6 Chương 2 : VẬN DỤNG NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUY LUẬT “PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH” TRONG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN HỆ ĐIỀU HÀNH MÁY TÍNH.. 1.2
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP HỒ CHÍ MINH
BÀI TẬP LỚN MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
ĐỀ TÀI:
QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH VIỆC VẬN DỤNG QUY LUẬT
NÀY TRONG HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN.
LỚP DT04 NHÓM 19 HK 193
NGÀY NỘP: 03/09/2020
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Minh Hương
Sinh viên thực hiện Mã số sinh viên Điểm số
Nguyễn Tào Nguyên Phương 1914744
Thành phố Hồ Chí Minh – 2020
Trang 22
I/ PHẦN MỞ ĐẦU 3
II/ PHẦN NỘI DUNG 4
Chương 1 : LÝ LUẬN CỦA TRIẾT HỌC VỀ QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH 4
1.1 Những khái niệm cơ bản 4
1.2 Quy luật phủ định của phủ định trong phép biện chứng duy vật của Triết học Mác - Lênin 4
1.3 Ý nghĩa phương pháp luận 6
Chương 2 : VẬN DỤNG NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUY LUẬT “PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH” TRONG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN HỆ ĐIỀU HÀNH MÁY TÍNH 9
2.1 Sơ lược về lịch sử hình thành hệ điều hành DOS 9
2.2 Quá trình phát triển của MS – DOS thông qua các version khác nhau và sự tương thích của chúng theo quy luật phủ định của phủ định biện chứng 10
2.3 Sự ra đời của hệ điều hành Windows dựa trên sự kế thừa và phát triển hệ điều hành MS – DOS tuân theo quy luật phủ định của phủ định biện chứng 12
2.4 Quy luật phủ định của phủ định và hệ điều hành Linux 15
2.5 Hạn chế 16
III/ KẾT LUẬN 16
IV/ TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 33
I/ PHẦN MỞ ĐẦU
Triết học là một hệ thống lý luận chung nhất của con người về thế giới, là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên xã hội và tư duy Triết học ra đời đầu tiên vào khoảng thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước công nguyên, và đã trải qua các giai đoạn khác nhau với các tư tưởng thích ứng với từng thời kỳ giai đoạn của lịch sử
Triết học Mác - Lênin ra đời cũng như là một tất yếu lịch sử, không chỉ là sự phản ánh thực tiễn xã hội mà còn là sự phát triển hợp logic của lịch sử tư tưởng nhân loại Triết học đó đã khắc phục sự tách rời thế giới quan duy vật và phép biện chứng trong lịch sử của Triết học Triết học Mác - Lênin Ph.Ănghen khẳng định nó là một sự cần thiết tuyệt đối trở thành tư duy quan trọng nhất, cao nhất và thích hợp nhất đối với sự phát triển của khoa học Nó đem đến cho khoa học hiện đại những chức năng có ý nghĩa phương pháp luận trong việc xem xét, luận giải bản thân sự phát triển của mình
Việc nghiên cứu “quy luật phủ định của phủ định”có vai trò hết sức quan trọng đối
với con đường phát triển ở Việt Nam hiện nay và cuộc sống thực tiễn Dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, con đường phát triển của Việt Nam không gì khác là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, để có thể thực hiện thành công mục tiêu này, chúng ta cần hiểu đúng về con đường của sự phát triển Con đường của sự phát triển là con đường quanh co phức tạp, không phải theo đường thẳng mà theo đường xoáy ốc,
