Harry Potter của J.K.Rowling là một trong những tác phẩm phép thuật hấp dẫn nhất mọi thời đại và gặt hái được thành c6ng vang dội từ bản truyện cho đến phim chuyển thể. Cuộc hành trình của cậu bé phù thủy Harry Potter cùng những người bạn từ Hogwarts chống lại thế lực hắc ám của Cháu tể Voldemort đã trở thành tuổi thơ của hàng triệu khán giả toàn cầu, trong đó có tôi. Bộ phim Harry Potter đã để lại trong tôi nhiều ý nghĩa, bài học nhân văn sâu sắc và như một phần tuổi thơ không thể nào quên. Chính vì lẽ đó, thông qua đề tài này, tôi muốn giới thiệu bộ phim này như một sản phẩm của văn hóa đại chúng rộng rãi tới tất cả mọi người, không phân biệt lứa tuổi. 2. Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu đặc điểm văn hóa đại chúng thông qua loạt phim điện ảnh ăn khách “Harry Potter” và ảnh hưởng, ý nghĩa của phim tới đời sống xã hội. 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là chuỗi phim điện ảnh Harry Potter với tư cách là một sản phẩm của văn hóa đại chúng. 4. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp phân tích tổng hợp: tìm hiểu, thu thập thông tin từ các tài liệu, sách, báo, internet, youtube,... có liên quan đến đề tài. Từ đó tổng hợp, phân tích trên cơ sở những tư liệu đã thu thập được kèm với các quan điểm cá nhân phù hợp. Phương pháp liên ngành: nghiên cứu bộ phim Harry Potter dưới góc nhìn văn hóa đại chúng và các khía cạnh truyền thông, lịch sử, viễn tưởng,... để làm rõ sức ảnh hưởng của bộ phim này đến với đông đảo công chúng.
Trang 1TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
ĐỀ TÀI: PHIM ĐIỆN ẢNH HARRY POTTER DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
NỘI DUNG 3
1 Khái quát về phim điện ảnh 3
2.Giới thiệu nội dung loạt phim điện ảnh Harry Potter 8
3 Ý nghĩa phim Harry Potter 10
4 Những câu nói tâm đắc trong phim 15
5 Những địa điểm trong phim Harry Potter có thật ở Anh 17
KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Harry Potter của J.K.Rowling là một trong những tác phẩm phép thuật hấp dẫn nhất mọi thời đại và gặt hái được thành c6ng vang dội từ bản truyện cho đến phim chuyển thể Cuộc hành trình của cậu bé phù thủy Harry Potter cùng những người bạn từ Hogwarts chống lại thế lực hắc ám của Cháu tể Voldemort đã trở thành tuổi thơ của hàng triệu khán giả toàn cầu, trong đó
có tôi Bộ phim Harry Potter đã để lại trong tôi nhiều ý nghĩa, bài học nhân văn sâu sắc và như một phần tuổi thơ không thể nào quên Chính vì lẽ đó, thông qua đề tài này, tôi muốn giới thiệu bộ phim này như một sản phẩm của văn hóa đại chúng rộng rãi tới tất cả mọi người, không phân biệt lứa tuổi
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu đặc điểm văn hóa đại chúng thông qua loạt phim điện ảnh ăn khách
“Harry Potter” và ảnh hưởng, ý nghĩa của phim tới đời sống xã hội
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là chuỗi phim điện ảnh Harry Potter với tư cách là một sản phẩm của văn hóa đại chúng
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích tổng hợp: tìm hiểu, thu thập thông tin từ các tài liệu, sách, báo, internet, youtube, có liên quan đến đề tài Từ đó tổng hợp, phân tích trên cơ sở những tư liệu đã thu thập được kèm với các quan điểm cá nhân phù hợp
Phương pháp liên ngành: nghiên cứu bộ phim Harry Potter dưới góc nhìn văn hóa đại chúng và các khía cạnh truyền thông, lịch sử, viễn tưởng, để làm rõ sức ảnh hưởng của bộ phim này đến với đông đảo công chúng
NỘI DUNG
1 Khái quát chung về phim điện ảnh
1.1 Khái niệm về phim điện ảnh
