chất lượng
Sản phẩm quản lý thường do chủ thể quản lý gián tiếp tạo ra thôngqua các tác động của họ lên đối tượng quản lý, chúng có thể là sản phẩmhữu hình hoặc vô hình
Sản phẩm hữu hình trong quản lý là những hàng hoá, những vật thể
có ích chiếm dụng một khoảng thời gian nhất định với những công dụngnhất định nhằm đáp ứng một hoặc một số nhu cầu của con người, đó lànhững hàng hoá và vật thể có thể đem bán trên thị trường phục vụ chokhách hàng
Sản phẩm vô hình là những dịch vụ, những tiện nghi hoặc các quyếtđịnh có giá trị Các dịch vụ là những sản phẩm không có hình dáng cụ thểnhưng người tiêu dùng nó lại có thể cảm nhận được sự hiện diện của nó khi
sử dụng nó Dịch vụ là một loại sản phẩm đặc biệt, nó có giá trị và giá trị
sử dụng như các sản phẩm thông thường nhưng nó luôn gắn liền với ngườisản xuất ra nó Khi đem bán nó thì người bán là người trực tiếp tạo ra nóvẫn không bị mất nó còn người sử dụng hay người mua nó thì lại đáp ứngđược các nhu cầu mong đợi của mình Các quyết định cũng là những sản
Trang 37phẩm không có hình dáng cụ thể mà người bị nó tác động chỉ có thể cảmnhận được sau một thời gian nhất định Các quyết định có phạm vi tác độngrất lớn, trong toàn bộ tổ chức mà nó tác động.
Vậy, quản lý chất lượng là việc ấn định đúng đắn các mục tiêu pháttriển bền vững của hệ thống, đề ra nhiệm vụ phải làm cho hệ thống trongtừng thời kỳ và tìm ra con đường đạt tới các mục tiêu một cách có hiệu quảnhất
2.6.2 Nội dung của quản lý chất lượng
Vòng tròn Deming là một trong những cách quản lý chất lượng đangrất được chú ý hiện nay
Sơ đồ vòng tròn chất lượng Deming
- Hoạch định chất lượng (Plan): đây là giai đoạn đầu tiên của quản lýchất lượng nhằm hình thành chiến lược chất lượng của cả hệ thống Hoạchđịnh chất lượng chính xác và đầy đủ sẽ giúp định hướng tốt các hoạt độngtiếp theo, nó cho phép xác định mục tiêu và phương hướng phát triển chấtlượng cho cả hệ thống theo một hướng thống nhất, bao gồm:
Điều chình Hoạch định
( Action) ( Plan)
Kiểm tra Thực hiện
( Check) ( Do)
Trang 38+ Xác lập mục tiêu chất lượng tổng quát, chính sách chất lượng mà hệ thốngtheo đuổi.
+ Xác định đối tác mà hệ thống phải làm việc, chủ thể đó sẽ tiêu dùng hoặc
sử dụng sản phẩm mà hệ thống tạo ra
+ Xác định nhu cầu và các đặc điểm nhu cầu của đối tác
+ Phát triển các đặc điểm của sản phẩm thoả mãn nhu cầu của đối tác + Phát triển quá trình có khả năng tạo ra các đặc điểm của sản phẩm
+ Xác định trách nhiệm của từng phân hệ, từng bộ phận của hệ thống vớichất lượng sản phẩm và sau đó chuyển giao các kết quả hoạch định cho cácphân hệ và các bộ phận này
- Tổ chức thực hiện (Do): là quá trình điều khiển các hoạt động tácnghiệp thông qua các hoạt động, kỹ thuật, phương tiện và phương pháp cụthể nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm theo đúng yêu cầu và kế hoạch đãhoạch định Tổ chức thực hiện có một ý nghĩa quyết định đến việc biến các
kế hoạch chất lượng thành hiện thực, nó được thực hiện theo các bước nhưsau:
+ Đảm bảo mọi người, mọi bộ phận và mọi phân hệ trong hệ thống phảinhận thức được một cách đầy đủ các mục tiêu, các kế hoạch phải thực hiệncủa mình và ý thức được sự cần thiết của chúng
+ Giải thích và hướng dẫn cho mọi người trong hệ thống biết chính xácnhững nhiệm vụ, kế hoạch chất lượng cụ thể cần thiết phải thực hiện
+ Tổ chức những chương trình đào tạo và giáo dục cung cấp đầy đủ nhữngkiến thức, kinh nghiệm cần thiết đối với việc thực hiện kế hoạch
+ Cung cấp đầy đủ các nguồn lực ở những nơi và những lúc cần, thiết kếnhững phương tiện kỹ thuật dùng để kiểm soát chất lượng
- Kiểm tra ( check): là hoạt động theo dõi, thu thập, phát hiện vàđánh giá những trục trặc, khuyết tật của quá trình, của sản phẩm, của dịch
Trang 39vụ được tiến hành trong mọi khâu xuyên suốt đời sống của sản phẩm Mụcđích của kiểm tra không phải là tập trung vào việc phát hiện ra những sảnphẩm hỏng, mà là phát hiện những trục trặc, khuyết tật ở mọi khâu, mọicông đoạn, mọi quá trình, tìm kiếm những nguyên nhân gây ra trục trặc,khuyết tật đó để có những biện pháp ngăn chặn kịp thời Những nhiệm vụchủ yếu của việc kiểm soát chất lượng là:
+ Đánh giá tình hình thực hiện chất lượng, xác định mức độ chất lượng đạtđược trong thực tế của hệ thống
+ So sánh chất lượng thực tế với định mức kế hoạch để phát hiện ra sự sailệch và đánh giá sai lệch đó trên các phương tiện kinh tế, kỹ thuật và xã hội.+ Phân tích các thông tin về chất lượng để làm cơ sở cho cải tiến và khuyếnkhích cải tiến chất lượng
+ Đồng thời tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm khắc phục những sailệch đảm bảo thực hiện đúng những yêu cầu ban đầu hoặc thay đổi dự kiến
Sau khi thực hiện quá trình kiểm tra cần rút ra kết luận về hai vấn đề
cơ bản sau:
+ Mức độ tuân thủ nghiêm túc kế hoạch đặt ra
+ Tính chính xác, đầy đủ và khả thi của bản thân kế hoạch
Nếu một trong hai điều kiện trên mà không thoả mãn thì cần phải xácđịnh rõ nguyên nhân để đưa ra được những hoạt động điều chỉnh khác nhaucho thích hợp
- Hoạt động điều chỉnh và cải tiến ( Action): Hoạt động này nhằm làm chocác hoạt động của hệ thống có khả năng thực hiện được những tiêu chuẩnchất lượng đề ra Đồng thời đây cũng là hoạt động đưa chất lượng sảnphẩm thích ứng với tình hình mới nhằm giảm dần khoảng cách giữa mongmuốn của đối tác và thực tế chất lượng đạt được, thoả mãn những nhu cầucủa đối tác ở mức cao hơn