có bao gồm cả sự tha hóa, những bước rút ngắn và bỏ qua Chỉ có nhận thức đúng về con đường của sự phát triển, chúng ta mới có thể tìm ra được những giải pháp đưa đất nước vượt qua những thách thức để bứt lên tiến kịp và tiến cùng với thời đại
Trang 44
II/ PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 : LÝ LUẬN CỦA TRIẾT HỌC VỀ QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH
1.1 Những khái niệm cơ bản
● Khái niệm của nhận thức:
Là quá trình phản ánh chủ động, tích cực, sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người, là quá trình tạo thành tri thức về thế giới khách quan trên cơ sở thực tiễn
● Khái niệm của lý luận:
Là một bộ phận của triết học, nghiên cứu bản chất của nhận thức; giải quyết mối quan
hệ của tư duy con người đối với tồn tại, của nhận thức với thực tiễn, của lý luận với thực hành
● Khái niệm của thực tiễn:
Là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội
1.2 Quy luật phủ định của phủ định trong phép biện chứng duy vật của Triết học Mác - Lênin
● Phủ định biện chứng
- Khái niệm: Dùng để chỉ sự phủ định làm tiền đề, tạo điều kiện cho sự phát triển
- Các hình thức của phủ định trong hiện thực khách quan:
+ Phủ định mang tính chất tự phát, ngẫu nhiên hoặc do những nguyên nhân từ bên ngoài tác động dẫn đến sự chuyển hóa - sự xuất hiện cái mới
+ Phủ định do những nguyên nhân từ bên trong, do việc giải quyết những mâu thuẫn từ bên trong bản thân các sự vật, hiện tượng làm xuất hiện cái mới
- Đặc điểm của phủ định biện chứng:
Trang 55
+ Tính khách quan: Sự xuất hiện của cái mới trong phủ định biện chứng là kết quả của quá trình giải quyết mâu thuẫn bên trong sự vật và hiện tượng theo những quy luật khách quan vốn có của nó
+ Tính kế thừa: Là sự vật, hiện tượng mới ra đời dựa trên sự vật, hiện tượng cũ, đồng thời vẫn giữ lại có chọn lọc và cải tạo yếu tố còn thích hợp của sự vật, hiện tượng
cũ, chỉ loại bỏ các yếu tố không còn thích hợp của chúng và bổ sung thêm các yếu tố mới thích hợp cho sự vật, hiện tương mới
● Quy luật và bản chất của “Phủ định của phủ định":
- Quy luật phủ định của phủ định khái quát khuynh hướng phát triển tiến lên theo hình xoắn ốc, thể hiện tính chu kỳ trong quá trình phát triển Trong sự vận động và phát triển vô tận của thế giới đều thông qua phủ định biện chứng, cái mới phủ định cái cũ
Sự vật, hiện tượng cũng vận động qua những lần phủ định như thế, chúng đã tạo ra những khuynh hướng phát triển từ thấp đến cao theo đường xoắn ốc Đường xoắn ốc thể hiện tính kế thừa, tính lặp lại, tính phát triển,… Mỗi vòng xoắn ốc thể hiện tính vô tận của sự phát triển từ thấp đến cao
- Trong bản thân sự vật có 2 mặt: mặt khẳng định và mặt phủ định Hai mặt vừa khẳng định sự tồn tại nhưng đồng thời lại bao hàm khả năng biến đổi và chuyển hóa từ khẳng định đến phủ định và phủ định cái phủ định, đó chính là quá trình xuất hiện cái mới Phủ định biện chứng đòi hỏi phải tôn trọng tính kế thừa, nhưng kế thừa phải có chọn lọc, cải tạo, phê phán, chống kế thừa nguyên xi, máy móc và phủ định sạch trơn chủ nghĩa hư vô đối với quá khứ
● Nhận xét:
- Quy luật phủ định của phủ định đã giúp cho chúng ta hiểu và nên vận dụng chúng như thế nào trong cuộc sống Do đó trong cuộc sống chúng ta phải biết kế thừa những yếu tố tích cực và hợp lý của cái cũ Phủ định hoàn toàn những điều hay, hợp lý của cái cũ là không khách quan, không tôn trọng sự thật, đó là lãng phí Tôn trọng quy luật phủ định biện chứng là cơ sở giúp ta xây dựng thái độ khoa học đối với cái mới, hiểu