Điện ảnh xuất phát từ tiếng Pháp, thường gọi là “cinema” Điện ảnh là một khái niệm lớn bao gồm các bộ phim tạo bởi những khung hình chuyển động;
Trang 4kỹ thuật ghi lại hình ảnh, âm thanh và ánh sáng để tạo thành một bộ phim; hình thức nghệ thuật liên quanđến việc tạo ra các bộ phim Điện ảnh còn được hiểu là ngành công nghiệp và thương mại liên quan đến các công đoạn làm phim, quảng bá hình ảnh và phân phối phim ảnh trên sóng truyền hình đến với khán giả
Phim điện ảnh hay còn có tên gọi khác là phim lẻ, phim nhựa; nói một cách
dễ hiểu và thường gọi nhất thì nó chính là phim chiếu rạp Như tên gọi của
nó thì các bộ phim này sản xuất ra sẽ được bán vé và chiếu tại các rạp chiếu phim trước tiên, trên những màn ảnh khổng lồ nhằm phân biệt với các loại phim khác như video sử dụng băng đĩa và phim truyền hình thường vó phí tổn thấp và đơn giản hơn Thường phim điện ảnh là phim truyện, có nội dung nhất quán và cốt truyện rõ ràng, khác với phim tài liệu hay là phim chiếu nhiều kỳ như phim bộ
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của phim điện ảnh thế giới
Theo sách Kỷ lục Guinness thì cuốn phim ghi lại hình ảnh chuyển động đầu tiên còn được biết tới ngày nay là đoạn phim Roundhay Garden Scene được quay với tốc độ 12 khung hình trên giây tại Leeds, Anh năm 1888 Đây là thử nghiệm của nhà phát minh người Pháp Louis Le Prince Sau đó 5 năm, năm 1893, tại Hội chợ thế giới tổ chức tại Chicago, Hoa Kỳ, Thomas
Edison đã giới thiệu với công chúng hai phát minh mang tính đột phá
là Kinetograph, một dạng máy ghi lại hình chuyển động, và Kinetoscope, một thiết bị bao gồm các cuộn phim celluloid (phát minh của William
Kennedy Laurie Dickson, kỹ sư trưởng trong phòng thí nghiệm của Edison) được quay bằng một động cơ, người xem khi ghé mắt vào một kính lúp sẽ nhìn thấy các hình ảnh chuyển động nhờ sự chiếu sáng của một ngọn đèn phía sau các cuộn phim Tuy vậy Edison có lẽ chỉ coi phát minh quan trọng này là một thiết bị giải trí đơn giản, ông không tiếp tục phát triển nó và bỏ lỡ
cơ hội lịch sử trở thành cha đẻ của ngành điện ảnh
Năm 1895 tại Lyon, Pháp, anh em Auguste và Louis Lumière đã phát minh
ra máy chiếu phim, một thiết bị ba trong một bao gồm máy quay, bộ phận in tráng và máy phóng hình Khán giả tham dự buổi chiếu được xem một chuỗi chừng 10 đoạn phim ngắn quay cảnh sinh hoạt thường ngày Trong số này
có bộ phim mà về sau trở nên nổi tiếng La Sortie de l'usine Lumière à
Lyon (Buổi tan ca của nhà máy Lumière ở Lyon, ghi lại cảnh các công nhân rời khỏi nhà máy của nhà Lumière ở Lyon Buổi chiếu này được coi là ngày
Trang 5khai sinh của điện ảnh cả với tư cách một môn nghệ thuật - nghệ thuật thứ bảy, cả với tư cách một ngành công nghiệp - công nghiệp điện ảnh Một thời gian ngắn sau đó, các phương tiện chiếu hình chuyển động khác cũng liên tục được phát minh Điện ảnh nhanh chóng trở thành một thứ giải trí mới lạ
và quầy chiếu phim trở thành một gian hàng không thể thiếu tại các hội chợ lớn
Kỷ nguyên phim câm
Ngay từ thời kì đầu, các nhà phát minh và các nhà điện ảnh đã cố gắng đồng
bộ hóa hình ảnh và âm thanh nhưng cho đến cuối thập niên 1920, không giải pháp kỹ thuật nào thực sự có hiệu quả trong việc thu để sau đó phát đồng thời cả hình ảnh và âm thanh Vì vậy trong suốt 30 năm, các bộ phim ra đời không hề có tiếng động và chúng thường được gọi là phim câm Để minh họa cho các bộ phim này, người ta phải sử dụng các dàn nhạc hoặc các nghệ
sĩ tạo tiếng động trực tiếp tại nơi chiếu Một cách khác là sử dụng
các intertitle (bảng dẫn chuyện hoặc ghi thoại) chèn vào giữa các cảnh phim