rõ về cái mới, cái tiến bộ ra đời phù hợp với quy luật và xu thế phát triển
Trang 66
- Trong nghiên cứu khoa học, quy luật phủ định của phủ định đã góp phần thúc đẩy sự định hướng và phát triển của chúng
1.3 Ý nghĩa phương pháp luận
Thứ nhất, quy luật này chỉ ra khuynh hướng tiến lên của sự vận động của sự vật, hiện tượng; sự thống nhất giữa tính tiến bộ và tính kế thừa của sự phát triển; sau khi đã trải qua các mắt xích chuyển hóa, có thể xác định được kết quả cuối cùng của sự phát triển Thứ hai, quy luật này giúp nhận thức đúng về xu hướng của sự phát triển: Đó là quá trình diễn ra quanh co, phức tạp, không hề đều đặn thẳng tấp, không va vấp, không có những bước thụt lùi
Thứ ba, quy luật này giúp nhận thức đầy đủ hơn về sự vật, hiện tượng mới ra đời phù hợp với quy luật phát triển, biểu hiện giai đoạn cao về chất trong sự phát triển:
- Trong tự nhiên, sự xuất hiện của sự vật, hiện tượng mới diễn ra tự phát
- Trong xã hội, sự xuất hiện mới gắn với việc nhận thức và hành động có ý thức của con người
Thứ tư, tuy sự vật, hiện tượng mới thắng sự vật, hiện tượng cũ, nhưng trong thời gian nào đó, sự vật, hiện tượng cũ còn mạnh hơn Vì vậy, cần ủng hộ sự vật hiện tượng mới, tạo điều kiện cho nó phát triển hợp quy luật; biết kế thừa có chọn lọc những yếu
tố tích cực và hợp lý của sự vật, hiện tượng cũ làm cho nó phù hợp với xu thế vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng mới
Quy luật phủ định của phủ định làm sáng tỏ chiều hướng vận động, phát triển của các
sự vật và có ý nghĩa phương pháp luận trong nhận thức và hoạt động thực tiễn
1 Cái mới nhất định sẽ xuất hiện từ cái cũ nhưng ta không được phủ định sạch cái cũ Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, ta cần lưu ý rằng cái mới nhất định sẽ thay thế cái cũ, cái tiến bộ nhất định sẽ chiến thắng cái lạc hậu Cái mới ra đời từ cái cũ, kế thừa tất cả những gì tích cực của cái cũ Do đó, ta cần chống thái độ phủ định sạch trơn cái cũ
Trang 77
VÍ DỤ: Khi giai cấp phong kiến nắm quyền, trong nội tại của xã hội phong kiến đã có
sự tích lũy tư bản của các địa chủ, thương gia Đó chính là sự tích lũy về lượng Một khi lượng đã được tích lũy đủ thì giai cấp tư sản sẽ thực hiện bước nhảy đó chính là cuộc cách mạng tư sản để lật đổ chế độ phong kiến Đó là quá trình tích lũy dần về lượng, khi đã đủ lượng thì thực hiện bước nhảy để dẫn đến sự thay đổi về chất Và khi chính quyền Tư sản đã thanh lập nó đã phủ định chính quyền phong kiến Mà trước đó chế độ phong kiến đã phủ định chế độ chiếm hữu nô lệ Vậy TBCN chính là cái phủ định của phủ định
2 Chúng ta phải chủ động phát hiện, bồi dưỡng, thúc đẩy cái mới
Trong thực tiễn, ta phải biết phát hiện và quý trọng cái mới, phải tin tưởng vào tương lai phát triển của cái mới Mặc dù cái mới lúc đầu còn yếu ớt, ít ỏi, ta phải ra sức ủng
hộ, bồi dưỡng, phát huy cái mới, tạo điều kiện cho cái mới chiến thắng cái cũ
Trong khi đấu tranh với cái cũ, chúng ta phải biết sàng lọc, gạn đục khơi trong, giữ lấy những gì còn tích cực, có giá trị từ cái cũ, cải tạo cái cũ cho phù hợp với những điều kiện mới Chúng ta phải chống thái độ “hư vô chủ nghĩa” trong khi nhìn nhận, đánh giá quá khứ
VD: Trong quá trình học tập, sau mỗi lần kiểm tra bạn A nhận được điểm dưới trung bình mặc dù bạn đã học bài khá kĩ Khi suy nghĩ về vấn đề này, A đã tự nhận thấy rằng trong giờ học A không nghe giáo viên giảng bài mà làm việc riêng trong lớp, sau đó chỉ chép bài từ trên bảng xuống Khi về nhà A chỉ học trong tập mà không tham khảo qua bất kì bạn bè hay tài liệu nào Rút ra được kinh nghiệm đó kết hợp với việc chăm chỉ có sẵn nên thành tích của A tăng vượt trội sau từng con điểm
3 Phải khắc phục thái độ bảo thủ, loại bỏ những hủ tục trong xã hội
Trong khi chống thái độ hư vô chủ nghĩa, phủ định sạch trơn quá khứ, chúng ta cũng phải khắc phục thái độ bảo thủ, khư khư giữ lại những cái lỗi thời cản trở sự phát triển của lịch sử
Chúng ta phải nhận thức rõ những cái lỗi thời, ví dụ như những hủ tục cũ trong việc cưới xin, tang lễ, hội hè…, quan niệm “có nếp có tẻ” trong việc sinh con… sẽ gây ra nhiều tốn kém và nhiễu nhương
Trang 88
VD: Ngày xưa, tảo hôn được xem như một phong tục tập quán của những dân tộc ít người được lưu truyền và áp dụng cho các thế hệ trẻ Ngày hôm nay, dưới góc độ của khoa học, Đảng và nhà nước ta đã thấy được những hậu quả cho cá nhân và xã hội do
đó đã ngăn cấm và xử lý theo pháp luật nhằm bài trừ hủ tục lạc hậu ra khỏi xã hội Tóm lại: Trong nghiên cứu khoa học, phương pháp luận là một phần vô cùng quan trọng Bởi bản chất của nghiên cứu khoa học là việc luôn sáng tạo và không có giới hạn trong sự phát triển Việc hoàn thiện Phương pháp luận nghiên cứu khoa học sẽ là
cơ sở, tiền đề giúp nhà khoa học, nhà chuyên môn trong các lĩnh vực tìm ra cách tiếp cận mới, tìm ra các phương pháp nghiên cứu mới từ đó xác định hướng đi trong tiến trình nghiên cứu một công trình, một đề tài nghiên cứu khoa học Mang đến những tri thức có giá trị đối với lý luận và thực tiễn giúp nâng cao nhận thức thế giới và cải tạo thế giới
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học là công cụ giúp nhà khoa học, nhà quản lý và thực hành sáng tạo khoa học làm sáng tỏ bản chất và hoạt động nghiên cứu khoa học bởi nó chính là là kết quả của quá trình khái quát lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu khoa học Không những thế, phương pháp luận còn có nghĩa đối với các nhà nghiên cứu bởi nó thể hiện cơ chế tư duy sáng tạo trong nhận thức cũng như các kỹ năng thực hành sáng tạo của họ
Trang 99
Chương 2 : VẬN DỤNG NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUY LUẬT “PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH” TRONG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN HỆ ĐIỀU HÀNH MÁY TÍNH
Thế giới hệ điều hành và máy tính thật là rộng lớn, trong khuôn khổ của bài tiểu luận này, chúng ta chỉ phân tích quá trình phát triển và tương thích từ các hệ điều hành DOS đến Windows/Linus – những hệ điều hành phổ biến và thông dụng nhất trên thế giới – dựa trên quy luật phủ định của phủ định
Như chúng ta thấy ngày nay, máy tính đã trở thành một cụm từ, một phương tiện quen thuộc với mọi người Phần mềm là ngôn ngữ chuyển đổi giữa con người với máy, là những trình phiên dịch giữa máy tính (computer) và người sử dụng, giúp cho người và máy “hiểu nhau” Máy tính không hoạt động nếu không có các chương trình điều khiển (phần mềm) mà đặc biệt là hệ điều hành Đây là những sản phẩm do con người tạo ra dựa trên nguyên tắc kế thừa hoặc xây dựng mới Hệ điều hành là một chương trình chủ đạo đối với một máy tính, dùng để quản lý các chức năng nội trú của máy tính và cung cấp những phương tiện kiểm soát hoạt động của máy Nhờ có hệ điều hành chúng ta mới sử dụng được các thiết bị ngoại vi (bàn phím, chuột, máy in…)