Phim có tiếng
Năm 1926, hãng phim Warner Bros của Mỹ giới thiệu hệ
thống Vitaphone cho phép gắn kèm âm thanh vào một số đoạn phim ngắn Cuối năm 1927, hãng này cho ra đời bộ phim The Jazz Singer (Ca sĩ nhạc Jazz), bộ phim điện ảnh đầu tiên có những đoạn thoại (gồm cả hát) được đồng bộ hóa với hình ảnh Đây được coi là bộ phim "có tiếng" đầu tiên của lịch sử điện ảnh
Cho đến cuối thập niên 1920, hầu như tất cả các bộ phim của Hollywood đều đã có tiếng Âm thanh nhanh chóng giúp các bộ phim trở nên hấp dẫn và lôi cuốn khán giả hơn, đồng thời cũng đưa các hãng phim nhỏ tới chỗ phải đóng cửa vì không đủ vốn chi phí cho hệ thống thu âm cho các bộ phim Âm thanh đã khiến quá trình sản xuất phim phải thay đổi về cơ bản, phần thoại trong các kịch bản phim được trau chuốt hơn, các diễn viên cũng phải làm quen với việc vừa diễn xuất hình thể vừa đọc thoại, dẫn đến nhiều ngôi sao của thời kì phim câm phải chấm dứt sự nghiệp vì không thể thay đổi kịp với
xu thế này
Phim màu ra đời
Để đưa màu sắc lên màn ảnh một cách chân thực nhất, con người đã phải trải qua một quá trình dài, thử nghiệm nhiều kỹ thuật khác nhau trong lúc ghi
Trang 6hình Trong đó, nổi tiếng nhất là Technicolor ba dải màu – quá trình in phim màu được phát minh vào năm 1916
Kỹ thuật này liên quan tới việc chụp các màu sắc rực rỡ, sắt nét rồi kết hợp chúng trong phim âm bản Bộ phim đầu tiên sử dụng công nghệ này là
Becky Sharp – ra mắt vào năm 1935
Bộ phim hoạt hình dài đầu tiên
Walt Disney đã trở nên nổi tiếng toàn Hollywood sau khi ông sáng tạo và cho ra mắt loạt phim ngắn về chú chuột Mickey Nhưng vào năm 1937, Walt Disney đã “đánh cược” một canh bạc lớn với việc phát hành tác phẩm hoạt hình đầu tiên trên màn ảnh rộng với tựa đề Snow White and the Seven
Dwarfs
Cảnh phim 3D đầu tiên
Năm 1953, bộ phim kinh dị House of Wax ra mắt và trở thành tác phẩm đầu tiên trong làn sóng phim có định dạng 3D Tuy nhiên, kĩ thuật 3D trong phim vẫn còn rất hạn chế và chủ yếu được “thổi phồng” quá mức bởi các chiến dịch quảng cáo
Live-action kết hợp với phim hoạt hình
Có rất nhiều bộ phim hòa trộn hai thể loại phim do người đóng với các nhân vật hoạt hình 2D vẽ tay Nhưng không bộ phim nào có thể làm được điều này một cách hoàn hảo như bộ phim Mary Poppins năm 1964
Trong phiên bản remake năm 2018, những thước phim kinh điển này cũng
sẽ được tái hiện lại Nhưng với trình độ kỹ thuật và công nghệ hạn chế của thời kì đó, những gì được các bậc tiền nhân làm ra vẫn thật sự đáng ngưỡng
mộ
Định nghĩa “Blockuster” ra đời
Tác phẩm đầu tiên, giới thiệu cho công chúng khái niệm “phim bom tấn” cũng như khai sinh ra “mùa phim hè” không ai khác chính là Jaws (1975) của đạo diễn Steven Spielberg Ở tuổi 29, Spielberg đã quy tụ dàn diễn viên tên tuổi, cùng với một con cá mập máy hù dọa khán giả sợ chết khiếp và bắt đầu cho một cuộc cách mạng mới ở Hollywood
Khám phá thế giới bên trong máy vi tính
Trang 7Năm 1982, Disney đã cho ra mắt bộ phim Tron nói về những con người bị mắc kẹt và phải tìm cách sinh tồn trong thế giới ảo Phim gặp thất bại trong doanh thu phòng vé nhưng lại trở thành biểu tượng điện ảnh nhờ phong cách hình ảnh đáng kinh ngạc Tron cũng là phim tiên phong trong việc sử dụng CGI – công nghệ cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển của phim ảnh sau này
Pixar làm thay đổi thế giới hoạt hình
Chuyện xảy ra vào năm 1995, Pixar kết hợp với Disney cho ra mắt Toy Story – phim hoạt hình 3D đầu tiên Vài năm sau đó, phim hoạt hình 3D được thực hiện bởi máy tính (gần như) đã thay thế hoạt hình vẽ tay để trở thành tiêu chuẩn phổ biến trong dòng phim hoạt hình tại Mỹ lẫn thế giới