2.1 Sơ lược về lịch sử hình thành hệ điều hành DOS
MS-DOS là tên gọi viết tắt của Microsoft Disk Operating System được hãng IBM đưa
ra tiếp thị đầu tiên vào năm 1981 với tên gọi là PC-DOS MS-DOS bắt nguồn từ hệ điều hành cho các máy tính 9 bit được sử dụng trong những năm cuối thập niên 70 của thế kỷ 20 Đầu tiên MS-DOS chỉ được biên soạn với mục đích thực nghiệm do hãng Seatle thực hiện Mãi đến tháng 7/1981, Microsoft ký hợp đồng biên soạn cho IBM một hệ điều hành tương thích với máy tính IBM-PC, với nhu cầu hiện thời MS-DOS
đã được Microsoft mua lại bản quyền và phát triển thành MS-DOS tương thích cho hệ máy tính IBM-PC, MS-DOS chính thức ra đời, trở thành một trong những hệ điều hành phổ biến và phát triển theo cùng các thế hệ máy tính
Trang 1010
tương thích của chúng theo quy luật phủ định của phủ định biện chứng
MS-DOS là hệ điều hành được thực thi bằng các dòng lệnh, nguyên tắc cơ bản của nó
là đòi hỏi người sử dụng phải đưa các dòng lệnh và thông số vào để gọi nó thực hiện Ngoài ra nó còn có tác dụng thực thi các chương trình khác nhằm đáp ứng mục đích sử dụng cao hơn, đó là lập các tập tin bó (batch file) tự động thực hiện khi gọi tập tin (file)
Theo thời gian MS-DOS đã được liên tục cải tiến với nhiều phiên bản (version) khác nhau, các phiên bản cải tiến này mang tính chất mở rộng và cải tiến hoàn thiện hơn các phiên bản trước nó Sự cải tiến của các phiên bản sau có tính chất kế thừa và phát triển dựa trên các phiên bản trước, nhằm mục đích hoàn thiện hơn cái cũ, tăng thêm những tính năng cho cái cũ chứ không phải thay đổi hoàn toàn cái cũ Do đó ta có thể thấy là quá trình phát triển của MS-DOS qua các version có tính kế thừa và phát triển và chúng tuân theo quy luật phủ định của phủ định biện chứng Cụ thể được thể hiện như sau:
- Đầu tiên là sự cải tiến của version 3.0 so với các version trước nó là có mở rộng thêm chức năng thông báo lỗi sai thông qua các mã, nhờ đó người sử dụng có thể sửa sai, các tính năng và kết cấu đều tuân theo các nguyên tắc thiết kế của các version cũ Tiếp theo đó là version 3.1, 3.2 ra đời và chúng đã kế thừa version 3.0 nhưng có bổ sung thêm một số tính năng mới như cho phép sử dụng qua mạng (xuất hiện ở 3.0), cho phép đọc hiểu và định dạng (format) đĩa mềm 3.5 inch
Do nhu cầu sử dụng tập tin có dung lượng ngày càng lớn và đi từ thực tế khách quan này MS-DOS 3.3 đã ra đời thay thế cho các version trước với chức năng thêm vào là lệnh FASTOPEN, giúp giảm thời gian mở tập tin Cùng với nhu cầu sử dụng tập tin có dung lượng lớn, ổ cứng cũng đã bắt đầu phát triển, do đó đòi hỏi hệ điều hành cũng phải có cách quản lý ổ cứng và phiên bản 3.3 đã đáp ứng được nhu cầu khách quan lúc bấy giờ với tập lệnh FDISK để quản lý, phân chia ổ đĩa cứng thành các đĩa logic Cuối năm 1988, sự ra đời của version 4.0 là một cuộc cải tiến mới cho hệ điều hành DOS cùng với sự phát triển của hệ máy tính mới Version 4.0 với chức năng quản lý
và cho phép sử dụng vùng bộ nhớ mở rộng của máy tính mà các version trước không