Sự ra mắt của công nghệ Motion-Capture
Final Fantasy: The Spirits Within (2001) là phim hoạt hình đầu tiên sử dụng công nghệ motion-capture (kỹ thuật bắt chuyển động của diễn viên và tái hiện lại thành các nhân vật giả tưởng bằng máy tính) Công nghệ này sau đó
đã trở thành một phần quan trọng trong việc sản xuất các phim bom tấn đương đại
Kỹ thuật số hóa phim ảnh
Star Wars: Episode II - Attack of the Clones là một bộ phim thảm hại trong mắt nhiều khán giả Vậy nên nhiều người cũng quên mất sự thật, đây là tác phẩm điện ảnh đầu tiên được ghi hình toàn bộ bởi máy quay kỹ thuật số Không những thế, Iron Man còn là khởi đầu cho làn sóng phim siêu anh hùng đang cực kỳ ăn khách trong hơn 10 năm qua
1.3 Phân biệt kịch bản phim điện ảnh và kịch bản phim truyền hình 1.3.1 Điểm giống nhau
Kịch bản phim truyền hình hay điện ảnh đều có những đặc trưng riêng
nhưng chúng đều mang chung một loại ngôn ngữ, cùng một loại tư duy điện ảnh Dù khác nhau ở thời lượng và địa điểm công chiếu, kịch bản phim truyền hình và điện ảnh đều dùng chung một loại ngôn ngữ: ngôn ngữ điện ảnh Khác hẳn với ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ điện ảnh khá ngắn gọn, hình ảnh và hành động cần được thể hiện trọn vẹn trong từng kịch bản phim
Trang 81.3.2 Điểm khác nhau
Hình ảnh điện ảnh trên phim nhựa (sau khi quá trình xử lý kỹ thuật hoá chất)
là những hình ảnh mang tính quang học thuần tuý và sự truyền đạt chất lượng cao độ trung thực và sắc nét gần giống như cuộc sống
Hình ảnh truyền hình chỉ là những hình ảnh được xử lý, tái tạo thông qua các tài liệu điện tử mà khả năng truyền đạt về độ sắc nét, trung thực về màu sắc còn kém so với điện ảnh
Chính vì lý do đó nên hình ảnh truyền hình kém rõ ràng trong những cảnh quay xa, những vật nhỏ khó nhận ra hoặc không tìm thấy được, nhất là
những hình ảnh truyền hình lại được xem trong phạm vi “màn ảnh nhỏ gia đình” Ngoài ra độ đậm nhạt, tương phản của truyền hình cũng còn kém xa
so với điện ảnh Muốn khắc phục điểm yếu đó truyền hình không còn cách khác phải sử dụng phương pháp phóng to lên như là một nghệ thuật quan trọng hướng người xem tới những điểm chủ yếu, hiểu được sự việc đang diễn ra Bởi vậy, người ta quan niệm truyền hình là nghệ thuật cận cảnh Khái niệm cận cảnh trong truyền hình nên được hiểu một cách linh hoạt theo kiểu “những hình ảnh phóng to” chứ không nhất quán là cận cảnh điện ảnh, những hình ảnh ở dưới vai người trở lên
Một tác phẩm điện ảnh là một bộ phim kể bằng hình ảnh Các cảnh, các trường đoạn không những phải được kết hợp logic, bám sát kịch bản phân cảnh mà còn phải thể hiện được tính nghệ thuật tới mức cao nhất bằng việc
sử dụng các cách quay chủ quan, khách quan kết hợp với các xảo thuật trong điện ảnh Những bộ phim điện ảnh thì luôn được các nhà sản xuất đầu tư với mức chi phí khủng nên kỹ xảo cũng sẽ lung linh, đẹp mắt hơn trong từng thước phim
2 Giới thiệu nội dung loạt phim điện ảnh Harry Potter
2.1 Giới thiệu về phim Harry Potter
Bộ phim Harry Potter là loạt phim điện ảnh hợp tác giữa Anh và Hoa Kỳ, dựa trên bộ truyện tiểu thuyết Harry Potter của nữ nhà văn người Anh
J.K.Rowling Loạt phim giả tưởng được sản xuất bởi hang Warner Bros Pictures, bao gồm 8 phần (tập truyện cuối được chia làm 2 phần), bắt đầu công chiếu phần 1 Harry Potter và Hòn đá phù thủy vào năm 2001 và kết thúc với Harry Potter và Bảo bối tử thần – phần 2 vào năm 2011 Với kinh phí đầu tư khủng lên đến $1,155,000,000, sau khi công chiếu 8 phần, bộ
Trang 9phim thu về được $7,706,147,978 và trở thành loạt phim có doanh thu cao nhất mọi thời đại
Trong Harry Potter, J.K.Rowling miêu tả về quyền năng của những cây đũa thần trong thế giới phép thuật Trong cuộc sống, bà quan niệm “cây đũa phép” nằm trong tay mỗi người, ai cũng có khả năng tạo ra phép màu nếu biết khai thác sức mạnh nội tại của chính mình
2.2 Khái quát nội dung phim Harry Potter
Harry Potter là một cậu bé bất hạnh, thiếu tình yêu thương gia đình từ nhỏ,
và phải sống dưới sự ghẻ lạnh và cay nghiệt của dì dượng Dursley - những người rất ghét phép thuật và những chuyện kỳ bí Khi tròn 11 tuổi, Harry được một người lai khổng lồ tên là Rubeus Hagrid thông báo cậu được nhập học tại trường Hogwarts - một ngôi trường danh tiếng chuyên đào tạo phù thủy và pháp sư Lúc này, Harry mới biết cậu là một phù thủy Qua lời kể của Hagrid, cậu biết được một phần sự thật về cái chết của cha mẹ cậu - họ
bị Chúa tể hắc ám Voldemort giết chết chứ không phải bị chết bởi tai nạn xe hơi như câu chuyện bịa đặt của dì dượng Dursley Ngoài ra, cậu cũng đã hiểu được nguyên nhân sự xuất hiện cái vết thẹo hình tia chớp trên trán cậu -
mà theo lời Hagrid, đó là dấu vết còn lại sau khi Voldemort dùng lời nguyền Giết chóc để sát hại Harry nhưng bất thành, còn hắn thì bỗng dưng biến mất,
và không ai biết hắn đã thực sự chết hay chưa
Trên chuyến tàu tốc hành Hogwarts, Harry làm quen với một cậu bé phù thủy có dòng máu phù thủy thuần chủng, mặt đầy tàn nhang nhưng rất thân thiện - Ronald Weasley và một cô bé có xuất thân từ Muggle, rất thông minh nhưng đầy kiêu hãnh - Hermione Granger Sau buổi phân loại với Chiếc nón phân loại kì bí, cả ba đều được xếp vào nhà Gryffindor Và họ đã trở thành bạn bè thân thiết sau khi cùng nhau vượt qua con Qủy khổng lồ trong lễ hội
Ma
Suốt những năm học sau đó, Ron và Hermione đã luôn sát cánh với Harry trong những cuộc phiêu lưu vô cùng mạo hiểm nhưng cũng rất kỳ thú, nhờ
đó bộ ba đã khám phá ra nhiều bí mật trong thế giới phù thủy Cùng với đó, cuộc chiến chống lại chúa tể hắc ám Voldemort và tay chân của hắn ngày càng ảm đạm, u ám và ác liệt hơn
Bộ phim gồm 7 phần:
Trang 10• Harry Potter và Hòn đá phù thủy (Harry Potter and the Philosopher's Stone)
• Harry Potter và Phòng chứa bí mật (Harry Potter and the Chamber of Secrets)
• Harry Potter và Tên tù nhân ngục Azkaban (Harry Potter and the Prisoner of Azkaban)
• Harry Potter và Chiếc cốc lửa (Harry Potter and the Goblet of Fire)
• Harry Potter và Mật lệnh phượng hoàng (Harry Potter and the Order
of the Phoenix)
• Harry Potter và Hoàng tử lai (Harry Potter and the Half-Blood
Prince)
• Harry Potter và Bảo bối tử thần (Harry Potter and the Deathly
Hallows)
3 Ý nghĩa phim Harry Potter
3.1 Tính giải trí
Phim mang lại cho người xem một cảm giác ấm áp về tình thân, gia đình, việc yêu thương, quan tâm nhau ở cách biểu lộ khác; xen lẫn vào đó là các tình tiết chiến đấu gay cấn với các thế lực hắc ám; từ đó rút ra được nhiều bài học đắt giá như cái thiện sẽ chiến thắng cái ác, không có gì quý hơn gia đình, Tất cả đã tạo nên một chuỗi phim ăn khách nổi tiếng, gây tiếng vang đến tận 20 năm sau, trở thành một trong những lựa chọn tối ưu của những phút giây giải trí quây quần cùng gia đình, bạn bè
3.2 Tính đại chúng
Không chỉ là tác phẩm văn học xuất sắc, Harry Potter có ảnh hưởng tích cực đến văn hóa đọc và lối sống của giới trẻ khắp nơi trên thế giới Khảo sát của Renaissance Learning (Mỹ) cho thấy Harry Potter là cuốn sách được trẻ em